Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Triển vọng Việt Nam năm 2015

Được đăng vào

Triển vọng Việt Nam năm 2015

CHÚNG TÔI LẠC QUAN NHƯNG CHỌN LỌC

Trong kịch bản xảy ra với xác suất lớn nhất (base case), chúng tôi dự báo năm 2015, VN-Index sẽ tăng khoảng 14,6% từ mức cuối năm 2014 dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố về cơ bản của kinh tế vĩ mô, doanh nghiệp và quan hệ cung – cầu trên TTCK. Theo đó, kinh tế vĩ mô năm 2015 và tăng trưởng lợi nhuận các doanh nghiệp niêm yết được chúng tôi đánh giá là tiếp tục tích cực, hỗ trợ đà tăng điểm của TTCK.

Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố như: số lượng các doanh nghiệp dự kiến IPO và phát hành thêm trong năm 2015 còn rất lớn, tác động của Thông tư 36, lượng cung trên TTCK có thể tăng lên trong khi dòng tiền vào thị trường có thể không tăng tương ứng là nguyên nhân kiềm chế đà tăng trưởng của VN-Index. Trong bối cảnh dòng tiền hạn chế đó, chúng tôi cho rằng để có hiệu quả, các nhà đầu tư sẽ chọn lọc các cơ hội đầu tư.

Dòng tiền sẽ tìm đến các cổ phiếu có các câu chuyện và các yếu tố tạo ra tiềm năng tăng giá cổ phiếu (catalysts). Trong số các ngành trong danh sách lựa chọn của chúng tôi, cổ phiếu của nhóm ngân hàng đầu ngành là tâm điểm của năm 2015. Chúng tôi cho rằng sau mấy năm bị quên lãng, 2015 là năm đánh dấu sự trở lại của nhóm cổ phiếu “vua” này. Ngoài ra, một số cổ phiếu ngành bất động sản, xây dựng, hạ tầng cũng thuộc danh mục ưu tiên của chúng tôi.

Kinh tế vĩ mô tích cực

 GDP dự báo tiếp tục tăng trưởng 6-6,2%, cao hơn so với mức tăng 2014 5,98%

 Lãi suất tiếp tục được duy trì ở mức thấp hỗ trợ đầu tư và tiêu dùng

 Hiệu quả đầu tư của nền kinh tế tăng lên với hệ số ICOR đạt mức 5,1 điểm, mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua.

 Khu vực tư nhân và khu vực FDI có dấu hiệu hồi phục song không quá mạnh khi tỷ lệ đầu tư từ các khu vực này chưa tăng nhiều.

 Quá trình tái cơ cấu ngân hàng sẽ được thúc đẩy quyết liệt trong năm 2015 với 6 thương vụ sáp nhập. Cải cách khu vực đoanh nghiệp Nhà nước vẫn tiếp tục được đẩy mạnh với hơn 140 doanh nghiệp được cổ phần hóa trong năm 2014 và dự kiến 345 doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa trong năm 2015.

Tiêu điểm (catalysts)

 2015 là năm của một loạt các hiệp định thương mại được ký kết giữa Việt Nam và các đối tác quan trọng: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga – Belarus – Kazakhstan, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU,…

 Chính sách khuyến khích giảm lãi suất cho vay theo Chỉ thị 01

 Đẩy mạnh giải ngân gói tín dụng 30.000 tỷ và bổ sung gói tín dụng bất động sản 50.000 tỷ

 Giá dầu giảm và dự báo tiếp tục duy trì ở mức thấp một mặt giúp nhiều doanh nghiệp giảm được chi phí đầu vào, mặt khác làm tăng thu nhập khả dụng (disposable income) của người dân.

hướng dẫn mở tài khoản chứng khoán mbs 

TRIỂN VỌNG VĨ MÔ VÀ TTCK 2015

Tổng quan . Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực năm 2014 với GDP tăng 5,98% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch đề ra ở mức 5,8%. Lạm phát được duy trì ở mức thấp nhất trong vòng nhiều năm là 1,84% tạo điều kiện cho NHNN tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng khiến mặt bằng lãi suất giảm khoảng 1,5 -2% so với cùng kỳ, kích thích đầu tư và tiêu dùng. Tỷ giá USD/VND được duy trì ổn định nhờ thặng dư cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối tăng lên mức kỷ lục là 36 tỷ VNĐ.

Bước sang năm 2015, triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục khả quan khi mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ở mức thấp hỗ trợ đầu tư và tiêu dùng từ khu vực tư nhân có dấu hiệu phục hồi, tiến trình tái cơ cấu khu vực nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công được thúc đẩy làm gia tăng hiệu quả của nền kinh tế và đầu tư từ khu vực FDI tiếp tục hứa hẹn sẽ tăng lên với việc một loạt các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam và các đối tác như EU, Hàn Quốc và Nga - Belarus được ký kết.

Trong năm 2015, chúng tôi kỳ vọng GDP sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn với mức tăng từ 6-6,2%, lạm phát giao động quanh mức 4%, thị trường ngoại hối ổn định với biên độ tăng tỷ giá VND/USD không quá 2%. Tăng trưởng tín dụng dự kiến sẽ vào khoảng 13- 15%, mặt bằng lãi suất có thể sẽ được điều chỉnh giảm thêm khoảng 0,5% để hỗ trợ khu vực doanh nghiệp.

Xét về tổng thể nền kinh tế Việt Nam đã chính thức chạm đáy trong năm 2012 và bắt đầu một xu hướng đi lên từ năm 2013 cho đến nay với tỷ lệ tăng trưởng GDP qua từng năm. Kinh tế vĩ mô cơ bản giữ ổn định với lãi suất cho vay tiếp tục trong xu hướng giảm, tỷ giá ổn định, cán cân thanh toán thặng dư hỗ trợ dự trữ ngoại hối gia tăng. Sản xuất công nghiệp có dấu hiệu phục hồi dần mặc dù vẫn ở mức thấp.

Đầu tư toàn xã hội tăng và duy trì ở mức hợp lý là 31% GDP. Nền kinh tế có dấu hiệu giảm vay nợ và chuyển dịch cơ cấu khi hiệu quả đầu tư tăng lên với chỉ số ICOR đạt 5,1 điểm, giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua.

Khu vực nhà tư nhân và khu vực FDI tiếp tục có dấu hiệu phục hồi song không quá mạnh khi tỷ lệ đầu tư từ các khu vực này chưa tăng nhiều. Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế đang được thúc đẩy mạnh hơn song vẫn chưa cho thấy sự chuyển biến cơ bản. Quá trình tái cơ cấu khu vực ngân hàng sẽ được thúc đẩy quyết liệt trong năm 2015 khi 6 thương vụ sáp nhập sẽ được diễn ra trong năm 2015. Cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được đẩy mạnh với hơn 140 doanh nghiệp được cổ phần hóa trong năm 2014 và dự kiến 345 doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa trong năm sau. Tái cơ cấu đầu tư công chỉ có cải thiện bước đầu khi Chính phủ kiểm soát tốt hơn đầu tư từ nguồn ngân sách với luật đầu tư công được ban hành.

1

Mức tăng trưởng đã chạm đáy năm 2012 và đang trong xu hướng đi lên bền vững trong các năm 2013 và 2014. Với sự cải thiện của khu vực sản xuất, yếu tố thuận lợi từ mặt bằng lãi suất thấp cộng thêm sự phục hồi của khu vực tư nhân, chúng tôi dự đoán GDP tiếp tục cải thiện trong 2 năm tới.

Chính sách tài khóa không còn nhiều dư địa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi thâm hụt ngân sách năm 2014 ở mức cao là 5,3% GDP. Trong năm 2015, thâm hụt ngân sách được định hướng giảm xuống mức 5% GDP, do đó chi tiêu công sẽ khó tăng đáng kể trong năm 2015. Trên thực tế, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cả từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đều hầu như không tăng trong năm 2014.

