Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư 2016 - Kiên nhẫn chờ cơ hội

Được đăng vào

Chiến lược đầu tư 2016 - Kiên nhẫn chờ cơ hội

TRIỂN VỌNG VĨ MÔ 2016

■ Kinh tế thế giới 2016 được dự báo tăng trưởng khả quan hơn năm 2015 nhờ chính sách tiền tệ tích cực từ khu vực đồng Euro, Nhật Bản… dù Fed đã quyết định tăng lãi suất trở lại sau gần một thập kỷ duy trì ở mức cận 0% và sự phục hồi của một số nền kinh tế đang phát triển đã gặp nhiều khó khăn trong năm 2015.

■ Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan và có thể đạt mức 6,8% trong năm 2016 nhờ chính sách tiền tệ hỗ trợ - lãi suất ổn định, thu hút dòng vốn FDI, tổng cầu gia tăng nhờ lạm phát thấp, cùng đó là nhiều Hiệp định FTA chính thức có hiệu lực như Việt Nam – Hàn Quốc, Cộng động kinh tế ASEAN (AEC), đặc biệt là sự kỳ vọng vào TPP có thể chính thức được Quốc Hội của các nước thành viên thông qua.

■ Rủi ro tỷ giá: Fed nâng lãi suất cộng hưởng với tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại dẫn đến nguy cơ đồng Nhân dân tệ (NDT) có thể sẽ tiếp tục mất giá gây áp lực lên kinh tế toàn cầu và tỷ giá VND/USD.

BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI.  Kinh tế toàn cầu dự kiến chỉ đạt mức 3,1% năm 2015, giảm 0,3 điểm phần trăm so với mức 3,4% năm 2014, nguyên nhân là do sự hồi phục yếu của các nước phát triển và tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ cải thiện trong năm 2016 ở mức 3,6%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với năm 2015 nhờ vào sự tiếp tục đà hồi phục ở các nước phát triển nhờ vào chính sách tiền tệ thuận lợi ở Châu Âu và Nhật Bản và sự hồi phục ở các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển sẽ bù đắp cho sự tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc.

Tăng trƣởng kinh tế toàn cầu .  Năm 2015, kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi giá cả hàng hóa sụt giảm mạnh. Đặc biệt là sự biến động của giá dầu thế giới giảm mạnh từ mức trên 100 USD/thùng xuống chỉ còn trên 36 USD/thùng và vẫn tiếp tục xu hướng giảm. Điều này đã tác động không nhỏ tới các nước phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu mỏ. Sự cộng hưởng từ sụt giảm nhu cầu tiêu thụ dầu của Trung Quốc, sự gia tăng nguồn cung từ dầu đá phiến tại Mỹ và việc Mỹ gỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với Iran khiến nguồn cung càng gia tăng trong khi nhu cầu không được cải thiện đã đẩy giá dầu rơi xuống mức thấp nhất kể từ năm 2009.

1

Tuy nhiên, với những chính sách tiền tệ thuận lợi ở khu vực đồng Euro và Nhật Bản đã phần nào hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Khu vực đồng Euro chiếm tỷ trọng 16% GDP toàn cầu, tiếp tục đà hồi phục từ mức tăng trưởng âm 0,8% năm 2012 và âm 0,3% năm 2013, sang mức tăng trưởng dương 0,9% năm 2014, dự đoán tăng 1,5% trong năm 2015 và tiếp tục tăng trên 1,6% trong năm 2016. Đóng góp cho sự tăng trường của kinh tế khu vực đồng Euro là sự hồi phục của kinh tế Pháp và Ý. Bên cạnh đó, Nhật bản tiếp tục hồi phục từ mức tăng trưởng âm 0,1% năm 2014 tăng lên dương 0,6% năm 2015 và có thể đạt mức 1% cho năm 2016.

Mặc dù Mỹ đã bắt đầu thực hiện bình thường hóa chính sách tiền tệ sau gần một thập kỷ áp dụng chính sách siêu nới lỏng, nhưng nền kinh tế Mỹ đã phục hồi vững chắc từ mức tăng trưởng GDP 2,4% năm 2014 lên mức 2,6% năm 2015 và dự báo sẽ đạt mức 2,8% trong năm 2016 cùng tỷ lệ thất nghiệp có tín hiệu giảm rõ rệt xuống mức 5% năm 2015. Lạm phát của Mỹ vẫn ở mức thấp, nhờ giá dầu thấp giúp các hộ gia đình tiết kiệm khoản chi tiêu cho năng lượng và gia tăng chi tiêu cho tiêu dùng.

Bên cạnh các tín hiệu khả quan từ các nền kinh tế phát triển thì sự hồi phục của một số nước đang phát triển cũng sẽ đóng góp cho triển vọng kinh tế toàn cầu. Theo nhận định của IMF, các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn trong năm 2015 với mức tăng trưởng thấp hoặc thậm chí âm, sẽ bớt căng thẳng hơn trong năm 2016 và do đó tác động ít hơn tới tăng trưởng toàn cầu.

2

Áp lực từ động thái nâng lãi suất của FED và sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc, cùng với đó là khả năng Trung Quốc có thể tiếp tục giảm giá trị đồng NDT sẽ tác động tiêu cực tới nhiều quốc gia trên thế giới, do đó giá cả hàng hóa cơ bản tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực . Xu hướng đồng USD mạnh hơn nhiều khả năng sẽ kéo theo các dòng vốn chảy ra khỏi các thị trường mới nổi.

Lạm phát toàn cầu

Lạm phát toàn cầu giảm chủ yếu nhờ vào sự sụt giảm của giá dầu và các hàng hóa cơ bản khác. Tuy nhiên, lạm phát không bao gồm lương thực và năng lượng vẫn duy trì ổn định. Sự giảm giá của các mặt hàng cơ bản ở các nước đang phát triển cũng góp phần làm giảm lạm phát toàn cầu, nhưng sự mất giá mạnh của đồng nội tệ đã bù trừ cho sự giảm lạm phát này. Như vậy, lạm phát ở các nước đã phát triền giảm được bù trừ bởi lạm phát tăng ở các nước đang phát triển giúp lạm phát toàn cầu duy trì ổn định ở mức thấp.

3

Biểu đồ CPI và chỉ số giá của một số mặt hàng chủ yếu, như Dầu, Lương thực và Kim loại cho thấy chỉ số giá của các mặt hàng này vẫn tiếp tục xu hướng giảm và chạm đáy kể từ năm 2009. Điều này đã khiến chỉ số giá tiêu dùng giảm mạnh. Đặc biệt là sự biến động của giá dầu có tác động đáng kể tới chỉ số giá tiêu dụng (biểu đồ CPI và biến động giá dầu thế giới). Giá dầu giảm mạnh vào nửa cuối năm 2015 chủ yếu do dư thừa nguồn cung dự kiến ở các nước thành viên của OPEC, Mỹ, Nga và Iran.

4

Sự cân đối cung cầu dầu mỏ sẽ cần nhiều thời gian, do nguồn cung tiếp tục tăng và nhu cầu tiếp tục giảm và do đó giá dầu nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp trong năm 2016. Giá dầu giảm sẽ hỗ trợ cho các nước nhập khẩu, nhưng tác động tiêu cực đến các nước xuất khẩu và do đó tăng trưởng kinh tế giữa các nước sẽ tiếp tục bị phân hóa. Tuy nhiên, điểm tích cực ở chỗ CPI tiếp tục duy trì ở mức thấp nhưng không phải là tình trạng giảm phát. Điều này tác động đáng kể tới chi tiết của các hộ gia đình, giảm chi tiêu cho năng lượng và tăng chi tiêu cho tiêu dùng khác.

Như vậy, triển vọng kinh tế toàn cầu tăng trưởng ổn định nhờ sự tiếp tục hồi phục ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản… sẽ tác động tích cực tới kinh tế Việt Nam trong năm 2016. Đây là các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, các nền kinh tế này phục hồi sẽ là điểm sáng đối với xuất khẩu của Việt Nam trong năm tới.

BỐI CẢNH KINH TẾ VIỆT NAM

Kinh tế Việt Nam 2015 Tăng trưởng kinh tế tiếp tục khởi sắc trong năm 2015. Tính đến hết tháng 9/2015, GDP tăng 6,5%, tốc độ tăng nhanh nhất trong 5 năm trở lại đây.

5

Từ góc độ tổng cung : sự phục hồi của nền kinh tế chủ yếu đến từ ngành công nghiệp & xây dựng và dịch vụ. Tính đến hết quý 3 năm 2015, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 33,09%, tăng trưởng đạt 9,6%, đóng góp tăng 3,12 điểm phần trăm cho GDP. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng 40,52%, tăng trưởng 6,2% và đóng góp 2,38 điểm phần trăm cho GDP. Tuy nhiên, ngành Nông lâm thủy sản đã có gặp nhiều khó khăn, tăng trưởng chỉ đạt mức khiêm tốn 2,08% và đóng góp 0,36 điểm phần trăm cho GDP.

Mặc dù Ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 33,09%, nhưng tăng trưởng khá mạnh và đóng góp gần 50% cho sự tăng trưởng của GDP, trong đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo có vai trò lớn nhất, đóng góp 1,58 điểm phần trăm cho GDP, tăng trưởng đạt 10,15% tính đến hết quý 3 năm 2015 và ngành xây dựng tăng 9%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây.

6

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) có xu hướng suy yếu trong 3 tháng gần đây và giảm xuống mức 49.4 vào tháng 11, do đơn đặt hàng mới giảm, cùng đó là việc hoàn thành các dự án. Tuy nhiên, chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, do đó việc PMI giảm chưa đủ cơ sở để kết luận cho rủi ro tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế Việt Nam.

