Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Triển vọng Việt Nam số cuối tháng 10/2019

Được đăng vào

Triển vọng Việt Nam số cuối tháng 10/2019

Kinh tế Việt Nam

 Kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ từ đầu năm tăng 26,6% so với cùng kỳ khiến hoạt động xuất khẩu có kết quả tích cực, ước tính đạt 217 tỷ USD, tăng 7,4%, thặng dư thương mại đạt 7 tỷ USD

 Sản xuất công nghiệp tăng trưởng 10,8% so với cùng kỳ trong 10 tháng 2019 do sản xuất điện thoại di động và sản xuất vải tăng trưởng hai con số

 Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam trong tháng 10 tiếp tục giảm tháng thứ 3 liên tiếp xuống mức 50 điểm – chấm dứt chuỗi 46 tháng mở rộng liên tục của lĩnh vực sản xuất

 FDI đăng ký trong 10T tăng 4,3% yoy lên mức 29,1 tỷ USD, FDI giải ngân đạt 16,2 tỷ USD (+7,4% yoy).

 Mặc dù chịu áp lực tăng giá từ một số mặt hàng và dịch vụ, doanh thu bán lẻ tăng trưởng 13% trong tháng 10, đạt 426 nghìn tỷ đồng.

 Thu NSNN 10 tháng đầu năm đã hoàn thành 80% dự toán nhờ doanh thu từ hoạt động thương mại vượt kế hoạch

 Giá thịt lợn tăng mạnh 7,85% so với tháng trước do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi khiến lạm phát tháng 10 tăng 0,59%.

 Thặng dư thương mại lớn và dòng vốn FDI dồi dào giúp tỷ giá giao dịch ổn định quanh mốc 23.200 từ tháng 7 tới nay

Hoạt động thương mại

Kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ từ đầu năm tăng 26,6% so với cùng kỳ khiến hoạt động xuất khẩu có kết quả tích cực, ước tính đạt 217 tỷ USD, tăng 7,4% Kim ngạch xuất khẩu 10T 2019 ước tính đạt 217 tỷ USD (+7,4% so với cùng kỳ), trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng gần 70%, tương đương với 150,4 tỷ USD.

Hoạt động xuất khẩu kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm do mùa mua sắm và kỳ nghỉ lễ của Mỹ, EU và Trung Quốc sắp bắt đầu – 3 thị trường xuất khẩu chính chiếm tới 54% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Xuất khẩu điện thoại và linh kiện chiếm tỷ trọng 1/5 tổng giá trị xuất khẩu, đạt 43,5 tỷ USD, tăng trưởng 5% so với cùng kỳ. Xuất khẩu thiết bị điện tử, máy tính và linh kiện đạt 28,8 tỷ USD (+17,1%), xuất khẩu quần áo đạt 27,4 tỷ USD (+8,7%) và giày dép đạt 14,6 tỷ USD (+11,2%). Trong 10 tháng 2019, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, giá trị xuất khẩu đạt 49,9 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ 2018, tiếp đó là thị trường châu Âu đạt 34,2 tỷ USD (-1,9% yoy) và xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 32,5 tỷ USD (chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu). Nhập khẩu 10 tháng 2019 ước tính đạt 210 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó 91% tổng kim ngạch là nhập khẩu hàng hóa tư liệu sản xuất (191,3 tỷ USD).

Do tăng trưởng kinh tế Việt Nam tích cực từ đầu năm, nhu cầu cho tư liệu và thiết bị sản xuất cũng tăng cao hơn. Thặng dư thương mại trong 10 tháng khá lớn, ước tính đạt 7 tỷ USD giúp NHNN dễ dàng mua ngoại tệ và nâng cao dự trữ ngoại hối để ổn định tỷ giá và giảm thiểu tác động của đồng USD đang mạnh lên và sự mất giá nhanh của đồng nhân dân tệ trong thời gian gần đây

1

2

Đọc thêm : Chiến lược đầu tư tháng 11/2019

3

Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8% trong 10T 2019 nhờ sản xuất điện thoại và sản xuất vải tăng trưởng hai con số

Do chiến tranh thương mại Mỹ Trung chưa có dấu hiệu kết thúc, xu hướng dịch chuyển các nhà máy sản xuất tại Trung Quốc tới các quốc gia lân cận có chi phí thấp bao gồm Việt Nam đang tăng nhanh. Nhà đầu tư Trung Quốc và nhà đầu tư nước ngoài khác đang đầu tư mạnh vào Việt Nam xây dựng nhà máy để giảm thiểu tác động của CTTM và tránh thuế quan của Mỹ. Năng lực sản xuất của Việt Nam mở rộng khá nhanh, trong 10T2019, sản xuất công nghiệp tăng trưởng 9,5% so với cùng kỳ, trong đó lĩnh vực chế biến chế tạo tăng 10,8% yoy, mức tăng 2 con số liên tiếp trong 16 tháng.