Chính sách tiền tệ tiếp tục được NHNN điều hành theo định hướng nới lỏng có kiểm soát nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và kiểm soát lạm phát. Năm 2015, NHNN định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18%, tín dụng tăng khoảng 13- 15%; ổn định tỷ giá (mức điều chỉnh không quá 2%); phấn đấu giảm tiếp mặt bằng lãi suất từ 1-1,5%.

Phân tích các chỉ tiêu kinh tế , Tăng trưởng GDP

GDP năm 2014 trưởng khả quan 5,98% và cải thiện dần theo từng quý (quý 1 tăng 5,06%; quý 2 tăng 5,34%; quý 3 tăng 6,07%; quý 4 tăng 6,96%). Mức tăng trưởng GDP cải thiện rõ nét so với năm 2012 và 2013, xác nhận xu hướng đi lên của nền kinh tế. Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục theo hướng tích cực cho thấy sự chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (Cơ cấu tương ứng của năm 2013 là: 18,38%; 38,31%; 43,31%). Đặc biệt khu vực công nghiệp tăng 7,14%, cao hơn nhiều mức tăng 5,43% của năm trước, cho thấy nền sản xuất đã có sự khởi sắc đáng kể.

PMI các ngành sản xuất liên tục đứng trên mức 50 điểm trong 17 tháng liên tiếp cho thấy lĩnh vực sản xuất đang mở rộng. Trong năm 2014, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,20% so với năm 2013, đóng góp 4,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 6,12%, cao hơn mức tăng 5,18% của năm trước); tích lũy tài sản tăng 8,90%, đóng góp 2,90 điểm phần trăm. Có thể thấy sức cầu của toàn nền kinh tế đã cải thiện khả quan khi mặt bằng lãi suất hạ và các thị trường tài sản (bất động sản, chứng khoán) diễn biến tích cực.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng 31% GDP, tăng 11,5% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn khu vực Nhà nước tăng 10,1%; vốn khu vực tư nhân tăng 13,6%; vốn khu vực nước ngoài tăng 10,5%. Mặc dù khu vực nhà nước vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội song xu hướng co hẹp của khu vực này là rõ ràng. Trong năm 2015 với việc đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, khu vực này sẽ tiếp tục giảm tỷ trọng và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân (hiệu quả hơn) tăng trưởng.

Trong năm 2014, Luật Đầu tư công đã được Quốc hội thông qua. Theo đó, công tác quản lý đầu tư được đổi mới cơ bản theo kế hoạch trung hạn. Nguồn vốn ngân sách đã được phân bổ tốt hơn, giảm bớt tình trạng đầu tư dàn trải. Chúng tôi nhận thấy, quan điểm điều hành của Chính phủ khá nhất quán khi giảm dần đầu tư công, giảm tỷ trọng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, huy động nguồn lực đầu tư phát triển từ khu vực tư. Chúng tôi tiếp tục đánh giá lạc quan về triển vọng tăng trưởng GDP trong năm 2015 ở mức 6,1% khi mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ở mức thấp, tín dụng được khơi thông nhờ quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài gia tăng khi các hiệp định thương mại tự do được ký kết.

Lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng tháng năm 2014 chỉ tăng 1,84% so với năm trước. Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Nguyên nhân lạm phát thấp một mặt là do nhu cầu tiêu dùng trong nước chưa hoàn toàn phục hồi và mặt khác là do giá cả các mặt hàng thiết yếu trên thế giới ổn định và có xu hướng giảm đáng kể nhất là giá dầu thô.

Theo đó, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống vào cuối tháng 12 chỉ tăng 2,61% so với tháng 12/2013, thấp hơn nhiều so với mức tăng 5,08% của cùng kỳ năm trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm, kéo theo chỉ số giá nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng và nhóm giao thông tháng 12 năm nay lần lượt giảm 1,95% và giảm 5,57% so với cùng kỳ năm trước, ngược với xu hướng tăng 5,49% và tăng 2,6% của cùng kỳ năm 2013.

Bên cạnh đó, mặc dù Chính phủ vẫn tiếp tục điều chỉnh tăng giá một số dịch vụ công như điện, y tế, giáo dục… nhằm giảm bớt sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, song mức độ điều chỉnh thấp hơn so với những năm trước nên không tác động mạnh lên chỉ số giá tiêu dùng cả năm. Chúng tôi đánh giá đây là điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam trong năm nay. Lạm phát thấp hơn và mức tăng trưởng cao hơn cho thấy hiệu năng của nền kinh tế đã có cải thiện hơn mặc dù mức cải thiện là không nhiều. Áp lực lạm phát giảm sẽ có tác dụng làm tăng niềm tin vào hệ thống kinh tế và qua đó thúc đẩy đầu tư trong các năm sau.Bên cạnh đó, mặc dù Chính phủ vẫn tiếp tục điều chỉnh tăng giá một số dịch vụ công như điện, y tế, giáo dục… nhằm giảm bớt sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, song mức độ điều chỉnh thấp hơn so với những năm trước nên không tác động mạnh lên chỉ số giá tiêu dùng cả năm. Chúng tôi đánh giá đây là điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam trong năm nay. Lạm phát thấp hơn và mức tăng trưởng cao hơn cho thấy hiệu năng của nền kinh tế đã có cải thiện hơn mặc dù mức cải thiện là không nhiều. Áp lực lạm phát giảm sẽ có tác dụng làm tăng niềm tin vào hệ thống kinh tế và qua đó thúc đẩy đầu tư trong các năm sau.

2

Chúng tôi dự báo lạm phát đã chính thức chạm đáy trong năm 2014 và sẽ tăng lên trong năm 2015 song sẽ tiếp tục được duy trì ổn định ở mức thấp khoảng 4% do giá cả hàng hóa thế giới vẫn khá ổn định, giá cả hàng hóa dịch vụ công có thể sẽ được điều chỉnh tăng trong thời gian tới nhưng với mức độ chậm hơn trong những năm trước đó và chính sách điều hành thận trọng của NHNN.

Tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán

Tỷ giá VND/USD chỉ tăng nhẹ trong năm 2014 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục ổn định trong năm 2015 khi cán cân thương mại của Việt Nam liên tục thặng dư khả quan trong các năm 2012, 2013 và 2014. Dự trữ ngoại hối ở mức kỷ lục (36 tỷ USD), tạo điều kiện cho NHNN duy trì một mức tỷ giá VND/USD hợp lý nhằm tạo lập một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định.

Mặc dù lãi suất huy động VND có xu hướng giảm song vẫn cao hơn đáng kể so với lãi suất huy động USD. Trong bối cảnh lạm phát duy trì ở mức thấp người dân có xu hướng bán USD và nắm giữ VND, tạo điều kiện cho NHNN có thêm nhiều dư địa để duy trì mức tỷ giá VND/USD hợp lý. Trong năm 2015, USD có xu hướng mạnh lên nhờ sự tăng trưởng mạnh của nền kinh tế Mỹ sẽ tạo sức ép lên VND. Do đó, chúng tôi đánh giá NHNN sẽ chọn giải pháp điều chỉnh tăng nhẹ tỷ giá VND/USD nhằm giảm áp lực đồng thời hỗ trợ xuất khẩu.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng mức điều chỉnh sẽ không quá 2%. Cán cân thương mại của Việt Nam năm 2014, đánh dấu năm thứ 3 liên tiếp thặng dư với mức thặng dư là 2 tỷ USD. Tuy nhiên trong năm 2015, chúng tôi đánh giá cán thặng dư cân thương mại có khả năng giảm nhẹ khi giá dầu thô (một mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Việt Nam) đã giảm mạnh trong thời gian qua. Ngoài ra sự sụt giảm của giá cả hàng hóa toàn cầu cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành xuất khẩu khác của Việt Nam như cao su, cà phê …

3

Dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong năm 2015 sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi dòng vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối và xuất khẩu từ khu vực FDI. Trong cả năm 2014, số vốn FDI giải ngân đạt 12,4 tỷ USD, tăng 7,4 % so với cùng kỳ năm và có triển vọng gia tăng trong năm 2015 khi các nhà đầu tư nước ngoài đã có niềm tin hơn với môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam cũng đang đàm phán các Hiệp định Thương mại tự do với các nền kinh tế lớn, tạo điều kiện để Việt Nam thu hút mạnh mẽ đầu tư FDI trong thời gian tới.