Từ góc độ tổng cầu : trong số các yếu tố của tổng cầu, chi tiêu cho tiêu dùng vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh, theo đó tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đạt 9,4% trong 11 tháng đầu năm 2015 là mức tăng mạnh nhất trong 5 năm qua. Ngoài ra, dòng vốn FDI vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh, tính chung 11 tháng đầu năm, vốn đăng ký tăng 16,7% và thực hiện tăng 17.9% so với cùng kỳ năm 2014. Cán cân thương mại cũng đã được cải thiện đáng kể trong 2 tháng 10 và 11, xuất siêu quay trở lại đã giúp giảm thâm hụt xuống mức 2,8 tỷ USD, trong khi nhập siêu 9 tháng đầu năm theo tổng cục thống kê lên tới 3.9 tỷ và tác động giảm 3.43 điểm phần trăm trong GDP.

Chính sách tiền tệ hỗ trợ trong bối cảnh giảm lạm phát

Trong bối cảnh giá cả hàng hóa thế giới giảm mạnh, đặc biệt là giá dầu đã giúp CPI giảm xuống mức thấp và chỉ tăng 0,64% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,58% so với tháng 12 năm 2014.

CPI duy trì ở mức thấp do giá dầu giảm mạnh và CPI lõi vẫn duy trì ở mức ổn định 2-3%. Do đó, chưa thể coi là giảm phát và đây là điểm tích cực của nền kinh tế. Như vậy, lạm phát đã giảm đáng kể so với năm 2014 ở mức 4,1% và thấp hơn nhiều so với mức 18,64% năm 2011. Nhờ lạm phát ổn định ở mức thấp, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể tiếp tục áp dụng chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, NHNN đã chủ động giảm lãi suất chiết khấu từ 5% xuống 4,5% và lãi suất tái cấp vốn từ 7% xuống 6,5%.

Với lãi suât cho vay ở mức thấp khoảng 7-13% đã tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng từ mức 5,98% lên 6,5% tính đến hết quý 3 năm 2015. Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu ngành ngân hàng cũng đã cho nhiều tín hiệu tích cực, nhiều ngân hàng yếu kém đã được xử lý thông qua sáp nhập và mua bán, cùng đó là tỷ lệ nợ xấu đã được được đưa về mức dưới 3% theo chỉ đạo của NHNN. Tín dụng tăng trưởng tốt, tính đến cuối tháng 12/2015, tăng trưởng tín dụng đã đạt mức xấp xỉ 18% vượt chỉ tiêu 13-15% do NHNN đề ra

7

Áp lực biến động tỷ giá VND/USD gia tăng

Tuy nhiên, bên cạnh chính sách lãi suất tích cực, tỷ giá hối đoái có phần căng thẳng do biến động lớn trên thị trường tài chính thế giới. Nguyên nhân chính là do sự phá giá của đồng NDT và FED nâng lãi suất khiến đồng đô la mạnh thêm, tác động tiêu cực đến các đồng tiền của các quốc gia mới nổitrong đó có Việt Nam. Trước áp lực tỷ giá, nhiều thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển đã phải phá giá đồng nội tệ, trong đó NHNN Việt Nam đã điều chỉnh tỷ giá ba lần. Như vậy, VND đã mất giá khoảng 5,07%, tỷ giá trần mới là 22.547 VND/USD hiện tại so với mức 21.458 VND/USD vào đầu năm.

8

Bên cạnh đó, cán cân thương mại thâm hụt lần đầu tiên, tính đến hết tháng 11 năm 2015 thâm hụt 2.8 tỷ USD, sau 3 năm khiến thặng dư cán cân thanh toán giảm mạnh. Dự trữ ngoại hối gần như không tăng trong năm 2015, khiến dư địa can thiệp tỷ giá VND/USD của NHNN thêm hạn chế.

Ngân sách căng thẳng, Chính phủ dự kiến tăng mạnh huy động

Thâm hụt ngân sách tiếp tục ở mức cao, gây áp lực lên thị trường trái phiếu. Lợi suất trái phiếu có xu hướng tăng báo hiệu mặt bằng lãi suất đã chạm đáy. Lũy kế đến 15/11 tổng thu NSNN đạt 807.04 nghìn tỷ đồng, bằng 88,6% dự toán, tăng 6,2% so cùng kỳ (cùng kỳ 2014 đạt 97,1% dự toán, tăng 15,5%. Trong đó, thu nội địa, thu từ dầu thô và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu so với dự toán lần lượt đạt 93,7%; 62,8% và 83,3%

9

Mặc dù giá dầu tiếp tục giảm mạnh trong thời gian gần đây khiến thu từ dầu thô giảm, nhưng được bù đắp bởi thu nội địa nên tổng thu ngân sách nhà nước năm 2015 ước đạt 927.5 nghìn tỷ đồng, vượt 1,8% so với dự toán và tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2014.

10

Lợi suất TPCP có xu hướng tăng so với cuối năm 2014, trong khi trong năm 2015-2016, trước áp lực đến hạn thanh toán lượng trái phiếu Chính phủ lên tới 363 ngàn tỷ đồng, mới đây Bộ tài chính đã chính thức đề nghị và được Quốc hội thông qua cho phép phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế và phát hành trong nước đa dạng kỳ hạn để tái cơ cấu danh mục nợ Chính phủ trong năm 2015-2016.

Theo báo cáo của Chính phủ, tổng chi ngân sách nhà nước năm 2016 khoảng 1.273,2 nghìn tỷ đồng, trong khi tổng chi dự kiến là 1.014,5 nghìn tỷ đồng, bội chi ngân sách nhà nước dự kiến 4.95% GDP, tương ứng 254.000 tỷ đồng, tăng 28.000 tỷ đồng so với năm 2015.

Tâm điểm thu hút nhà đầu tƣ quốc tế

Trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Điều này đã và đang thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung cũng như thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam.

Cụ thể, theo số liệu thống kê của Cục đầu tư nước ngoài, từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2015, số lượng dự án đăng ký cấp mới đạt 1855 dự án và tăng thêm đạt 692 dự án, tăng tương ứng lần lượt là 30% và 34,4% so với cùng kỳ 2014 và tăng 89,3% và 70,4% so với cùng kỳ 2012. Về mặt giá trị, vốn đăng ký đạt 20,2 tỷ USD và thực hiện đạt 13,2 tỷ USD, lần lượt tăng 16,7% và 17,9% so với cùng kỳ 2014, so với cùng kỳ 2012, mức tăng trưởng tương ứng đạt 66% và 32%

11

Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khu vực này trong 11 tháng đầu năm 2015 cũng cho thấy tăng trưởng khá tốt so với doanh nghiệp trong nước. Xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI đạt 105 tỷ USD (kể cả dầu thô), tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 43,6 tỷ USD giảm 2,6%.

Mặc dù, kinh tế toàn cầu có nhiều sự biến động, nhưng tốc độ tăng trưởng về dòng vốn FDI và tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này vẫn khá tốt. Bên cạnh đó, nhiều Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước trên thế giới đang mở ra nhiều cơ hội cho giao thương phát triển. Trong năm 2015-2016, nhiều cam kết trong các Hiệp định FTA có hiệu lực như : Xóa bỏ hoàn thuế quan trong khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) ; xóa bỏ thuế quan trong khuôn khổ Hiệp định FTA ASEAN-Australia/New Zeland (AANZFTA) ; Hiệp định FTA ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA)… tiếp tục là đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam và thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói riêng.

Triển vọng kinh tế việt nam 2016

Nhìn chung, năm 2015, kinh tế thế giới có nhiều sự biến động phức tạp từ chính trị đến kinh tế. Tuy nhiên, Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về tăng trưởng GDP, lạm phát giảm, môi trường đầu tư – kinh doanh được cải thiện và nhiều Hiệp định thương mại tự do được thông qua. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp đóng góp chủ yếu cho sự tăng trưởng nền kinh tế. Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam trong 5 năm cũng tăng 19. Các yếu tố này sẽ tiếp tục thúc đẩy đà tăng trường kinh tế Việt Nam trong năm 2016.

12

Việt Nam đang trên đà hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ thị trường thương mại tự do với 55 quốc gia và nền kinh tế và đã được 59 quốc gia công nhận có nền kinh tế thị trường. Chỉ trong năm 2015, Việt Nam đã thông qua nhiều hiệp định FTA quan trọng, như : FTA Việt Nam-Liên minh hải quan Nga-Belarus-Kazaxtan; Kết thúc đàm phán TPP, FTA Việt Nam – EU và FTA Việt Nam – Hàn Quốc ; Hình thành công đồng kinh tế ASEAN (AEC). Qua đó, nhiều thuế suất sẽ được giảm về mức 0% tạo điều kiện thuận lợi giao thương và mở rộng thị trường giữa các nước thành viên. Cùng đó, thu hút FDI được cải thiện rõ rệt cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện. Đây cũng là điểm nhấn quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế trong năm tới cùng nhu cầu trong nước tiếp tục được cải thiện, thể hiện thông qua tổng mức bán lẻ và doanh thu từ dịch vụ tiêu dùng tăng và chỉ số niềm tin người tiêu dùng tăng mạnh (ANZ).

Trong năm 2016, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức 6,7%. Ngân hàng Thế giới (WBO-02/12/2015) khẳng định Việt Nam đã ứng phó tố trước những biến động của môi trường kinh tế bên ngoài và triên vọng kinh tế năm 2016 tiếp tục tăng trưởng và có thể đạt mức 6,6%. Bên cạnh đó, Ngân hàng ANZ cũng đánh giá Việt nam là « ánh sáng hiếm hoi » trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều khó khăn

Theo mô hình dự báo của MBS, trong năm 2016, GDP sẽ tiếp tục khả quan nhờ chính sách tiền tệ tiếp tục hỗ trợ, có thể đạt mức 6,8% và lạm phát tiếp tục duy trì ở mức dưới 4%, tăng so với năm 2015 chủ yếu do hầu hết giá cả các mặt hàng đã chạm đáy, nhiều khả năng sẽ tăng nhẹ cùng sự điều chỉnh tăng giá dịch vụ công trong năm tới.