Các sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh có mức gia tăng sản xuất tốt trong 10T do Mỹ tăng thuế lên các sản phẩm tương tự có xuất xứ từ Trung Quốc như sản xuất vải (+11,2% yoy), thiết bị điện tử, máy tính (+7,5% yoy), điện thoại di động (+13%), sắt thép (+42,8%) và xăng dầu (+33,2%).

Các công ty đa quốc gia sẽ tiếp tục đa dạng hóa chuỗi cung ứng tại các quốc gia châu Á và Việt Nam sẽ tiếp tục hưởng lợi từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung kéo dài. Ngoài lợi thế về chi phí lao động thấp, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cần tập trung cải thiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, cải thiện cở sở hạ tầng, gia tăng công suất cảng để hỗ trợ cho sự phát triển của lĩnh vực sản xuất.

Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam trong tháng 10 tiếp tục giảm tháng thứ 3 liên tiếp xuống mức 50 điểm – chấm dứt chuỗi 46 tháng mở rộng liên tục của lĩnh vực sản xuất

Theo IHS Markit, chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam trong tháng 10 giảm về mức trung lập 50 điểm từ mức 50,5 điểm trong tháng 9 do tăng trưởng đơn hàng mới tiếp tục chậm lại và sản lượng sản xuất giảm. Đà mở rộng liên tục trong 46 tháng của lĩnh vực sản xuất đã chấm dứt. Khối lượng đơn hàng mới chỉ tăng nhẹ, sản lượng thu hẹp khiến doanh nghiệp phải cắt giảm nhân sự. Chi phí nguyên vật liệu đầu vào có xu hướng tăng nhanh, lên mức cao nhất trong 5 tháng, do vậy, doanh nghiệp sản xuất bắt đầu tăng giá bán thành phẩm để bù đắp cho mức tăng chi phí. Tuy diễn biến không tích cực, niềm tin của doanh nghiệp đã hồi phục trong tháng 10, nhà quản lý kỳ vọng thị trường vẫn hoạt động sản xuất sẽ tăng trưởng tốt trong tương lai.

4

5

6

Đầu tư

FDI đăng ký trong 10T tăng 4,3% yoy lên mức 29,1 tỷ USD, FDI giải ngân đạt 16,2 tỷ USD (+7,4% yoy).

Theo Bộ KH&ĐT, đến ngày 20 tháng 10 năm 2019, tổng vốn FDI đăng ký ước tính đạt 29,11 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Cả nước có 3.094 dự án cấp mới với tổng số vốn đăng ký là 12,83 tỷ USD, giảm 14,6% so với cùng kỳ. Mức sụt giảm số vốn đăng ký cấp mới so với cùng kỳ 2018 là do trong năm 2018 có một số dự án lớn như dự án Thành phố thông minh với số vốn đăng ký 4,14 tỷ USD tại Đông Anh, Hà Nội và dự án Polypropylene và kho ngầm dầu hoá lỏng 1,2 tỷ USD tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nếu không kể các dự án quy mô lớn trên 1 tỷ USD, vốn đăng ký cấp mới trong 10T 2019 vẫn tăng mạnh 32,5% so với cùng kỳ.

Vốn FDI thực hiện trong 10 tháng đạt 16,2 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ. Trong đó, dòng vốn vào ngành công nghiệp sản xuất chế biến chế tạo đứng đầu với 18,8 tỷ USD, tương đương với 68% tổng số vốn FDI đăng ký. Nhà đầu tư từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan dẫn đầu dòng vốn FDI vào Việt Nam trong 10T 2019 với tổng vốn đăng ký đạt 10,8 tỷ USD, chiếm 37,3%.