Chính sách tiền tệ

Trong năm 2015, NHNN vẫn kiên định duy trì quan điểm điều hành chính sách tiền tệ đã thực hiện trong các năm 2013 và 2014 đó là chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm pháp theo mục tiêu đề ra (dưới 5%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý (6,2%), bảo đảm thanh khoản của các TCTD và nền kinh tế, duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, phấn đấu tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung, dài hạn thêm từ 1%/năm đến 1,5%/năm, hỗ trợ thị trường tài chính trong huy động vốn cho đầu tư phát triển.

Năm 2015, NHNN định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18%, tín dụng tăng khoảng 13-15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tế; ổn định tỷ giá (mức điều chỉnh không quá 2%), thị trường ngoại tệ, thị trường vàng. Chúng tôi đánh giá NHNN vẫn duy trì quan điểm nới lỏng song có kiểm soát thận trọng đối với chính sách tiền tệ. Chúng tôi cho rằng với áp lực lạm phát thấp trong năm 2015, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất có thể giảm thêm 0,5%.

Chính sách tài khóa

Bức tranh tài khóa của Việt Nam vẫn trong giai đoạn khá căng thẳng khi thâm hụt ngân sách/GDP liên tục ở mức cao khiến nợ công tăng nhanh. Dự kiến trong năm 2015 mức nợ công/GDP sẽ đạt mức 64%, gần chạm mức trần cho phép của Quốc Hội. Với định hướng giảm dần thâm hụt ngân sách từ năm 2015 trở đi cộng thêm nguồn thu ngân sách hạn chế, thì dư địa hỗ trợ nền kinh tế của chính sách tài khóa đã không còn.

Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục phải phát hành trái phiếu với khối lượng lớn để thực hiện nghĩa vụ trả lãi và nợ gốc, đồng thời thực hiện các dự án đầu tư theo kế hoạch. Áp lực phát hành trái phiếu chính phủ dự kiến sẽ tiếp tục tăng lên trong năm 2015 và gây sức ép lên mặt bằng lợi suất trái phiếu. Chúng tôi đánh giá lợi suât trái phiếu Chính Phủ đã chạm đáy trong năm 2014 và sẽ tăng lên trong năm 2015. Điều này sẽ khiến mặt bằng lãi suất sẽ chỉ giảm nhẹ trong năm 2015, mặc dù áp lực lạm phát là thấp. Việc giá dầu thô giảm mạnh cũng sẽ tác động tiêu cực đến nguồn thu ngân sách. Theo đánh giá của chúng tôi giá dầu sẽ giao động quanh mức 50 USD/thùng trong năm 2015 và ngân sách sẽ bị hụt thu khoảng 50.000 tỷ VNĐ. Chính phủ có thể bù đắp một phần hụt thu từ việc tăng thuế nhập khẩu và tiêu thụ xăng dầu song không thể bù đắp hết các tác động tiêu cực lên ngân sách.

4

Kinh tế thế giới: Tiếp tục phục hồi dù không đều ở các khu vực

Tổng quan .  Kinh tế thế giới được dự báo sẽ tiếp tục phục hồi trong năm 2015 mặc dù với tốc độ còn chậm và không đồng đều. Theo dự báo của IMF, tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2015-2016 lần lượt vào khoảng 3,5% và 3,7%, cao hơn khoảng 0,2-0,4 điểm % cho mức 3,3% trong năm 2014. Kinh tế Mỹ đang trên đà tăng trưởng cao và tiếp tục là đầu tầu dẫn dắt nền kinh tế thế giới trong năm 2015. Trong khi đó, tăng trưởng chậm của khu vực Châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc sẽ kìm hãm đà tăng chung này.

6

Thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu trong năm nay và năm 2016 dự báo sẽ khởi sắc hơn, tăng khoảng 3,8% và 5,3%, cao hơn so với con số 3,1% của năm 2014 nhờ các nền kinh tế lớn đang dần hồi phục và các thỏa thuận thương mại đa phương mới đang được đàm phán như Hiệp định Đối tác đầu tư và thương mại xuyên Đại Tây Dương (TTIP), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (RCEP) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)...

3

Giá cả hầu hết các hàng hóa trên thế giới bao gồm cả năng lượng, nông nghiệp, kim loại, phân bón... đều đạt đỉnh vào năm 2011 và có xu hướng giảm dần. Trong đó, đáng chú ý là giá dầu thô thế giới giảm mạnh khoảng 55% xuống mức thấp nhất trong vòng 4 năm gần đây. Giá cả hàng hóa nông nghiệp, kim loại và kim loại quý cũng giảm lần lượt là 6%, 8% và 9% trong cả năm 2014. Nguồn cung dồi dào, triển vọng tăng trưởng thế giới thấp hơn kỳ vọng và sự lên giá của USD đã dẫn đến sự giảm sút giá cả hàng hóa thế giới. Riêng giá dầu đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sản lượng dầu đá phiến tăng mạnh tại Mỹ cùng với quyết định của OPEC về việc không cắt giảm sản lượng dầu.

Chúng tôi dự báo sẽ có thể tiếp tục giảm nhẹ trong năm 2015 và ổn định trong năm 2016. Giá dầu được kỳ vọng sẽ ở mức trung bình là 53 USD/thùng trong năm nay và tăng nhẹ thêm 4 USD/thùng vào năm sau. Ngoài ra, giá hàng hóa nông nghiệp, kim loại được dự báo sẽ giảm khoảng 5% và 5,3% trong năm 2015. Giá cả hàng hóa cơ bản ở mức thấp sẽ giúp cho giá cả tiêu dùng tiếp tục ổn định trong năm 2015.

3

Diễn biến của các nền kinh tế lớn trên thế giới

Kinh tế Mỹ . Kinh tế Mỹ đã phục hồi bền vững trong năm 2014 với sự cải thiện mạnh mẽ về thị trường lao động, đầu tư tư nhân tăng, thị trường nhà đất hồi phục và lạm phát ở mức thấp. GDP tăng 2,4% trong năm 2014, cao hơn mức 2,2% của năm 2013. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm mạnh từ 6,6% vào cuối năm 2013 xuống còn 5,6% trong năm 2014. Doanh số bán lẻ và giá nhà đất cũng tăng khá nhanh trong năm 2014. Chỉ số PMI ngành sản xuất luôn ở trên 50 điểm trong giai đoạn 2010-2014 cho thấy các điều kiện sản xuất được mở rộng trong thời gian qua.

3

Mỹ được kỳ vọng sẽ tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2015 với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới dự báo đạt 3,6% trong năm nay. Tỷ lệ thất nghiệp được kỳ vọng sẽ giảm nhanh hơn và lạm phát ở mức thấp hơn ngưỡng mục tiêu 2%. Giá năng lượng giảm sẽ khiến thu nhập thực tế của người dân tăng lên và theo đó tiêu dùng được đẩy mạnh, sản xuất gia tăng, thị trường nhà đất phát triển, sẽ hỗ trợ cho sự tăng trưởng của cả nền kinh tế trong năm tới.