RỦI RO TÁC ĐỘNG TỪ BÊN NGOÀI

Trong năm 2016, bên cạnh rủi ro biến động chính trị thế giới thì việc Fed đã quyết định nâng lãi suất và nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại và nhiều khả năng sẽ tiếp tục phá giá đồng NDT sẽ tác động không nhỏ tới kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Rủi ro từ nền kinh tế Trung Quốc

Trong năm 2015, nền kinh tế Trung Quốc đã phát đi nhiều tín hiệu kém lạc quan. Thứ nhất, các chỉ số sản xuất công nghiệp và dịch vụ đều giảm mạnh và duy trì ở mức thấp nhất trong vòng hai năm trở lại đây.

13

Thứ hai, GDP của Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm tăng trưởng với tốc độ 7% (6,9% tính đến hết quý 3 năm 2015), mức thấp nhất trong vòng gần 20 năm qua và vẫn tiếp tục xu hướng tăng trưởng chậm. IMF dự báo GDP Trung Quốc chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 6,8% cho năm 2015 và 6,3% cho năm 2016.

14

Thứ ba, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc liên tiếp âm tính từ đầu năm 2015 đến thời điểm trước khi đồng NDT bị phá giá là -8,3% và tính tới hết tháng 10/2015 vẫn đang là con số âm (-6.9%). Lũy kế xuất khẩu 10 tháng 2015 của Trung Quốc tăng trưởng âm 2,5% so với năm 2014 ở mức thấp nhất kể từ 2009. Đồng NDT đã liên tục tăng giá kể từ 2004 ở mức 8.276 = 1 USD cho đến 2013 và 2014 lên tới 6.119. Đồng NDT có giá trị cao tác động tiêu cực tới lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc.

Như vậy, có thể thấy rằng việc phá giá đồng NDT của Trung Quốc trong tháng 8 vừa qua là điều cần thiết đối với nước này nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu và đáp ứng tiêu chí gia nhập rổ SDR. Trong khi lượng dự trữ ngoại hối ở mức cao 3,65 nghìn tỷ USD cho phép Trung Quốc can thiệp sâu để ổn định tỷ giá trong trường hợp cần thiết.

Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có tỷ trọng GDP lên tới 15-16% GDP toàn cầu. Do đó, sự biến động kinh tế của nước này có tác động đáng kể tới kinh tế toàn cầu. Qua số liệu xuất-nhập khẩu, có thể thấy năm 2014 Trung Quốc đang đứng số một về giá trị xuất khẩu và thứ hai sau Mỹ về giá trị nhập khẩu. Sự tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc kéo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa giảm, điều này có thể ảnh hưởng tới các nước xuất khẩu mạnh sang Trung Quốc. Trường hợp đồng NDT tiếp tục bị phá giá sẽ khiến hàng hóa xuất khẩu từ Trung Quốc rẻ hơn, đồng nghĩa với việc các nước xuất khẩu khác chịu tác động mạnh lên sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu của họ và do đó việc các nước khác phá giá đồng nội tệ để đảm bảo sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu cũng là điều khó tránh khỏi

Thực tế, ngay sau khi đồng NDT bị phá giá, hàng loạt đồng tiền trong khu vực, như đồng tiền của New Zealand, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Australia đều giảm mạnh, Việt Nam mất giá 5% so với đồng USD. Thị trường tài chính toàn cầu nhanh chóng chịu tác động. Trong các ngày từ 11 đến 14/8, TTCK châu Á, châu Âu cũng như Mỹ đồng loạt sụt giảm, giá dầu trên thị trường New York (Mỹ) cũng lao dốc.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, việc Trung Quốc phá giá đồng NDT ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam. Năm 2014, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc lên tới 29 tỷ USD với kim ngạch xuất khẩu khoảng 15 tỷ USD chiếm tỷ trọng 10% trên tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc lên tới 44 tỷ USD chiếm 30% tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm 2015, nhập siêu từ Trung Quốc đã ở mức 24 tỷ USD với giá trị xuất khẩu đạt 11.6 tỷ USD và nhập khẩu đạt 35.6 tỷ USD. Ngoài ra, nhìn vào biểu đồ « Tỷ trọng XNK với Trung Quốc/Tổng XNK Việt Nam », chúng ta có thể thấy tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc trên tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng giao động quanh mốc 10%, nhưng ở chiều ngược lại tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trên tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng mạnh trong khoảng 20 năm trở lại đây. Do đó, việc phá giá đồng NDT sẽ khiến giá cả hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc càng trở nên rẻ hơn và có thể khiến cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc thâm hụt nặng hơn

Bên cạnh thâm hụt cán cân thương mại, việc đồng NDT mất giá còn tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các nước như Mỹ, Châu Âu… Đồng NDT mất giá khiến hàng hóa của Trung Quốc trở nên rẻ hơn so với hàng hóa của Việt Nam trên thị trường thế giới và do đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Cùng đó, các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc về Việt Nam cũng rẻ hơn tạo sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý rằng, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc, phần lớn là các nguyên liệu đầu vào chiếm tới 60% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó khoảng 34% là các máy móc thiết bị nhằm phục vụ cho sản xuất, do vậy việc NDT mất giá cũng phần nào tác động tích cực tới các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam.

Rủi ro từ Fed nâng lãi suất

Trong kỳ họp ngày 15-16/12 vừa qua, Fed đã chính thức quyết định nâng lãi suất lên 0,25- 0,5%, sau gần một thập kỷ duy trì ở mức 0-0.25%. Điều này cho thấy nền kinh tế Mỹ đã có những chuyển biến tích cực và được dự báo sẽ tiếp tục khả quan trong năm 2016.

GDP của Mỹ tăng trưởng 1,5 % trong Q3/2015 thấp hơn so với mức dự kiến là 1,6%, song vẫn cho thấy xu hướng tăng trưởng vững chắc. Nền kinh tế tăng chậm lại trong Q3 so với Quý 2 do đồng USD mạnh lên so với các đồng tiền ngoại tệ mạnh khác và đầu tư trong lĩnh vực năng lượng bị cắt giảm do giá dầu thấp. Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định chiều hướng tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ trong quý 4/2015 và năm 2016. Lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đều tăng trưởng ổn định, thể hiện qua chỉ số PMI sản xuất đạt 54 điểm và PMI ngành dịch vụ ở mức 54,8 điểm trong tháng 10/2015.

Thị trường việc làm khả quan, tỷ lệ thất nghiệp giảm mạnh xuống còn 5% trong tháng 11/2015, từ mức đỉnh 10,2% kể từ tháng 11 năm 2009 và tiền lương tiền công tăng trưởng ổn định qua từng tháng. Thị trường bất động sản phục hồi bền vững cả về mức giá và khối lượng giao dịch. Với các dấu hiệu lạc quan này, các chuyên gia IMF dự báo tốc độ tăng GDP của Mỹ có thể đạt 2,6% trong năm 2015 và 2,8% trong năm 2016.

Như vậy, nhiều khả năng Fed sẽ tiếp tục quá trình siết chặt chính sách tiền tệ theo dự kiến trong năm 2016 và mức lãi suất có thể điều chỉnh lên +/-1%. Sự cộng hưởng từ việc Fed siết chặt chính sách tiền tệ và đồng NDT yếu đi sẽ tiếp tục gây áp lực tới tỷ giá VND/USD trong năm 2016, trong khi thâm hụt ngân sách và nợ cộng của Việt Nam gia tăng cũng sẽ gây áp lực lên vấn đề điều hành lãi suất – duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.

Do vậy, việc vừa duy trì ổn định tỷ giá vừa đảm bảo ổn định mặt bằng lãi suất thấp đang là điều khó khăn đối với NHNN. Theo nhận định của chúng tôi, việc Fed nâng lãi suất và áp lực giảm giá đồng NDT có thể khiến đồng VND tiếp tục giảm từ 3-5% và theo đó lãi suất cũng chịu ảnh hưởng tăng thêm 0,5-1% trong năm 2016.

THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN

Thị trƣờng chứng khoán thế giới

■ Lần đầu tiên sau nhiều năm, nền kinh tế thế giới chứng kiến sự phân hóa mạnh trong chính sách tiền tệ giữa các nƣớc lớn. Đây sẽ là nhân tố chính ảnh hưởng tới triển vọng của thị trường chứng khoán thế giới năm 2016, những thị trường được sự hỗ trợ của chính sách tiền tệ nới lỏng và phục hồi chu kỳ như Châu Âu, Nhật Bản sẽ có mức tăng trưởng khả quan hơn các thị trường đang trong chu kỳ bắt đầu thắt chặt như Mỹ, Anh.

■ Ảnh hƣởng từ thị trƣờng Mỹ và một xu hƣớng tăng trƣởng chậm lại của kinh tế toàn cầu sẽ khiến cho triển vọng tăng trƣởng năm 2016 của hầu hết các thị trƣờng là hạn chế. Trên cơ sở tăng trưởng EPS của các công ty S&P 500 là 7,5% cho năm 2016 và mức định giá P/E forward là 16,2x, kịch bản cơ sở của chúng tôi là chứng khoán Mỹ sẽ tăng trưởng ở mức 5% (+/-2%) trong năm 2016. Trong kịch bản kém khả quan, dựa trên định giá dài hạn, S&P 500 có rủi ro giảm điểm tới 12% trong một thời điểm nhất định trong năm 2016.

■ Tình hình kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục là nhân tố ảnh hƣởng chính tới biến động chứng khoán toàn cầu năm 2016. Chúng tôi cho rằng chứng khoán Trung Quốc sẽ tiếp tục biến động mạnh trong năm tới nhưng triển vọng sẽ tích cực hơn trong nửa cuối năm với kỳ vọng chứng khoán Trung Quốc sẽ được đưa vào rổ MSCI mới nổi trong kỳ đánh giá tháng 6/2016.