Đọc thêm : Báo cáo Vĩ Mô tháng 6-2019

Tiêu dùng

Mặc dù chịu áp lực tăng giá từ một số mặt hàng và dịch vụ, doanh thu bán lẻ tăng trưởng 13% trong tháng 10, đạt 426 nghìn tỷ đồng.

Theo TCTK, doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng 10 tháng đầu năm đạt 426 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 13,3% so với cùng kỳ dù giá thành một số mặt hàng và dịch vụ có xu hướng tăng trong thời gian gần đây. Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 323 nghìn tỷ đồng (+14,7%), trong khi doanh thu từ dịch vụ ăn uống đạt 49 nghìn tỷ (+9,2%) và doanh thu từ dịch vụ du lịch là 3,9 nghìn tỷ đồng (+9,5%).

Nhìn chung trong 10 tháng 2019, tổng doanh thu bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng 11,8% so với cùng kỳ lên mức 4,06 triệu tỷ đồng. Nhu cầu cho hàng hoá và dịch vụ có xu hướng tăng trong thời điểm cuối năm do tính mùa vụ, vì vậy chúng tôi kỳ vọng doanh thu bán lẻ sẽ tăng trưởng tốt trong 2 tháng tới.

Chi tiêu của chính phủ

Tiến độ thu NSNN 10T 2019 khá tốt, bằng 80% dự toán nhờ hoạt động thương mại tăng trưởng tích cực

10 tháng đầu năm, tổng thu NSNN đạt 1,13 triệu tỷ đồng (tính đến ngày 15/10), bằng 80% dự toán. Tổng chi ước tính là 1,09 triệu tỷ dồng, tương đương với 67% dự toán.

Thu ngân sách đạt tiến độ khá tốt trong 10 tháng, do doanh thu từ hoạt động thương mại vượt kỳ vọng và xuất khẩu sang Mỹ tăng mạnh 27%; thu nội địa đạt 908 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4% dự toán, doanh thu từ dầu thô đạt 45 nghìn tỷ đông, hoàn thành 101% kế hoạch, doanh thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 177 nghìn tỷ đồng, bằng 93,5% kế hoạch năm 2019.

7

8

Chỉ báo vĩ mô

Giá thịt lợn tăng mạnh 7,85% so với tháng trước do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi khiến lạm phát tháng 10 tăng 0,59%.

Lạm phát tháng 10 tăng 0,59% so với tháng trước, lạm phát 10 tháng tăng 2,48% do giá thịt lợn tăng 7,85% MoM và giá dịch vụ giáo dục cũng điều chỉnh tăng. Dịch tả lợn châu Phi khiến tổng đàn của Việt Nam giảm 20%, giá thịt lợn tăng cao do nguồn cung giảm mạnh khiến nhóm thực phẩm và dịch vụ ăn uống tăng 1,04% so với tháng trước. Chỉ số xăng dầu tăng 2,2% khiến nhóm vận tải tăng 0,99% MoM, nhóm này chiếm 9,4% tỷ trọng tính chỉ số giá tiêu dùng. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,53% do chỉ số giá gas tăng 7,62% kể từ đầu tháng 10. Nhóm giáo dục tăng 0,19% vì mới đây một số tỉnh thành đã điều chỉnh tăng học phí trong năm học 2019-2020.

Lạm phát cơ bản tháng 10 tăng 0,15% MoM và 10T 2019 tăng 1,92% so với cùng kỳ.

9

Thặng dư thương mại lớn và dòng vốn FDI dồi dào giúp tỷ giá giao dịch ổn định quanh mốc 23.200 từ tháng 7 tới nay

Tỷ giá VND/USD liên ngân hàng và trên thị trường tư do đã đi ngang trong suốt 4 tháng qua. Nguyên nhân là do trong 10 tháng 2019, Việt Nam có thặng dư thương mại lớn đạt 7 tỷ USD và nguồn vốn FDI dồi dào. Bên cạnh đó, chính phủ Việt Nam đang nỗ lực trong việc tránh gây xung đột với Hoa Kỳ bằng việc giữ không để đồng VND giảm giá đáng kể so với đồng USD, khi Nhà Trắng đe doạ đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ.

10

11

12

13

14

15

Đọc thêm : Báo cáo ngành trang sức Vàng - Tương lai xán lạn

mbs 

 

 

hotline