Kinh tế khu vực đồng tiền chung Châu Âu

Quá trình hồi phục kinh tế diễn ra khá chậm tại khu vực châu Âu với các hậu quả còn lại từ khủng hoảng tài chính như tổng cầu thấp, nợ công cao, tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao trên 11%… tiếp tục là những thách thức đối với sự tăng trưởng bền vững của khu vực. Sản lượng công nghiệp và đầu tư ở mức thấp hơn nhiều so với trước khủng hoảng. Tăng trưởng kinh tế thấp và không đồng đều ở các nước. Tăng trưởng GDP chỉ đạt 0,8% trong năm 2014 và dự kiến sẽ tăng nhẹ lần lượt khoảng 1,2% và 1,4% trong năm 2015 và 2016 nhờ sự hỗ trợ từ giá dầu thấp và chính sách tiền tệ nới lỏng.

3

Lạm phát luôn ở dưới mức mục tiêu gần 2% của Ngân hàng trung ương ECB kể từ đầu năm 2013, thậm chí CPI còn giảm 0,2% vào cuối năm 2014 cho thấy tổng cầu tiêu dùng và đầu tư ở mức thấp do kinh tế chuyển biến chậm. Lạm phát được kỳ vọng sẽ tiếp tục ở mức thấp trong năm 2015 ngay cả khi các gói kích thích kinh tế lớn sắp được bơm ra thời gian tới. Tăng trưởng GDP tại Pháp, Ý, Tây Ban Nha sẽ cải thiện trong năm 2015, đạt lần lượt là 0,9%, 0,4% và 2%. Trong khi đó, kinh tế Đức tăng trưởng chậm lại, giảm từ mức 1,5% trong năm 2014 xuống còn 1,3% trong năm 2015.

Kinh tế Trung Quốc.  Kinh tế Trung Quốc đang trong chiều hướng tăng chậm lại với tăng trưởng GDP trong năm 2014 của nước này đạt 7,4%, là mức thấp nhất trong vòng 24 năm. Chỉ số PMI ngành sản xuất trung bình trong năm qua ở mức 49,6 điểm cho thấy sản xuất đang bị thu hẹp. Tốc độ tăng doanh số bán lẻ chỉ đạt 11,9% trong năm 2014, giảm đáng kể so với mức 13,6% trong năm 2013. Thị trường bất động sản vốn đang suy giảm mạnh với giá nhà đất trung bình tại 70 thành phố đã giảm 4,3% trong năm 2014.

Mở tài khoản chứng khoán MBS ở đâu ?

1

Trước các dấu hiệu kinh tế tăng trưởng chậm lại, từ tháng 4/2014 đến nay Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng một số các chính sách để ổn định kinh tế như nới lỏng chính sách tiền tệ, giảm gánh nặng thuế cho các doanh nghiệp nước này. Đặc biệt gần đây, Trung Quốc liên tục đưa ra nhiều biện pháp để ngăn chặn đà suy giảm của thị trường bất động sản như dỡ bỏ những hạn chế mua nhà, nới lỏng tín dụng cũng như hỗ trợ lãi suất cho người mua. Tuy nhiên, IMF dự báo trong năm nay và năm sau, kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng chậm lại ở mức lần lượt ở mức 6,8% và 6,3%.

Các yếu tố ảnh hưởng và triển vọng TTCK năm 2015

11

Năm 2015 khả năng thị trường sẽ tiếp tục được củng cố bởi những yếu tố thuận lợi từ nội tại nền kinh tế đang trên đà hồi phục khả quan và kỳ vọng về các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Tuy nhiên vẫn còn không ít khó khăn trong bối cảnh tác động ngắn hạn của chính sách điều hành, tác động từ sự bất ổn định của môi trường kinh tế, chính trị quốc tế. Và một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới xu hướng thị trường đó là vai trò và xu hướng của dòng vốn quốc tế. Dự báo thị trường trong năm 2015 sẽ có những đợt sóng hồi phục và suy giảm đan xen nhưng khả năng sẽ không có những con sóng kéo dài như đã từng diễn ra trong năm 2014.

Triển vọng kinh tế vĩ mô lạc quan là nền tảng củng cố cho sự hồi phục của TTCK

Nền kinh tế phục hồi tích cực hơn trong năm 2014 với GDP tăng 5,98% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch đề ra ở mức 5,8%. Lạm phát thấp, mặt bằng lãi suất giảm, tỷ giá ổn định. Ngoài ra, cán cân thương mại thặng dư, kiều hối lớn và vốn FDI giải ngân tăng trưởng tốt tiếp tục là động lực thúc đẩy kinh tế cũng như mang lại nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào cho Việt Nam. Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô vẫn còn những vấn đề tồn đọng như cầu nội địa thấp, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng chưa đạt được kết quả như kỳ vọng, nợ xấu cao, lãi suất cho vay giảm chậm, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn kinh doanh.

Bước sang năm 2015, triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục khả quan khi mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ở mức thấp, hỗ trợ đầu tư và tiêu dùng từ khu vực tư nhân có dấu hiệu phục hồi, tiến trình tái cơ cấu khu vực nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công được thúc đẩy làm gia tăng hiệu quả của nền kinh tế và đầu tư từ khu vực FDI tiếp tục hứa hẹn sẽ tăng lên với việc một loạt các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam và các đối tác như EU, Hàn Quốc và Nga - Belarus được ký kết. Trong năm 2015, chúng tôi kỳ vọng GDP sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn với mức tăng từ 6-6,2%, lạm phát dao động quanh mức 4%, thị trường ngoại hối ổn định với biên độ tăng tỷ giá VND/USD không quá 2%. Tăng trưởng tín dụng dự kiến sẽ vào khoảng 13-15%, mặt bằng lãi suất có thể sẽ được điều chỉnh giảm thêm khoảng 0,5% để hỗ trợ khu vực doanh nghiệp.

Tác động ảnh hưởng khi Việt Nam tăng cường hội nhập quốc tế

Tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế là tất yếu và việc Việt Nam sớm tham gia các hiệp định thương mại tự do sẽ giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội mở rộng thị trường, đồng thời tối ưu hóa hàng hóa nhập khẩu đặc biệt là nguyên liệu cho sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc. Bên cạnh những cơ hội, thì rủi ro cạnh tranh và thách thức là không thể tránh khỏi, tuy nhiên điều này sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh tích cực, thúc đẩy chính các doanh nghiệp trong nước phải có sự chuyển mình nhằm nắm bắt các cơ hội và tư tin đối mặt với môi trường cạnh tranh Quốc Tế.

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA)

12

 Ngày 10/12/2014, đại diện Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hàn Quốc đã ký Biên bản thoả thuận về kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc. Dự kiến hai bên sẽ hoàn thành đàm phán các vấn đề kỹ thuật còn lại và hoàn tất các thủ tục cần thiết trong nước để sớm ký kết Hiệp định trong khoảng đầu năm 2015.

 Phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông, thủy sản chủ lực như tôm, cá, hoa quả nhiệt đới và hàng công nghiệp như dệt, may, sản phẩm cơ khí. Đây là cơ hội mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong các ngành này. Bên cạnh đó, Hàn Quốc cũng cam kết dành thêm cơ hội thị trường cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư của Việt Nam và tăng cường hợp tác kinh tế, hỗ trợ kỹ thuật toàn diện trong nhiều lĩnh vực.