■ Theo dõi biến động giữa chứng khoán Việt Nam và chứng khoán thế giới, chúng tôi cho rằng chứng khoán Việt Nam có mối tƣơng quan thấp với chứng khoán thế giới và có thể tiếp tục tăng trƣởng vƣợt trội so với các thị trƣờng khác trong năm 2016. Tuy vậy, rủi ro giảm điểm sẽ cao hơn trong những giai đoạn nhất định trong năm khi rủi ro toàn cầu tăng cao do các nhân tố bất ổn, đặc biệt là trường hợp Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá mạnh ngoài dự kiến.

Sự phân hóa trong chính sách tiền tệ và xu thế tăng trƣởng của thị trƣờng chứng khoán thế giới

15

Biến động một số chỉ số chứng khoán chủ chốt năm 2015​​​​​​​

16

Thị trƣờng chứng khoán Mỹ: Sự kiện bán tháo tháng 8/2015, ảnh hƣởng từ việc Fed tăng lãi suất và kỳ vọng tăng trƣởng thấp 2016

Về cơ bản, thị trường chứng khoán Mỹ diễn biến đi ngang trong năm 2015 khi nhà đầu tư cân nhắc giữa triển vọng tích cực của nền kinh tế Mỹ và sự thu hẹp của dòng tiền đầu tư khi Fed dự tính sẽ tăng lãi suất mở ra một thời kỳ mới trong việc điều hành chính sách tiền tệ của mình. Sự kiện đáng chú ý nhất năm diễn ra vào quý III/2015 khi chỉ số chứng khoán Mỹ chịu áp lực điều chỉnh mạnh do dòng tiền đầu tư sợ rủi ro rút khỏi thị trường chứng khoán toàn cầu do ảnh hưởng kép từ sự kiên Hy Lạp trưng cầu dân ý và Trung Quốc phá giá tiền tệ.

Box sự kiện: S&P 500 và đợt điều chỉnh mạnh nhất từ năm 2011

17

Đánh giá triển vọng thị trƣờng chứng khoán Mỹ 2016

Diễn biến đi ngang của chứng khoán Mỹ năm 2015 phản ánh sự suy giảm trong tăng trưởng EPS khi dự tính EPS của các công ty S&P 500 giảm 4,9% (nguồn: Factset). Tuy vậy, kinh tế Mỹ dự báo sẽ tăng trưởng 2,8% so với 2,2% (quý III/2015) và 2,6% (dự kiến 2015). Dựa trên kịch bản tăng trưởng trên, hiện các chuyên gia nhận định kịch bản tăng trưởng EPS 7,5% cho năm 2016. Ở mức tăng trưởng trên, chứng khoán Mỹ định giá P/E 2015 là 17,57x và P/E dự tính 2016 là 16,2x (so với mức P/E dự tính trung bình trong 5 năm qua là 14,3x và 10 năm qua là 14,2x). Chúng tôi đánh giá mặc dù EPS sẽ hồi phục trong năm 2016, tâm lý e ngại rủi ro do việc Fed liên tục tăng lãi suất sẽ khiến cho thị trường chứng khoán Mỹ có năm 2016 nhiều biến động và mức tăng trưởng năm 2016 của thị trường chứng khoán Mỹ dự báo ở mức thấp ~ 5% (+/-2%).

18

Tác động của việc tăng lãi suất với tăng trƣởng của thị trƣờng chứng khoán

Thống kê về biến động của chỉ số S&P 500 từ sau thế chiến thứ II, chúng tôi thấy trong năm đầu tiên sau khi Fed điều chỉnh lãi suất lần đầu, chỉ số S&P 500 tăng trưởng trung bình 4,5%, chỉ bằng hơn 1/2 so với mức trung bình 8%/năm của cả thời kỳ. Lịch sử các đợt tăng lãi suất gần đây cho thấy chứng khoán Mỹ suy giảm trung bình khoảng 5% trong 3 tháng sau lần tăng đầu tiên và sau đó phục hồi khá mạnh mẽ. Chứng khoán Mỹ chỉ thực sự bước vào xu thế giảm vào cuối chu kỳ tăng lãi suất, phần lớn khi mức lãi suất Federal Fund Rate cao hơn 4%.

19

Rủi ro với thị trƣờng chứng khoán Mỹ năm 2016: Khoảng đệm giữa chu kỳ hay sự kết thúc một chu kỳ tăng trƣởng?

Chu kỳ tăng trƣởng đã kéo dài trong khi tăng trƣởng vẫn thấp.  Kể từ khi tạo đáy năm 2009, chu kỳ phục hồi của chứng khoán và kinh tế Mỹ đã diễn ra trong 7 năm, dài hơn hầu hết các chu kỳ phục hồi trong quá khứ, Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khoảng 2,6% - 2,8% là mức tăng trưởng yếu so với các thời kỳ trong quá khứ (4%/năm).

Định giá dài hạn ở mức cao kỷ lục . Định giá CAPE 10 năm hiện ở mức 26x, cao hơn 57% so với mức trung bình CAPE 10 năm là 16,7 lần (tính từ năm 1881) và hiện chỉ thấp hơn mức CAPE Shiller của 2 thời kỳ bong bóng chứng khoán lớn nhất của nước Mỹ vào năm 1930 (P/E = 30) và năm 2000 (P/E = 44). Điều này cho thấy rủi ro của một đợt suy giảm mạnh của chứng khoán Mỹ là hiện hữu. Một chỉ tiêu ngắn hạn hơn là Regular P/E (P/E tính trên lợi nhuận 12 tháng) hiện là 22 lần, cao hơn 38% so với mức P/E trung bình 15,9 cũng cho thấy chứng khoán Mỹ hiện có định giá cao.

Tỷ lệ vay nợ cao trong khi biên lợi nhuận ròng đi xuống . Hiện nay tỷ lệ margin debt tính trên GDP của thị trường Mỹ ở mức 2,6%, tương đương với tỷ lệ margin debt/GDP của 2 thời kỳ bong bóng gần nhất là năm 2000 và năm 2007, Trong khi đó, lợi nhuận biên của các công ty Mỹ hiện cũng đã đi xuống trong suốt 3 quý đầu năm 2015 và theo dự tính từ Factset sẽ tiếp tục suy giảm trong quý IV/2015 xuống còn 9,9% (Quý III/2015 10,5%), đánh dấu giai đoạn sụt giảm liên tục dài nhất trong tỷ lệ lợi nhuận biên kể từ đầu năm 2009, Sự đi xuống của biên lợi nhuận chủ yếu do sự sụt giảm lợi nhuận của các công ty trong lĩnh vực dầu khí và trong kịch bản bi quan, sự sụt giảm trên sẽ dẫn tới sự vỡ nợ của các công ty dầu khí và phản ứng dây chuyền trong nền kinh tế, Theo diễn biến quá khứ, chứng khoán Mỹ thường tạo định 12 đến 18 tháng sau khi biên lợi nhuận tạo đỉnh và do vậy, năm 2016 sẽ là năm nhiều rủi ro với chứng khoán Mỹ,

Kết luận . Mặc dù chúng tôi cho rằng nền kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục hồi phục trong những năm tới, tuy nhiên với các yếu tố rủi ro nói trên, chúng tôi cho rằng chứng khoán Mỹ sẽ có rủi ro gặp phải những đợt điều chỉnh mạnh đưa mặt bằng giá chứng khoán phù hợp với bức tranh chung. Với P/E dự tính 2016 là 16,2x (so với mức P/E dự tính trung bình 5 năm và 10 năm gần nhất là 14,2x14,x3), ngay cả trong kịch bản cơ sở, chỉ số chứng khoán Mỹ hoàn toàn có thể gặp rủi ro điều chỉnh đến 12% để đưa P/E về mức trung bình.

20

Chứng khoán châu Âu- Ảnh hƣởng tích cực từ chính sách QE

Trong khi Mỹ sẽ bắt đầu thực thi việc thắt chặt chính sách tiền tệ từ năm 2016, châu Âu tiếp tục chính sách QE mở rộng đến tháng 3/2017 và sẵn sàng đẩy mạnh QE hơn nữa nếu rủi ro toàn cầu ảnh hưởng tới nền kinh tế của châu Âu, Quan trọng hơn, chính sách QE đã có tác động tích cực khi cho vay doanh nghiệp đã tăng trở lại. Chúng tôi đánh giá chính sách QE sẽ giúp duy trì một đồng EUR yếu, thúc đẩy tăng cường sức cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp EU, giúp đẩy mạnh nhu cầu đầu tư và sản xuất, hỗ trợ tăng trưởng GDP và tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp. Đây là cơ sở giúp chứng khoán châu Âu sẽ diễn biến khả quan hơn các thị trường khác trong năm 2016, mặc dù thị trường hiện đã phản ánh một phần kỳ vọng trên khi thị trường chứng khoán châu Âu đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng EPS. Mặc dù định giá dự tính năm 2016 của thị trường Mỹ và châu Âu là tương đương (16x), tuy nhiên xét trên chu kỳ dài hạn định giá CAPE 10 năm (định giá P/E dựa trên trung bình EPS 10 năm) thì chứng khoán Mỹ, với tỷ lệ lợi nhuận biên đang ở mức cao kỷ lục và đang suy giảm, đang ở vùng định giá cao (26x) trong khi chứng khoán châu Âu hiện ở mức định giá hợp lý và đang trong xu thế tăng trưởng (16x).

21

Nhật Bản: Ảnh hƣởng tích cực từ các chính sách nới lỏng tiền tệ năm 2016

Nền kinh tế Nhật Bản dự kiến tăng trưởng chậm vào năm 2015(0,6%) và tăng cao hơn vào năm 2016 (0,9%) với động lực chính là đầu tư cá nhân và chi tiêu cá nhân, bù đắp lại sự đi xuống của chi tiêu công khi chính sách tái thiết sau thảm họa động đất kết thúc và sự đi xuống của Trung Quốc kéo theo tăng trưởng xuất khẩu chậm. Triển vọng thị trường chứng khoán Nhật Bản năm 2016 là khá tích cực với kỳ vọng tăng trưởng EPS là 11% (theo Sumitomo Mitsui A.M.) so với mức tăng trưởng khoảng 7,5% tại Mỹ và 7% tại châu Âu trong khi định giá chứng khoán Nhật Bản (P/E dự tính 2016 là 16,67) hiện tương đương định giá tại Mỹ và châu Âu.

Xu hƣớng dòng vốn vào thị trƣờng mới nổi

Dòng vốn nước ngoài vào thị trường mới nổi suy giảm trong năm 2015 do 1) nhà đầu tư nước ngoài lo ngại về khả năng Fed tăng lãi suất dẫn tới sự suy giảm luồng vốn đầu tư và tín dụng vào thị trường mới nổi 2) giá hàng hóa và giá dầu sụt giảm mạnh khiến cho triển vọng tăng trưởng của các nước mới nối suy giảm và 3) sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc đặc biệt là sự sụt giảm mạnh của chứng khoán trong quý III/2015 dẫn tới tâm lý sợ rủi ro gia tăng. Dòng vốn rút ra mạnh nhất tại thị trường Trung Quốc với lượng rút vốn lên tới 841 tỷ (tính tới tháng 11/2015). Phản ánh các lo ngại trên, tháng 11/2015, Goldman Sachs đã đóng cửa quỹ chuyên đầu tư vào các nước BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) do quỹ này bị rút vốn mạnh chỉ còn 98 triệu USD so với mức cao nhất 842 triệu USD đạt được vào năm 2010, Theo báo cáo của EPFR Global, nhà đầu tư đã rút $1,4 tỷ từ các quỹ đầu tư vào BRIC tính từ đầu năm tới tháng 11/2015, đưa tổng lượng rút vốn lên $15 tỷ tính từ cuối năm 2010, cao hơn mức tiền ròng đã vào các quỹ này từ năm 2005

22

Nghiên cứu lịch sử từ những lần Fed tăng lãi suất từ năm 1994 tới nay, chúng tôi thấy tăng trưởng của cổ phiếu các thị trường mới nổi, đặc biệt là cổ phiếu có cổ tức cao và trái phiếu vượt trội so với các kênh đầu tư khác. Điều này do các nước mới nổi duy trì được tăng trưởng khả quan và thu hút dòng vốn rủi ro tái cơ cấu khi cơ hội đầu tư vào các thị trường phát triển bị hạn chế do chính sách thắt chặt tiền tệ. Tuy vậy, tăng trưởng của các nước mới nổi hiện nay không đồng đều, trong đó các đầu tầu là Trung Quốc, Braxin, Nga đều đang gặp khó khăn về cơ cấu nên câu chuyện dòng vốn vào thị trường mới nổi sẽ không đồng đều trong năm 2016. Chúng tôi cho rằng 1) định giá hấp dẫn và tiềm năng tăng trưởng tốt hơn của các nước đang phát triển sẽ thu hút dòng vốn trở lại nhưng dòng vốn sẽ không mạnh mẽ bằng các thời kỳ trước 2) khả năng hạ cánh mềm của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng quyết định tới dòng vốn đầu tư vào thị trường mới nổi nói chung do vị trí đầu tầu của Trung Quốc vốn là một quốc gia nhập khẩu lớn nhất hàng hóa, nguyên liệu từ các nước mới nổi khác và 3) dòng vốn vào thị trường mới nổi sẽ phân hóa và tập trung vào những quốc gia có câu chuyện tăng trưởng khả quan vượt trội như Ấn Độ, Việt Nam, Philipin

23

Trung Quốc – bong bóng chứng khoán, nới lỏng tiền tệ và khả năng tham gia rổ ETF

Trong năm 2015, ảnh hưởng từ bong bóng chứng khoán Trung Quốc đã làm lay chuyển thị trường tài chính thế giới, khiến cho S&P 500 có đợt điều chỉnh sâu nhất từ năm 2011, diễn biến bong bóng chứng khoán trên có thể tóm tắt như sau:

Quá trình tạo bong bóng: Từ tháng 6/2014 đến 6/2015, thị trường chứng khoán chứng kiến mức tăng trưởng 190% trong bối cảnh nền kinh tế nước này vẫn đi xuống đều theo các quý, chỉ số P/E của thị trường chứng khoán lúc cao nhất chạm ngưỡng 26x.

Nguyên nhân chính dẫn tới sự tăng giá mạnh trên là:

(1) Chính sách nới lỏng của ngân hàng TW Trung Quốc bao gồm cắt giảm lãi suất cho vay chủ chốt giảm 4 lần từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015 còn 4,85%, cắt lãi suất tiền gửi chủ chốt còn 2%, dự trữ bắt buộc ngân hàng lớn từ 20% còn 18,5% tạo điều kiện cho dòng tiền giá rẻ chảy vào thị trường

(2) Sự suy giảm của các kênh đầu tư khác như Bất động sản, vàng dẫn tới sự tái cơ cấu dòng tiền vào chứng khoán

(3) Sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân, tỷ lệ vay margin tại Trung Quốc tăng lên 9%/ tổng dư nợ freefloat cổ phiếu, cao hơn gấp 5 lần các thị trường phát triển.

(4) kỳ vọng vào dòng vốn ngoại đổ vào thị trường khi các quỹ ETF lớn được dự kiến sẽ đưa cổ phiếu Trung Quốc vào rổ chứng khoán quốc tế.

Quá trình vỡ bong bóng:

Đợt điều chỉnh đầu tiên của chứng khoán Trung Quốc bắt đầu từ tháng 6 đến 9/7/2015 với mức suy giảm 30% trong 3 tuần với nhân tố chính là

(1) việc đàm phán nợ công Hy Lạp gặp khó khăn khiến rủi ro đối với dòng tiền đầu tư tăng vọt, nhà đầu tư đồng loạt rút vốn đặc biệt là ở các thị trường mới nổi

(2) nhiều quỹ lớn đã lên tiếng cảnh báo về bong bóng chứng khoán Trung Quốc

(3) nhà đầu tư mua margin bị giải chấp mạnh, Sau khi chính phủ Trung quốc công bố một loạt các biện pháp thị trường (chống bán khống, cấm cổ đông lớn bán cổ phiếu) và kinh tế (giảm lãi suất) thị trường bình ổn trong tháng 7 sau đó tiếp tục đợt bán tháo sâu hơn vào tháng 8 do sự rút vốn mạnh của dòng tiền đầu tư quốc tế và quá trình giảm đòn bẩy của nhà đầu tư trong nước. Tính đến 28/12/2015, chỉ số chứng khoán Thượng Hải đạt 3525 điểm, tăng 9,25% so với đầu năm nhưng giảm 32% so với điểm cao nhất trong năm 2015.

Kỳ vọng chứng khoán Trung Quốc 2016

Mặc dù triển vọng kinh tế Trung Quốc xấu đi rõ rệt trong năm 2015, trên thực tế câu chuyện về chứng khoán lại khác biệt khi thị trường chứng khoán Trung Quốc đã tăng gần 10%, là một trong những thị trường có mức tăng trưởng tốt nhất ở khu vực châu Á. Chúng tôi cho rằng nhà đầu tư đã phản ứng tích cực hơn kỳ vọng trên cơ sở:

1) Trung Quốc đang trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng và điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng có lợi với các công ty trong nước và

2) luồng tiền đầu cơ đón đầu dòng tiền đầu tư cơ cấu vào thị trường Trung Quốc sau khi cổ phiếu A của Trung Quốc được đưa vào rổ MSCI EM (kỳ vọng tháng 6/2016). Theo dõi biểu đồ P/E, chúng tôi cũng nhận thấy P/E đã chạm ngưỡng dưới 10 vào đầu năm 2013, cho thấy khả năng Trung Quốc đang trong chu kỳ tăng trưởng trung dài hạn tính từ năm 2013.Ở định giá hiện tại P/E khoảng 14 lần với triển vọng tăng trưởng GDP 6,3% - 6,4%, chúng tôi cho rằng chứng khoán Trung Quốc có định giá đã phù hợp so với các thị trường mới nổi khác

Tuy vậy, chúng tôi cho rằng năm 2016, đặc biệt là nửa đầu năm, sẽ là giai đoạn chứng khoán Trung Quốc có nhiều biến động khó lường do ảnh hưởng từ rút ròng của dòng vốn đầu tư danh mục. Sau quá trình liên tục bơm ròng trong nhiều năm, dòng vốn này đã rút ròng mạnh từ quý IV/2014 đến nay, tổng lượng rút vốn ước tính lên tới 900 tỷ USD. Để hạn chế dòng rút vốn ròng này, Trung Quốc phải dựa đến việc 1) giảm quỹ ngoại hối khoảng $550 tỷ, từ mức cao nhất $3.993 tỷ (giữa năm 2014) còn $3.650 tỷ (tháng 7/2015) và đến tháng tháng 11/2015 còn $3.430 tỷ, 2) thặng dư thương mại khoảng $212 tỷ tính cho 3 quý đầu năm 2015, 3) điều chỉnh tỷ giá Nhân dân tệ. Trong kịch bản cơ sở của chúng tôi dựa trên việc nền kinh tế Trung Quốc ổn định và hạ cánh mềm, tốc độ tăng trưởng GDP đảm bảo mức 6,5%/năm, chúng tôi cho rằng việc sử dụng kết hợp ba biện pháp trên là đủ để ngăn chặn đà rút ròng của dòng vốn đầu tư, tuy vậy, tỷ giá Nhân dân tệ sẽ tiếp tục chịu sức ép lớn khi Trung Quốc phải nới lỏng kiểm soát dòng vốn sau khi đồng Nhân dân tệ được đưa vào rổ SPR.