 Phía Việt Nam dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công nghiệp như nguyên phụ liệu dệt, may, nguyên liệu nhựa, linh kiện điện tử, xe tải và xe con từ 2500 cc trở lên, phụ tùng ô-tô, điện gia dụng, sản phẩm sắt thép, dây cáp điện. Đây là những nhóm hàng không cạnh tranh trực tiếp với sản xuất trong nước, và những ưu đãi này cho phía đối tác sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu quả nhập khẩu, nhất là các nhóm hàng nguyên, phụ liệu phục vụ các ngành sản xuất, xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày, dép, điện tử, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu từ các Trung Quốc và một số nguồn khác.

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga – Belarus – Kazakhstan (VCUFTA)

3

 Ngày 15/12/2014 đã diễn ra Lễ ký kết Tuyên bố chung kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan (VCUFTA) đã diễn ra tại Huyện đảo Phú Quốc. Dự kiến hai bên sẽ hoàn thành các vấn đề kỹ thuật còn lại và hoàn tất các thủ tục nội bộ cần thiết để chính thức ký kết Hiệp định trong khoảng đầu năm 2015.

 Phía Liên minh Hải quan đã dành cho Việt Nam ưu đãi thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng Việt Nam có lợi ích cơ bản như nông sản, tất cả các mặt hàng thủy sản và hàng công nghiệp như dệt, may, da giày và đồ gỗ. Đây cũng là cơ hội mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong các ngành này.

 Phía Việt Nam đồng ý mở cửa thị trường có lộ trình cho Liên minh Hải quan đối với một số sản phẩm chăn nuôi, một số mặt hàng công nghiệp gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Đây đều là những nhóm hàng mà Việt Nam không có thế mạnh và việc mở thị trường nhập khẩu những mặt hàng này sẽ góp phần làm đa dạng hóa thị trường tiêu dùng trong nước, tăng cơ hội lựa chọn các sản phẩm tối ưu cho người tiêu dùng.

Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (VEFTA)

14

 Phiên đàm phán thứ tám Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) đã diễn ra từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 6 năm 2014 tại Brúc-xen, Bỉ. Tại phiên này, đàm phán trong tất cả các lĩnh vực đều được ta và EU tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ, đặc biệt là những nội dung hai bên có nhiều lợi ích.

 Ở cấp kỹ thuật, các nhóm tiếp tục thảo luận lời văn tổng hợp trên cơ sở trao đổi sâu và chi tiết quan điểm, cách tiếp cận của mình. Nhiều nhóm đã thu hẹp được đáng kể khoảng cách trong nhiều nội dung cụ thể. Các nhóm đàm phán về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và mua sắm Chính phủ cũng tiếp tục thảo luận bản chào mở cửa thị trường và bản yêu cầu về điều chỉnh bản chào trong các lĩnh vực liên quan. Ở cấp Trưởng đoàn, ta và EU cũng dành nhiều thời gian thảo luận chi tiết định hướng xử lý những vấn đề then chốt, phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ chung của đàm phán với mong muốn tìm kiếm giải pháp phù hợp với năng lực, kỳ vọng của mỗi bên, thống nhất lộ trình xử lý nhằm hướng tới những tiến bộ tích cực trên cơ sở cân bằng lợi ích của cả hai bên.

 Kết thúc phiên đàm phán, hai bên đã đạt được các mục tiêu đề ra từ trước phiên về việc xử lý một số nội dung quan trọng trong đàm phán và có tiến bộ ở các lĩnh vực khác. Ta và EU cũng đã thống nhất được lộ trình làm việc cho đàm phán từ cấp Bộ trưởng đến cấp kỹ thuật trên tinh thần thúc đẩy đàm phán tối đa. EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU là các mặt hàng ít có sự cạnh tranh trực tiếp, có sự bổ xung cho nhau.

 Năm 2013, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và EU đạt khoảng 33,8 tỷ USD, tăng 16,11% so với năm 2012. Trong đó, xuất khẩu sang EU đạt 24,4 tỷ USD và nhập khẩu từ EU đạt 9,4 tỷ USD. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của ta sang EU là giày dép, dệt may, cà phê, đồ gỗ, hải sản. EU cũng là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. Trong năm 2013, EU có gần 1400 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 17 tỷ USD.

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)

 Đàm phán Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một đàm phán thương mại tự do nhiều bên, với mục tiêu thiết lập một khu vực thương mại tự do chung cho các nước đối tác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Cho đến nay, đã có 12 nước tham gia vào đàm phán TPP (bao gồm New Zealand, Brunei, Chile, Singapore, Australia, Peru, Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Canada, Mexico và Nhật Bản).

 Đàm phán TPP hiện đang là một trong những đàm phán thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, bao gồm không chỉ các vấn đề về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ mà còn cả những vấn đề phi thương. Giữa tháng 12 cơ hội kết thúc đàm phán TPP được nhen nhóm khi các nước TPP thống nhất được về lịch trình đàm phán tiếp theo vào cuối tháng 1, sau đó sẽ là cuộc gặp cấp Bộ trưởng TPP. Đồng thời các nước đã lên kế hoạch rà soát lại các chương đã thống nhất được, sẵn sàng cho kết thúc đàm phán TPP ngay khi có thể. 

 Dự kiến vòng đàm phán cấp kỹ thuật sẽ diễn ra từ ngày 26/1 đến 1/2 tại khách sạn Sheraton, thành phố New York, bao gồm các trưởng đoàn đàm phán và các nhóm đàm phán về Doanh nghiệp nhà nước, Sở hữu trí tuệ, Quy tắc xuất xứ, Dịch vụ tài chính, Đầu tư và các vấn đề pháp lý. Ngoài ra, có thể sẽ có một số cuộc gặp song phương giữa các nước để thảo luận về vấn đề tiếp cận thị trường. Tiếp đó, phiên họp cấp bộ trưởng dự kiến diễn ra vào giữa tháng 3/2015 sẽ giải quyết các vấn đề ở cấp cao hơn, mang tính chính trị nhạy cảm.

 Mặc dù, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để TPP chính thức kết thúc đàm phán, tuy nhiên quan điểm của các bên đều mong muốn quá trình đàm phán và ký kết sẽ chính thức được thực hiện trong năm 2015, và nếu thực tế đúng như kỳ vọng thì rõ ràng Việt Nam sẽ sớm đón nhận những tác động tích cực từ việc gia nhập TPP mặc dù đi đôi với đó là rất nhiều thách thức cho nền kinh tế.

Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào các nước và các ngành xuất khẩu chủ lực khả năng được hưởng lợi từ TPP

1

Hiệp định Việt Nam – 4 nước Bắc Âu (Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein) (EFTA)

Hiện tại, Việt Nam và Khối EFTA (gồm Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein) đang trong quá trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do. Phiên đàm phán thứ 7 vừa diễn ra tại Việt Nam trong tháng 2 năm 2014, hiện tại cả hai bên đang xúc tiến kết nối tiếp tục đàm phán để sớm kết thúc các vấn đề kỹ thuật với kỳ vọng có thể chính thức ký kết trong năm 2015. Hiệp định này được dự báo sẽ giúp khơi thông dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và EFTA, tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp đầu tư.

Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)

16

 Phiên đàm phán thứ 5 Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác (Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Newzeland, Australia và Trung Quốc) đã diễn ra từ ngày 21 - 27 tháng 4 năm 2014 tại Singapore, cơ bản các bên tham gia đàm phán đã đạt được thêm sự đồng thuận về việc xác định các vấn đề chủ chốt cần giải quyết.

 Thực hiện RCEP, các quốc gia tham gia sẽ cam kết tự do hóa gần 100% thương mại, thông qua hàng loạt các hiệp định thương mại tự do, chỉ còn lại số ít mặt hàng nhạy cảm cần bảo vệ nhất định. Lĩnh vực dịch vụ và đầu tư cũng sẽ từng bước mở cửa, do đó vấn đề cần giải quyết là sự không đồng đều về mức độ phát triển giữa các nền kinh tế. Hiện 16 quốc gia RCEP đang chiếm 50% dân số, khoảng 1/3 tổng thương mại toàn cầu. Giới phân tích dự tính RCEP sẽ trở thành khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới và là một đối trọng đối với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện đang trong quá trình đàm phán. Dự kiến quá trình đàm phán sẽ kết thúc trong năm 2015.

 Các nước tham gia Hiệp định RCEP là các đối tác kinh tế lớn của Việt Nam, xét cả về giá trị và tỷ trọng thương mại. Theo số liệu năm 2013, thương mại với các nước Đông Á chiếm tới 58,3% tổng giá trị thương mại của Việt Nam. Các nước tham gia Hiệp định RCEP là thị trường xuất khẩu quan trọng của nước ta với tổng giá trị xuất khẩu trên 58 tỷ USD năm 2013, tương đương 44% tổng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với giá trị 95,824 tỷ USD, chiếm 73% tổng kim ngạch nhập khẩu. Với RCEP, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác và thách thức là hàng hóa các nước khác có thể vào thị trường Việt Nam với thuế suất thấp.

Các chính sách có ảnh hưởng tới thị trường

Chính thức áp dụng thông tư 36

Thông tư 36 được ban hành cuối năm 2014 và đây là thời điểm các NHTM đã mạnh tay thực hiện thu hồi các khoản cho vay đầu tư cổ phiếu vượt hạn mức theo quy định của TT36, thực tế thị trường đã liên tục sụt giảm trong cả quý 4/2014, các chỉ số chứng khoán đã sụt giảm rất mạnh vào cuối 2014 với hiện tượng bán đổ sàn hàng loạt, biểu hiện của hoạt động thu hồi vốn mạnh và dứt khoát, nên đây là thời điểm thị trường bị tác động mạnh nhất.

Bước sang năm 2015 khi thông tư 36 chính thức áp dụng từ ngày 01/02/2015 là lúc thị trường bị tác động "hậu thông tư 36", có nghĩa là các CTCK sẽ bị suy giảm nguồn vốn để làm margin, trong đó các CTCK lớn có thể khắc phục được phần nào qua việc sử dụng vốn tự có, phát hành trái phiếu hoặc tăng vốn, tuy nhiên về cơ bản nguồn tiền cho dịch vụ margin vẫn là giảm đi đáng kể so với trước đó, còn các CTCK nhỏ sẽ rất khó xoay sở trong viêc tìm nguồn vốn mới, và do đó dòng tiền trên TTCK sẽ bị hạn chế. Để giảm bớt các tác động của TT36 thì giải pháp trước mắt đòi hỏi phải có những nỗ lực từ các CTCK trong việc nâng cao khả năng tài chính thông qua tăng vốn, phát hành trái phiếu và huy động các nguồn vốn bền vững khác nhằm bổ xung vốn cho các dịch vụ tài chính, cải thiện dòng tiền ngắn hạn cho thị trường.

Chính thức áp dụng quy định về phân loại nợ theo thông tư 09/2014/TT-NHNN

Thông tư 09/2014/TT-NHNN là Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/06/2014, tuy nhiên các quy định cụ thể về phân loại nợ theo thông tư này bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 (khoản 1 điều 9).

Theo đó, các NHTM phải thực hiện công tác phân loại theo đúng hướng dẫn của thông tư 09, theo hướng chặt chẽ hơn. Do đó nhiều khả năng các kết quả phân loại này sẽ tác động trực tiếp tới các tổ chức tín dụng, nợ xấu tăng lên và phần trích lập dự phòng rủi ro cũng tăng theo, điều này có thể khiến lợi nhuận của các NHTM bị ảnh hưởng theo hướng giảm xuống. Thực tế này càng khiến các NHTM chặt chẽ hơn trong việc đưa vốn ra nền kinh tế, doanh nghiệp càng gặp những hạn chế trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cho sản xuất kinh doanh. Ngoài ra về mặt thị trường, các tác động này cùng với những quy định mới của TT36 sẽ càng khiến các NHTM hạn chế hoạt động cho vay đầu tư cổ phiếu.

Đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, hoàn thành thoái vốn ngoài ngành

Theo kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa đã được phê duyệt thì trong giai đoạn 2014 - 2015 cả nước sẽ thực hiện cổ phần hóa 432 doanh nghiệp, nhưng sau khi rà soát, tiếp tục bổ sung danh mục doanh nghiệp phải cổ phần hóa tới thời điểm này thì lên tới 532 doanh nghiệp Nhà nước cần cổ phần hóa. Đây thực sự là một con số lớn trong phần còn lại chỉ là 1 năm 2015, điều này có thể phần nào sẽ ảnh hưởng đến TTCK khi lượng cổ phiếu cổ phần hóa lớn sẽ tạo áp lực hút bớt dòng tiền trên thị trường niêm yết vốn đã bị hạn chế bởi TT36. Trong giai đoạn 2014 - 2015, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện thoái vốn đầu tư vào 5 lĩnh vực nhạy cảm (chứng khoán, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư) và ngoài ngành nghề sản xuất kinh doanh chính theo đề án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Giá trị các khoản đầu tư vào 5 lĩnh vực nhạy cảm của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước phải thực hiện thoái vốn trong giai đoạn 2014 - 2015 là 22.504 tỷ đồng. Trong 10 tháng năm 2014, các Tập đoàn, Tổng công ty thoái vốn ước đạt 2.415 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần so với thực hiện năm 2013 (965 tỷ đồng). Như vậy, lượng vốn cần thoái trong năm 2015 vẫn là khá lớn, cho thấy những áp lực không nhỏ phải hoàn thành kế hoạch của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước và áp lực đối với thị trường tài chính trong năm 2015.

Tăng giá điện

Trong thời gian qua đã có nhiều phương án tăng giá điện được EVN đệ trình lên Bộ Công Thương, Bộ này cho biết vẫn đang xem xét phương án tăng giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), trước mắt từ nay đến Tết Nguyên đán Ất Mùi chưa tăng giá điện. Tuy nhiên, phương án được cho là có nhiều khả năng sẽ xảy ra là giá điện sẽ tăng khoảng 9,5% sau Tết Nguyên Đán. Có thể nói đây là mức tăng khá và sẽ có tác động đến nền kinh tế, đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều điện năng. Các tác động tiêu cực này sẽ phần nào làm giảm bớt các tác động tích cực từ việc giá xăng dầu giảm nếu đánh giá trên góc độ tổng thể nền kinh tế.

Chính sách nới room cho khối ngoại

Có thể nói, những kỳ vọng nới room trong năm 2014 đã không thành hiện thực và là một trong những điều khiến không ít nhà đầu tư nước ngoài thất vọng, và trong lần trả lời báo chí gần đây, Chủ tịch UBCKNN (SSC) Vũ Bằng cho biết dự kiến sẽ điều chỉnh kế hoạch nâng sở hữu của NĐTNN ở một số ngành từ 49% lên 60% và đề xuất mới sẽ được trình lên Chính phủ vào tháng 10/2015. Thực tế này cho thấy khả năng quyết định nới room khó có thể được phê duyệt chính thức trong năm 2015, đa số lãnh đạo các quỹ đầu tư đều tin rằng phải ít nhất đến năm 2016 thì việc nới room mới có thể trở thành hiện thực.

Khuyến khích giảm lãi suất cho vay

Nội dung Chỉ thị số 01 đề cập đến việc thực hiện điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra (dưới 5%), ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý (6,2%), bảo đảm thanh khoản của các TCTD và nền kinh tế, duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, phấn đấu tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung, dài hạn thêm 1 - 1,5%/năm, hỗ trợ thị trường tài chính trong huy động vốn cho đầu tư phát triển.