24

Tiêu điểm: Khả năng hút vốn của thị trƣờng chứng khoán Trung Quốc sau khi gia nhập rổ MSCI mới nổi

Thời điểm thị trường Trung Quốc điều chỉnh mạnh trong tháng 6/2015 xảy ra ngay sau khi MSCI tuyên bố họ chưa thêm cổ phiếu của các công ty Trung Quốc vào trong rổ cổ phiếu thị trường mới nổi của họ do MSCI vẫn đang giải quyết với các cơ quan quản lý Trung Quốc các vấn đề về phân bổ cổ phiếu, khả năng huy động vốn và sở hữu cổ phiếu. Trước đó, vào cuối tháng 5, Russell đã thêm 2 chỉ số chứng khoán Trung Quốc vào rổ theo dõi của mình khiến cho cổ phiếu tăng 5% trong vòng 2 phiên. Chúng tôi cho rằng sau những động thái gần đây (mở kênh đầu tư nối sàn Hồng KôngThẩm Quyến sau khi đã đưa kênh đầu tư kết nối hoạt động Hồng Kông- Thượng Hải cuối năm 2014, đưa đồng Nhân dân tệ vào rổ SPR và tự do hóa chuyển đổi Nhân dân tệ), quyết định đưa chứng khoán Trung Quốc vào rổ MSCI thị trường mới nổi nhiều khả năng sẽ xảy ra vào tháng 6/2016. Theo đánh giá của HSBC, việc thêm cổ phiếu A-shares của các công ty Trung Quốc vào rổ MSCI thị trường mới nổi trong dài hạn có thể 1) đưa tỷ trọng cổ phiếu Trung Quốc tăng từ 25% lên 38% trong rổ MSCI mới nổi, 2) tại rổ FTSE sẽ có thể giúp tăng tỷ trọng cổ phiếu Trung Quốc lên 27%. Tổng cộng, điều này có thể kích hoạt dòng vốn đầu tư thụ động khoảng $50 tỷ và tổng đầu tư $330 tỷ của các quỹ vào cổ phiếu Trung Quốc cho kịch bản gia nhập hoàn toàn (full inclusion). Đây sẽ là một yếu tố quan trọng giúp chứng khoán Trung Quốc có thể diễn biến khả quan kể từ nửa sau năm 2016.

25

Tác động của chứng khoán quốc tế đối với thị trƣờng chứng khoán Việt Nam

Trong chu kỳ tăng trưởng từ 2012 tới nay, chứng khoán Việt Nam có 4 chu kỳ điều chỉnh giá lớn bao gồm:

 Điều chỉnh giữa năm 2012 do khủng hoảng nợ châu Âu

 Điều chỉnh tháng 5/2014 do sự kiện Biển Đông

 Điều chỉnh cuối 2014 do sự kiến giá dầu sụt giảm (sự kiện này tương quan mạnh với Shanghai index nhưng tương quan thấp với S&P 500)

 Sự kiện tháng 8/2015 do Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá và vỡ bóng bóng chứng khoán Trung Quốc

Trên thực tế, mối liên quan giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và các thị trường chứng khoán Mỹ (trung bình 0,0974) và Shanghai index (0,064) là gần như không tương quan trong suốt chu kỳ tăng trưởng từ năm 2012 tới nay. Tuy nhiên, trừ đợt điều chỉnh tháng 5/2014, 3 đợt điều chỉnh còn lại đều bắt nguồn từ thế giới với độ quan hệ giữa VNINDEX với SP500 và Shanghai index tăng cao đột ngột lên mức 0,4-0,5. Ngược lại, những chu kỳ tăng mạnh của Vnindex không phụ thuộc nhiều và diễn biến tăng trưởng của các thị trường khác. Chúng tôi cho rằng với độ tương quan thấp với các thị trường quốc tế và câu chuyện tăng trưởng hấp dẫn, chứng khoán Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của nhà đầu tư nước ngoài và sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan trong năm 2016, trừ một số thời kỳ rủi ro quốc tế ở mức cao.

26

Việt Nam: Triển vọng gia nhập MSCI mới nổi và tác động tới thị trƣờng

Thời gian qua, chúng tôi nhận thấy Ủy Ban Chứng khoán đã liên tục có những thay đổi về chính sách để đáp ứng các tiêu chuẩn của bộ tiêu chuẩn MSCI thị trường mới nổi, tập trung ở các tiêu chỉ ở chuẩn C (khả năng tham gia thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài). Dựa trên diễn biến các thị trường mới gia nhập hoặc đang được xem xét tham gia bộ chỉ số MSCI thị trường mới nổi gần đây, chúng tôi đánh giá việc gia nhập MSCI thị trường mới nổi sẽ là nhân tố chính thúc đẩy thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong 4 năm tới. Theo quan điểm của chúng tôi, với việc sẽ đưa vào hoạt động thị trường phái sinh và giao dịch bán T0 trong năm 2016 và đưa ra giới hạn với đầu tư nước ngoài với ngành nghề cụ thể, Việt Nam sẽ đạt hầu hết các chỉ tiêu chính của MSCI mục C1 (sở hữu nước ngoài) và C3 (tính hiệu quả của hệ thống hoạt động thị trường). Hiện có 2 trở ngại lớn nhất là tự do hóa tương đối về ngoại hối và khả năng chuyển đổi (yêu cầu quan trọng) và yêu cầu về cơ chế định chế tài chính ổn định trong đó có việc được công nhận là nền kinh tế thị trường (yêu cầu ở mức khiêm tốn) có thể gây trở ngại cho việc gia nhập chỉ số MSCI của Việt Nam, Chúng tôi cho rằng Việt Nam có khả năng sẽ được đưa vào danh sách xem xét (watchlist) từ kỳ review 6/2017 và có thể được chính thức gia nhập trong các kỳ review 2-3 năm sau đó.

Tác động tới thị trƣờng & công ty hƣởng lợi

Hiện các quỹ ETF trực tiếp đầu tư vào thị trường mới nổi (tổng vốn hóa dao động từ 3,400 tỷ đến 4,000 tỷ USD tùy theo giá trị cổ phiếu theo tính toán của MSCI) có quy mô 405 tỷ, ngoài ra các quỹ khác đầu tư vào thị trường mới nổi có thể lên tới 1700 tỷ USD. Với vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam là 60 tỷ USD tương đương ~1,5% tổng vốn hóa thị trường mới nổi, trong kịch bản cơ sở, chúng tôi cho rằng Việt Nam có thể hút 1% lượng vốn đầu tư ròng vào thị trường mới nổi, tương đương lượng vốn đầu tư kỳ vọng 4 tỷ USD từ các quỹ ETF ( so với mức khoảng 1 tỷ USD như hiện nay) và 15 tỷ USD (vốn đầu tư chủ động và đầu tư chỉ số).

Việt Nam hiện có 22 cổ phiếu đang được theo dõi trong rổ MSCI thị trường cận biên (frontier market) trong đó 10 cổ phiếu lớn nhất có tỷ trọng vào thời điểm lấy dữ liệu như sau:

27

Chúng tôi cho rằng với các quy định về nới room, VNM sẽ có thể gia nhập chỉ số này và sẽ là một trong những cổ phiếu sẽ được xem xét đưa vào rổ MSCI Emerging market index. Cần chú ý là đối với Pakistan sau khi được đánh giá thêm vào rổ MSCI thị trường mới nổi, từ 16 cổ phiếu của Pakistan được theo dõi trong rổ MSCI thị trường cận biên, MSCI đã cắt đi 6 cổ phiếu và chỉ giữ lại 10 cổ phiếu hàng đầu với cổ phiếu có vốn hóa thấp nhất là $0,26 tỷ. Do đó, chúng tôi cho rằng bên cạnh VNM (nếu mở room), 10 cổ phiếu hàng đầu trên sẽ được hưởng lợi và trong đó VIC, MSN, VCB, STB sẽ là những cổ phiếu chắc chắn nhất sẽ được thêm vào theo dõi tại rổ MSCI thị trường mới nổi. Những cổ phiếu lớn như Vietnamairlines, Mobiphone, Sabeco, ACV khi niêm yết cũng sẽ nhận được dòng vốn đầu tư này nếu tỷ lệ sở hữu nhà nước giảm xuống tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào cổ phiếu.

1

Chú thích: 2 thị trường chứng khoán được đưa vào rổ này gần đây là chỉ số ADX General Index của Abu Dhabi đã tăng 43% và chỉ số QE index của Quatar đã tăng 47% so với MSCI tăng 5,1% trong cùng thời gian trên.

Tiêu điểm: Việt Nam đã đáp ứng những tiêu chuẩn nào của MSCI thị trƣờng mới nổi

1

Các yếu tố ảnh hƣởng và triển vọng TTCK Việt Nam năm 2015 và triển vọng 2016​​​​​​​

■ Chúng tôi dự báo VN Index nhiều khả năng sẽ tiếp tục biến động trong kênh 510 - 640 như đã hình thành trong năm 2015. Về cơ bản sẽ không có sự bứt phá lớn nào trong năm 2016. Cơ hội đầu tư sẽ là câu chuyện riêng của các cổ phiếu ở những thời điểm cụ thể.

■ Tuy nhiên vẫn còn không ít khó khăn trong bối cảnh tác động ngắn hạn của chính sách điều hành, tác động từ sự bất ổn định của môi trường địa kinh tế, chính trị quốc tế. Và một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới xu hướng thị trường đó là vai trò và xu hướng của dòng vốn quốc tế, biến động tỷ giá.

Triển vọng kinh tế vĩ mô lạc quan là nền tảng củng cố cho sự hồi phục của TTCK

Tính trên chỉ số VN-Index thì thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2015 tiếp tục có sự tăng trưởng nhẹ so với năm 2014, giá trị đóng cửa cuối năm 2015 ở mức 579,03 điểm, tăng 6,1% so với giá trị đóng cửa cuối năm 2014 ở mức 545,63 điểm. Mặc dù vậy diễn biến thị trường đã trải qua nhiều thời kỳ tăng giảm đan xen phản ánh những thuận lợi cũng như các yếu tố rủi ro trong năm.