Với định hướng chính sách theo chỉ thị 01, NHNN cũng có những cam kết điều hành theo hướng đảm bảo thực hiện chỉ thị nêu trên, do đó khả năng giảm dần mặt bằng lãi suất cho vay trong năm 2015 sẽ được thực hiện nhất quán, điều này sẽ có tác động tích cực tới nền kinh tế, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp hơn, qua đó giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, qua đó gián tiếp giúp thị trường chứng khoán phát triển với nền tảng cơ bản từ doanh nghiệp có chuyển biến tích cực.

Đẩy mạnh giải ngân gói tín dụng 30.000 tỷ và bổ xung gói tín dụng bất động sản 50.000 tỷ

Gói 30.000 tỷ đồng là gói tín dụng có ưu đãi của Nhà nước theo đề xuất của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Xây dựng dành cho nhóm đối tượng được ưu tiên theo quy định nhằm giải quyết khó khăn về nhà ở. Chính phủ tái cấp vốn có bù lãi suất cho các ngân hàng thương mại tham gia giải ngân gói tín dụng này và hiện nay đang cho vay ở mức 5%/năm. Kể từ khi ra đời gói tín dụng này đã gặp nhiều khó khăn trong khâu thực hiện. Tuy nhiên với nỗ lực của các bộ ngành liên quan trong việc mở rộng đối tượng được vay, giảm lãi suất vay, kéo dài thời gian cho vay và mở rộng các NHTM được tham gia đã phần nào kích thích giải ngân trong thời gian gần đây với 15 NHTM tham gia tích cực. Thống kê cho thấy 10.000 tỷ đã được giải ngân trong đó 6.000 tỷ dành cho người vay mua nhà.

Trong tháng đầu năm 2015, NHNN cũng chủ trì kêu gọi các NHTM đưa ra gói tín dụng bất động sản 50.000 tỷ đồng, đây hoàn toàn là một gói tín dụng thương mại thông thường, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo hướng dẫn về mặt nghiệp vụ, Nhà nước gần như không phải can thiệp, không có cấp vốn hay bù lãi suất hoặc khoanh vùng đối tượng tham gia. Về cơ bản, tính cam kết và hỗ trợ từ NHNN cho gói tín dụng này không được như gói 30.000 tỷ, tuy nhiên việc đưa ra thêm các chính sách hỗ trợ thị trường bất động sản và tạo điều kiện để các thành viên thị trường cả người mua, người bán và ngân hàng hỗ trợ vốn được cho là động thái tích cực của các cơ quan quản lý, và thị trường đang chờ đợi những động thái cụ thể từ các NHTM.

Một số chính sách và giải pháp khác theo định hướng của UBCKNN

Triển khai một bước căn bản các điều kiện cho hoạt động của TTCK phái sinh, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và các giải pháp nâng hạng TTCK. UBCKNN cũng đã đưa ra nhiều nhóm giải pháp như nhóm giải pháp nâng cao, đa dạng hóa sản phẩm, nhóm giải pháp kích cầu khơi thông dòng vốn trong và ngoài nước, nhóm giải pháp thúc đẩy tái cấu trúc hệ thống tổ chức kinh doanh, nhóm giải pháp hiện đại hóa tổ chức TTCK… Các chính sách này về cơ bản sẽ tạo điều kiện phát triển thị trường dài hạn, và có thể trong năm 2015 những tác động từ các hoạt động này đến thị trường sẽ chưa biểu hiện rõ nét

Tác động ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế - chính trị quốc tế

Có thể nói rằng các tác động từ kinh tế - chính trị quốc tế đã có những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới diễn biến kinh tế vĩ mô và TTCK Việt Nam trong năm 2014. Dự báo trong năm 2015 một số tác động từ diễn biến này vẫn là các yếu tố thách thức & rủi ro tiềm tàng với kinh tế và TTCK. Sự kiện giá dầu: Giá dầu thô trên thị trường thế giới đã giảm 58,5% kể từ mức cao nhất 107,42 USD/thùng trong năm 2014 về mức 44,53 USD/thùng vào thời điểm cuối tháng 01/2015. Nhiều quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lao đao vì giá dầu ở mức thấp. Chắc chắn giá dầu thấp sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu ngân sách của Việt Nam.

Theo số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán khi giá dầu giảm ở mức 60USD/thùng, ngân sách sẽ hụt thu 1.500 tỷ đồng; nếu 50USD/thùng, ngân sách hụt thu 9.500 tỷ đồng và nếu 40USD/thùng, ngân sách sẽ hụt thu 11.500 tỷ đồng (khi giá dầu 40USD/thùng thì PVN phải giảm sản lượng khai thác từ 1,8 đến 2 triệu tấn dầu). Tuy nhiên, về tổng thể, giá dầu thô thấp lại có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình phục hồi kinh tế. Trong đó, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia dự báo, với diễn biến giá dầu như trên thì giá cả trong nước và thế giới sẽ giảm. Lạm phát trong năm 2015 có thể giảm khoảng 1,1 điểm phần trăm so với lạm phát bình quân năm 2014 và đạt khoảng 3%.

Diễn biến giá dầu WTI và dự báo của giới phân tích

17

Dư cung toàn cầu là lý do chính khiến giá dầu giảm 46% trong năm 2014. Tuy nhiên, hiện đã xuất hiện một vài dấu hiệu cho thấy giá dầu bắt đầu ổn định. Giá dầu đã có tín hiệu tạo đáy và hồi phục trở lại trong những phiên đầu tháng 02/2015 khi giàn khoan đang hoạt động của Mỹ giảm xuống thấp nhất 3 năm và nhiều công ty dầu mỏ đang giảm đầu tư cũng như chi phí. Tuy nhiên, việc dư cung ngắn hạn khi lượng tồn kho của Mỹ đang ở mức cao và OPEC quyết định không giảm sản lượng có thể vẫn tạo áp lực lớn với triển vọng hồi phục của giá dầu trong ngắn hạn. Với kịch bản tích cực, trong trường hợp giá dầu hồi phục như dự báo của Bloomberg và Goldman Sachs, khả năng giá dầu sẽ hồi phục về ngưỡng 70USD-85USD/thùng vào giữa và cuối 2015. Điều này sẽ có tác động tích cực tới diễn biến phục hồi của ngành dầu khí nói chung và nhóm cổ phiếu dầu khí và TTCK nói riêng trong năm 2015.

Sự kiện Fed tăng lãi suất

Sau khi chấm dứt gói QE3 vào cuối tháng 10/2014, phần lớn giới phân tích dự báo rằng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất vào giữa năm 2015 sau khi kết thúc chương trình kích thích. Nếu diễn biến này diễn ra, khả năng ảnh hưởng đầu tiên sẽ là sự chuyển dịch dòng vốn rút khỏi các thị trường mới nổi và thị trường biên. Trong đó, thị trường chứng khoán Mỹ và toàn cầu có thể rơi vào nhịp sụt giảm kéo dài khi Fed tăng lãi suất lần đầu tiên nhất là khi các chỉ số chứng khoán của Mỹ đang giao dịch trong vùng đỉnh sau thời gian dài nới lỏng tiền tệ. Đây là một trong những rủi ro hiện hữu với TTCK toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.

Tác động của việc tăng lãi suất với Chỉ số Dow Jones

2

Tuy nhiên, trong cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) ngày 29/1/2015 thông báo Fed vẫn “kiên nhẫn” trong việc quyết định thời điểm nâng lãi suất cơ bản lần đầu tiên kể từ năm 2006. Các nhà hoạch định chính sách của Fed vẫn lo ngại về mức tăng lương chậm của người lao động và nhiều người đang làm việc bán thời gian vẫn chưa tìm được việc làm toàn thời gian, dù nền kinh tế Mỹ đã hồi phục từ tình trạng suy thoái nặng năm 2008. Việc nâng lãi suất cơ bản sẽ ảnh hưởng đến lãi suất thương mại mà các doanh nghiệp và người tiêu dùng phải trả cho các khoản vay

19

Trong khi đó, đồng USD liên tục tăng mạnh tăng mạnh sẽ kìm hãm áp lực lạm phát tại Mỹ, cản trở kế hoạch nâng lãi suất của Fed. Fed không còn sử dụng cụm “một khoảng thời gian hợp lý” trong việc nâng lãi suất nữa, mà thay vào đó nhấn mạnh “nếu lạm phát tiếp tục dưới mức mục tiêu 2%”. Mặc dù thời điểm tăng lãi suất của Fed không còn quá phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát như trước nữa nhưng lạm phát chỉ là một trong nhiều những yếu tố được xem xét đến. Tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức thấp nhất trong 6 năm qua (5.6%), khi nền kinh tế này đã tạo ra 252,000 việc làm vào tháng trước. Lạm phát của Mỹ đã kéo dài 31 tháng liên tiếp nằm dưới ngưỡng 2%. Kỳ vọng lạm phát trong 5 năm tới chỉ vào khoảng 1,76%. Giá dầu giảm sâu cũng khiến tỷ lệ lạm phát vẫn duy trì ở mức thấp do đó giới phân tích cho rằng Fed sẽ chưa tăng lãi suất ít nhất trong 6 tháng tới.

Diễn biến chỉ số Dollar index và thất nghiệp Mỹ

2

Gói QE của châu âu

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vừa tuyên bố sẽ bơm ít nhất 1,1 nghìn tỷ EUR, tương đương 1,3 nghìn tỷ USD vào nền kinh tế Eurozone, gói QE này có thể thấy là cao hơn nhiều so với dự báo trước đó. Điều này dự báo sẽ tác động tích cực tới TTCK châu Âu & Mỹ nói chung và TTCK Việt Nam có thể được hưởng lợi từ xu hướng nới lỏng tiền tệ mới này. Trong quy mô các gói QE từng được công bố gần đây nhất như gói QE của Mỹ với giá trị 4,5 nghìn tỷ USD, gói QE của Anh với giá trị 375 tỷ Bảng, QE của Nhật Bản với giá trị 125 nghìn tỷ Yen. Gói QE của ECB hiện tại sẽ bơm ít nhất 1,1 nghìn tỷ Eur (tương đương 1,3 nghìn tỷ USD) hiện tại đứng thứ 3 sau Mỹ và Nhật. Con số này có thể mới chỉ là giai đoạn ban đầu của chương trình QE và thực tế có thể sẽ lớn hơn nhiều.

Với các gói QE đã từng diễn ra tại Mỹ, Anh và Nhật, việc bơm tiền vào nền kinh tế đã khiến các tài sản tài chính tăng giá mạnh mẽ trong đó TTCK của các nước này liên tục tăng trưởng mạnh mẽ sau giai đoạn khủng hoàng tài chính toàn cầu. Trong đó, không chỉ TTCK Mỹ, Anh, Nhật tăng trưởng mạnh mà dòng tiền giá rẻ này còn chảy đến các thị trường khác như Emerging Market hay frontier Market khiến thị trường chứng khoán toàn cầu nhìn chung hồi phục khá tốt sau khủng hoảng.

Hiện tại gói QE tại Mỹ đã chấm dứt và chỉ còn Nhật Bản và tiến tới là ECB, với quy mô như công bố khả năng thị trường chứng khoán châu Âu, Mỹ, và châu Á có thể tiếp tục được hưởng lợi khi dòng tiền giá rẻ này được bơm ra thị trường. Khả năng dòng vốn có thể thông qua các quỹ đầu tư, các quỹ ETF như DB X-TRACKERS DBX FTSE VIETNAM ETF là quỹ ETF được giao dịch trên sàn London vào thị trường chứng khoán Việt Nam hỗ trợ cho thị trường trong năm 2015.

Xu hướng dòng vốn quốc tế

Những tác động ảnh hưởng từ Fed cũng như các sự kiện kinh tế chính trị lớn trên thế giới đã và đang tác động khá mạnh tới xu hướng dòng vốn quốc tế trong đó có Việt Nam. Trong những năm gần đây, khônrg thể không phủ nhận vai trò của NĐTNN trên TTCK khi dòng vốn ngoại chỉ chiếm khoảng 10% nhưng tính định hướng xu hướng và dòng tiền là rất rõ. Trong đó, NĐTNN đẩy mạnh mua bán vào đầu năm 2014 và phần nhiều do tác động mua vào mạnh của hai quỹ ETF khiến thị trường hồi phục rất tốt. Tuy nhiên, sau đó áp lực bán ròng mạnh kể từ tháng 9 do việc rút vốn của NDTNN và các quỹ ETF khi Mỹ rút gói QE trong khi Eurozone và Nhật bản rơi vào suy thoái khiến thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra nhịp giảm khá mạnh.

Về mặt tổng thể, NDTNN vẫn mua ròng trong năm 2014 nhưng mức độ mua ròng giảm đi đáng kể khi họ chỉ mua ròng 3.747 tỷ đồng, giảm 44% so với năm 2013 và thấp nhất trong vòng 3 năm trở lại đây. Trong đó, vai trò định hướng của các quỹ ETF vẫn chiếm phần lớn khi lượng mua ròng của các quỹ này đang chiếm hơn 60% lượng giao dịch ròng của khối ngoại tại Việt Nam.

Diễn biến dòng vốn hai quỹ ETF tại Việt Nam và dòng vốn vào thị trường mới nổi

21

Theo báo cáo của IFF, do lo ngại Fed tăng lãi suất trong thời điểm đầu năm 2015 đã khiến NĐTNN rút vốn mạnh khỏi thị trường Emerging market trong đó đặc biệt mạnh tại Nga do ảnh hưởng từ cuộc xung đột Nga-Ucraina. Trong đó, vốn rút ròng khỏi trái phiếu khỏi thị trường mới nổi trong tháng 12/2014 là -7,8 tỷ USD và cổ phiếu là -3,7 tỷ USD. Tuy nhiên, khu vực Emerging Asia chỉ bị giảm quy mô ròng chứ chưa bị rút. Dòng vốn vào thị trường mới nổi giảm từ mức cao nhất 1,35 nghỉn tỷ USD trong năm 2013 xuống dưới 1,1 nghìn tỷ USD trong năm 2014.

2

Theo dự báo triển vọng dòng vốn đầu tư vào thị trường mới nổi của IFF, năm 2015 sẽ là một năm khó khăn đối với dòng vốn vào thị trường mới nổi khi dự báo dòng tiền sẽ tiếp tục trong xu hướng giảm do bị ảnh hưởng bởi kỳ vọng khi Fed có thể bắt đầu tăng lãi suất, tăng trưởng của Emerging market còn mờ nhạt, sự không chắc chắn của thị trường dầu mỏ và những rủi ro về chính trị. Diễn biến này cũng thể hiện một cách rõ nét tới dòng vốn vào TTCK Việt Nam trong tháng 1 khi lượng mua ròng 196 tỷ giảm 88,7% so với cùng kỳ năm ngoái là 1.729 tỷ đồng. Do đó, khả năng dòng vốn ngoại vào thị trường Việt Nam năm nay có thể sẽ giảm đi đáng kể so với năm ngoái và đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới dòng tiền vào TTCK trong năm 2015.

Môi giới chứng khoán 

mbs 

hotline