Năm 2015, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua các thời kỳ biến động như sau:

2

a) Giai đoạn tăng trƣởng 05/01 – 04/03/2015: VNINDEX tăng từ 537 điểm lên 600,3 điểm

Giai đoạn tăng trưởng này diễn ra sau khi VNINDEX đã kết thúc thời kỳ suy giảm trung hạn từ vùng 640 điểm (08/09/2014) xuống vùng 513 điểm (17/12/2014), động lực hồi phục của thị trường thời điểm này có các nguyên nhân chủ yếu như:

 Thị trường giảm sâu và hồi phục kỹ thuật do dòng tiền trở lại.

 Dẫn dắt cho đợt hồi phục này là sự tăng mạnh của nhóm cổ phiếu ngân hàng hàng đầu như BID, CTG, VCB, MBB, EIB… các cổ phiếu này có mức tăng trung bình trên 25% đã hỗ trợ sự tăng trưởng của các chỉ số chung.

 Lực mua của khối ngoại cũng hỗ trợ tốt cho thị trường giai đoạn này.

 kinh tế vĩ mô có kết quả tích cực: o Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2015 ước tăng 6,03% so với cùng kỳ năm 2014 - mức tăng cao nhất của quý I trong 5 năm qua. o Lãi suất ở mức thấp. o Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9,1%, o Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 10% so với cùng kỳ. o Lạm phát tiếp tục ở mức thấp chỉ tăng 0,74% so với cùng kỳ 2014. Tăng trưởng tín dụng chuyển biến tích cực hơn hẳn cùng kỳ năm trước.

b) Giai đoạn suy giảm 05/03 – 18/05/2015: VNINDEX giảm từ 600 điểm xuống 528,9 điểm

Đây là giai đoạn thị trường điều chỉnh giảm mạnh trở lại sau khi có nhịp hồi phục tích cực, các yếu tố khiến thị trường suy giảm nhanh và mạnh giai đoạn này có cả nguyên nhân trong nước và Quốc Tế:

 Giá dầu thế giới liên tiếp sụt giảm từ mức trên 100 usd/thúng về mức thấp nhất là quanh 45 usd/thùng, thực tế này khiến nhóm cổ phiếu năng lượng trên toàn cầu bị bán tháo, và tại Việt Nam nhóm cổ phiếu dầu khí bị bán mạnh và suy giảm lớn, mức giảm trung bình của ngành này là hơn 20% riêng trong tháng 3 và 4/2015. Đây là nhóm có ảnh hưởng lớn tới các chỉ số nói chung và khiến thị trường suy giảm theo.

 Thời điểm này cũng ghi nhận hoạt động giảm mạnh giao dịch của khối ngoại.

 NHNN tăng tỷ giá lần thứ 2 liên tiếp trong năm.

 Ảnh hưởng của TT36 chính thức có hiệu lực cũng khiến dòng tiền margin trên TTCK bị suy giảm đáng kể .

 Hoạt động phát hành thêm trên thị trường chứng khoán trong 6 tháng đầu năm tiếp tục diễn ra phổ biến cũng tạo áp lực lên thị trường vốn đã bị suy giảm dòng tiền so với giai đoạn trước 2015.

c) Giai đoạn tăng trƣởng 19/05 – 14/07/2015: VNINDEX tăng từ 528,9 điểm lên 641,06 điểm

Giai đoạn tăng trưởng này diễn ra sau khi VNINDEX kết thúc trạng thái suy giảm trước đó, động lực hồi phục trở lại của thị trường có các nguyên nhân chủ yếu từ hàng loạt chính sách mới được các cơ quan quản lý thị trường ban hành nhằm phát triển thị trường trung dài hạn như:

 Chính Phủ ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP để sửa đổi bổ sung Nghị định 58/2012/NĐCP và sẽ có hiệu lực kể từ 1/9/2015. Nghị định lần này quy định cụ thể các vấn đề về room cho NDTNN và Phát hành riêng lẻ, phát hành ra công chúng, trong đó việc mở room cho nhà đầu tư nước ngoài được thị trường quan tâm và đón nhận nhất. Việc nới room được kỳ vọng sẽ là liều “doping” cho chứng khoán trong thời gian tới.

 Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 74 ngày 1/6/2011 hướng dẫn về giao dịch chứng khoán được Ủy ban chứng khoán công bố lấy ý kiến thành viên thị trường cũng thu hút sự chú ý của giới đầu tư. Dự thảo có nội dung cơ bản là rút ngắn thời gian giao dịch cổ phiếu của nhà đầu tư từ T+3 xuống T+2, cho phép giao dịch chứng khoán trong ngày (tức T+0). Dù dự thảo đang được đưa ra lấy ý kiến thành viên thị trường nhưng đã được nhiều chuyên gia đánh giá sẽ cải thiện đáng kể thanh khoản thị trường và tạo tâm lý tích cực với giới đầu tư.

 Sở GDCK Hà Nội chính thức tăng biên độ giao dịch sàn UPCOM từ 10% lên 15%.

 Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô tiếp tục ở trạng thái tích cực:

o Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2015 ước đạt 6,28%.

o Lãi suất ổn định ở mức thấp

o Sản xuất công nghiệp tăng trưởng 9,6%.

o Lạm phát cơ bản 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ ở mức thấp 2,24%.

o Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm đúng lộ trình đạt hơn 6%.

 Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong quý 1 cho thấy những chuyển biến tích cực được nối tiếp so với cùng kỳ năm 2014.

 Diễn biến tăng mạnh của nhóm cổ phiếu ngân hàng tiếp tục là động lực cho sự hồi phục tích cực của thị trường giai đoạn này.

 Giao dịch của khối ngoại tiếp tục mua ròng lớn tập trung vào các cổ phiếu bluechip lớn hưởng lợi từ việc nới room, các cổ phiếu vốn hóa lớn trong danh mục các quỹ ETF.

d) Giai đoạn suy giảm mạnh 15/07 – 25/08/2015: VNINDEX giảm từ 641 điểm xuống 511 điểm

VN-index chính thức tạo đỉnh 641 điểm vào ngày 15/07/2015 và hình thành xu thế suy giảm liên tiếp cho tới nay, trạng thái điều chỉnh bắt đầu từ diễn biến tương quan cung cầu thông thường khi ưu thế nghiêng về bên bán trong bối cảnh thị trường tạo đỉnh rõ ràng, ngoài ra thì sự tác động bất ngờ từ các yếu tố bên ngoài đã khiến thị trường suy giảm nhanh và mạnh hơn so với dự kiến, cụ thể các tác động biên ngoài:

 Giá dầu giảm mạnh trở lại từ mức hơn 51 usd/thùng xuống mức 41 usd/thúng, tương ứng mức giảm hơn 20%, thực tế này phần nào khiến tâm lý nhà đầu tư bi quan với triển vọng cổ phiếu ngành dầu khí và thực hiện bán ra nhóm cổ phiếu này trên thị trường, đây là một trong những nguyên nhân khiến các CP lớn thuộc ngành này giảm mạnh (GAS, PVD, PVS, PVC…) qua đó tác động tới chỉ số chung.

 Biến động bất ngờ khi ngân hàng trung ương Trung Quốc thay đổi chính sách điều hành tỷ giá đồng NDT, chuyển sang thả nổi tỷ giá theo thị trường, trong 3 phiên đầu tiên áp dụng cơ chế mới đồng NDT mất giá hơn 4,5% và tạo áp lực lớn lên các quốc gia có quan hệ thương mại lớn với Trung Quốc, trong đó có Việt Nam. Để ứng phó với diễn biến này NHNNVN đã chính thức nới biên độ tỷ giả đồng USD lên mức +/- 2% và điều này đã phần nào tác động đến tâm lý chung trên thị trường chứng khoán, tạo áp lực suy giảm chỉ số chung.

 Các biến động tỷ giá kéo theo động thái giảm mua và bán ròng trở lại của khối nhà đầu tư nước ngoài, bên cạnh đó việc quỹ VNM ETF có mức discount lớn và bị rút chứng chỉ quỹ cũng khiến quỹ này phải bán ra cổ phiếu tại thị trường Việt Nam, tổng hòa các yếu tố này cũng khiến chỉ số VN-index chịu áp lực điều chỉnh mạnh hơn dự kiến.

e) Giai đoạn tăng trƣởng 25/08 – 06/11/2015: VNINDEX tăng từ 511 điểm lên vùng 617 điểm

Giai đoạn hồi phục này bắt đầu diễn ra sau khi thị trường kết thúc xu thế giảm mạnh trước đó với việc VNINDEX tạo đáy ở mức 511 điểm, sự hồi phục của thị trường có các nguyên nhân chính như:

 Thị trường giảm sâu bật mạnh, hiện tượng thường xẩy ra khi thị trường có tín hiệu suy giảm thái quá, đa số cổ phiếu bluechip hồi phục tích cực nhờ lực cầu của khối nhà đầu tư nội. Trong bối cảnh kinh tế cải thiện, hoạt động của doanh nghiệp tốt dần lên thì việc giá cổ phiếu suy giảm quá đà đã tạo ra các vùng giá hấp dẫn để dòng tiền trong nước đón cơ hội đầu tư và đây là nguyên nhân ban đầu khiến các chỉ số thị trường hồi phục trở lại.

 Bước sang tháng 9 thị trường trải qua giai đoạn biến động đi ngang trong biên độ hẹp trước khi tăng trưởng trở lại, đây là giai đoạn các chỉ số nói chung và giá cổ phiếu nói riêng ít biến động, thanh khoản thị trường ở mức thấp và thị trường dần tạo mặt bằng giá mới sau giai đoạn biến động lớn trước đó.

 Bước sang tháng 10, thời điểm nghị định 60 chính thức có hiệu lực trong đó có nội dung quan trọng về việc nới room cho khối ngoại, và điểm quan trọng nhất trong những ngày đầu tháng 10 là việc hiệp định TPP đã chính thúc kết thúc đàm phán thành công vào ngày 05/10/2015, thành công này mở ra triển vọng lạc quan cho các nền kinh tế tham gia TPP trong đó có Việt Nam và gần như ngay lập tức các hiệu ứng tích cực đã được phản ánh vào biến động của TTCK. Các chỉ số tăng mạnh trở lại, giá cổ phiếu tăng khá đặc biệt là nhóm cổ phiếu hưởng lợi từ TPP như dệt may, thủy sản, cảng biển, bất động sản khu công nghiệp… Ngoài ra thì sự tăng giá tốt của hầu hết các cổ phiếu Bluechip khác cũng hỗ trợ đà tăng của thị trường.

 Sự thành công của vòng đàm phán TPP đã khiến dòng vốn ngoại có tín hiệu vào thị trường Việt Nam mạnh mẽ hơn, cả dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI thông qua các dự án mở nhà máy sản xuất nhằm tận dụng các lợi thế TPP đem lại cho Việt Nam và dòng vốn đầu tư gián tiếp FII vào các doanh nghiệp sẽ hưởng lợi lớn nhờ triển vọng kinh doanh được dự báo khả quan khi Việt Nam tham gia TPP (Cảng biển, logistic, khu công nghiệp, dệt may, thủy sản…)

 Tháng 10 cũng là thời điểm báo cáo kết quả kinh doanh quý 3/2015, mặt bằng chung của đa số doanh nghiệp là ghi nhận kết quả khả quan và diễn biến giá cổ phiếu biến động phân hóa rõ ràng theo kết quả kinh doanh giai đoạn này.

 Ngoài ra, kế hoạch thoái vốn của SCIC đối với 10 doanh nghiệp lớn điển hình là VNM, FPT, BMP, BMI, NTP… cũng là một trong những yếu tố hỗ trợ thị trường, các doanh nghiệp thuộc diện thoái vốn đều có hoạt động kinh doanh tốt và được nhiều tổ chức đầu tư cả trong nước và nước ngoài quan tâm. Gía trị thoái vốn là hơn 66 ngàn tỷ, do đó Chính Phủ định hướng mở room cho khối ngoại nhằm tạo điều kiện thoái vốn thành công đảm bảo lợi ích thoái vốn với giá tốt nhất, thực tế này có thể giúp các chính sách nới room được đẩy nhanh hơn và TTCKVN có cơ hội mở rộng đón dòng vốn đầu tư nước ngoài mới.

 Động thái mạnh tay của NHNN trong việc ban hành liên tiếp thông tư 15 (quy định về giao dịch ngoại tệ của các TCTD) và thông tư 16 (quy định hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam) sẽ là một trong những giải pháp giúp ổn định tỷ giá VND/USD.

f) Giai đoạn suy giảm 06/11 – hiện nay (31/12/2015): VNINDEX giảm từ 617 xuống 579 điểm

Giai đoạn suy giảm này diễn ra sau khi thị trường tạo đỉnh 617 điểm vào ngày 06/11/2015 và hình thành xu thế suy giảm cho đến nay, các yếu tố tác động khiến thị trường suy giảm có thể kể đến như:

 Biến động tỷ giá VND/USD diễn biến căng thẳng do lo ngại động thái FED tăng lãi suất trong cuộc họp vào ngày 18-19/12/2015 (FED đã tăng 0,25% lãi suất điều hành trong kỳ họp này), thực tế cho thấy đồng USD đã mạnh lên so với hầu hết các đồng tiền khác, tạo áp lực giảm giá lên VND.

 Chính nhưng lo ngại về vấn đề tỷ giá đã khiến nhà đầu tư nước ngoài bán ra cổ phiếu tại thị trường VN nhằm tránh rủi ro giảm hiệu quả đầu tư do VND mất giá, tính chung từ ngày 06/11/2015 đến nay khối ngoại đã bán ròng hơn 2.662 tỷ đồng trên sàn TPHCM (HSX) và bán ròng hơn 125 tỷ đồng trên sàn Hà Nội (HNX). Các giao dịch bán ròng của khối ngoại tập trung vào các cổ phiếu vốn hóa lớn có tác động mạnh tới chỉ số thị trường và là nguyên nhân chính khiến thị trường suy giảm giai đoạn này.

 Ngoài hoạt động bán ròng của các NĐTNN nói chung, thì hoạt động cơ cấu danh mục của hai quỹ VNM ETF và FTSE ETF trong tháng 12/2015 cũng theo hướng không tích cực, cụ thể: (1) các quỹ này đều bị giảm số lượng chứng chỉ quỹ do hoạt động rút vốn của NĐT, (2) việc tái cơ cấu tỷ trọng danh mục cũng khiến các quỹ này bán giảm tỷ trọng một số cổ phiếu bluechip lớn tại TTVN, trong khi các cổ phiếu được thêm mới đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ không tác động lớn tới chỉ số, do đó nhìn chung các quỹ này cũng bán ròng trong quá trình tái cơ cấu danh mục.

 Cuối tháng 12/2015 cũng là thời điểm diễn ra kỳ nghỉ lễ Noel khiến nhà đầu tư nước ngoài giảm mạnh giao dịch càng khiến thanh khoản thị trường suy giảm.

 Xu thế tăng điểm hình thành trước đó bị phá vỡ về mặt kỹ thuật cũng đã khiến NĐT trong nước bán ra cổ phiếu khiến thị trường hình thành xu thế giảm điểm rõ ràng hơn với thanh khoản giảm dần

Các chính sách mới có ảnh hƣởng tới thị trƣờng

a) Chỉnh phủ điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa phù hợp nhằm duy trì các điều kiện kinh tế vĩ mô tích cực hỗ trợ nền kinh tế nói chung và hệ thống doanh nghiệp nói riêng. Duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng với mặt bằng lãi suất ở mức thấp, kiềm chế lạm phát ở mức thấp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng vào sản xuất… là các biện pháp cơ bản được thực hiện trong năm 2015

b) Ngày 5/5/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2015/NĐ-CP quy định về chứng khoán phái sinh (CKPS) và thị trường chứng khoán phái sinh. Đối tượng áp dụng của Nghị định này là đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư CKPS và hoạt động trên thị trường CKPS tại Việt Nam. Tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán phái sinh và thị trường CKPS tại Việt Nam. Sự ra đời của nghị định này tạo nền tảng pháp lý cho sự ra đời của các sản phẩm phái sinh trong thời gian tới.

c) Ngày 26/6/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán. Nghị định sẽ có hiệu lực kể từ 1/9/2015. quy định cụ thể các vấn đề về room cho NDTNN và Phát hành riêng lẻ, phát hành ra công chúng, trong đó việc mở room cho nhà đầu tư nước ngoài được thị trường quan tâm và đón nhận nhất. Việc nới room được kỳ vọng sẽ là liều “doping” cho chứng khoán trong thời gian tới.

d) Tháng 8/2015 UBCKNN đã ban hành dự thảo xin ý kiến thành viên thị trường về Thông tư thay thế Thông tư 74 ngày 1/6/2011 hướng dẫn về giao dịch chứng khoán. Dự thảo có nội dung cơ bản là rút ngắn thời gian giao dịch cổ phiếu của nhà đầu tư từ T+3 xuống T+2, cho phép giao dịch chứng khoán trong ngày (tức T+0). Dù dự thảo đang được đưa ra lấy ý kiến thành viên thị trường nhưng đã được nhiều chuyên gia đánh giá sẽ cải thiện đáng kể thanh khoản thị trường và tạo tâm lý tích cực với giới đầu tư.

e) Ngày 19/08/2015 Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 123/2015/TT-BTC hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2015. Thông tư quy định chi tiết trình tự thủ tục, hồ sơ hướng dẫn để các công ty đại chúng nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán.

f) Trong năm 2015 Sở GDCK Hà Nội chính thức tăng biên độ giao dịch sàn UPCOM từ 10% lên 15%. g) Tháng 10/2015 Chính Phủ chính thức công bố kế hoạch thoái vốn của SCIC tại 10 doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp điển hình như VNM, FPT, BMP, BMI… Kế hoạch này đã giúp thị trường đón nhận nhiều sự quan tâm hơn của khối nhà đầu tư nước ngoài. h) Động thái mạnh tay của NHNN trong việc ban hành liên tiếp thông tư 15 (quy định về giao dịch ngoại tệ của các TCTD) và thông tư 16 (quy định hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam) là một trong những giải pháp giúp ổn định tỷ giá VND/USD

. i) Nghị định 118/2015/NĐ-CP được Chính Phủ ban hành ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đầu tư, Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 27/12/2015. Về cơ bản nghị định đã đưa ra các quy định cụ thể hơn về hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, các ưu đãi đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư và là nền tảng để hướng tới cụ thể hơn các ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong thời gian tới mà cụ thể sẽ là vấn đề room của NĐTNN trong các ngành nghề chi tiết đang rất được TTCK mong đợi. j) Ngày 04/12/2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 23/2015/TT-NHNN (Thông tư 23) sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) ban hành kèm theo Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 09/6/2003 (Quyết định 581) của Thống đốc NHNN. Trong đó đáng chú ý, Thông tư 23 bổ sung thêm khoản 2 vào Điều 10 của Quyết định 581: “Đối với TCTD đang thực hiện phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, TCTD tham gia cơ cấu lại TCTD yếu kém theo chỉ định, Thống đốc NHNN xem xét quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cụ thể cho từng TCTD.” Điều này mở ra khả năng NHNN có thể xem xét giảm thêm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng tham gia cơ cấu trong hệ thống, tạo thêm nguồn tiền để các NHTM kinh doanh, góp phần tăng thanh khoản hệ thống.

k) Ngoài ra theo ông Nguyễn Sơn – Vụ trưởng Vụ phát triển thị trường UBCKNN thì trong năm 2016 sẽ có thêm nhiều văn bản liên quan đến thị trường chứng khoán sẽ được trình Bộ Tài Chính ban hành, đặc biệt là nhóm chính sách nhằm hỗ trợ thanh khoản cho thị trường.

Thanh khoản thị trƣờng – quy mô phát hành và GDNĐTNN

mbs 

hotline