Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Triển vọng Việt Nam tháng 02/2014

Được đăng vào

Triển vọng Việt Nam tháng 02/2014

TÓM TẮT

 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Tháng 1 chỉ tăng 0,69% so với tháng trước và tăng 5,45% so với cùng kỳ năm 2013, là mức tăng thấp nhất trong vòng 17 tháng qua;

 Sản lượng công nghiệp tháng 1 giảm 6,2% so với tháng trước và chỉ tăng 3% so với cùng kỳ năm 2013;

 Xuất khẩu và nhập khẩu lần lượt ước đạt 10,3 và 10,4 tỉ USD trong tháng 1. Cán cân thương mại tháng 1 thâm hụt 100 triệu USD;

 Tổng vốn FDI thu hút trong tháng 1 đạt xấp xỉ 397 triệu USD vốn FDI đăng ký và 465 triệu USD vốn FDI giải ngân;

 Tỷ giá VND/USD duy trì ổn định trong tháng 1;

 Khoảng 12,26 nghìn tỷ đồng TPCP và 9,37 nghìn tỷ đồng TPCP bảo lãnh được phát hành thành công trong tháng 1;

 NHNN đã bơm ròng khoảng 94,6 nghìn tỷ đồng qua tín phiếu và OMO trong tháng 1 và có thể sẽ hút tiền về trong thời gian tới;

 Các mô hình của chúng tôi dự báo lạm phát tháng 2 sẽ dao động trong khoảng 1-1,2%

LẠM PHÁT

Lạm phát tháng 1 thấp hơn khá nhiều so với dự kiến. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Tháng 1 chỉ tăng 0,69% so với tháng trước, là mức tăng thấp nhất của tháng đầu năm kể từ năm 2008 trở lại đây. CPI tăng 5,45% so với cùng kỳ năm 2013, cũng là mức thấp nhất trong vòng 17 tháng qua. Giá cả hàng hóa không tăng đột biến trong dịp Tết do người dân hạn chế mua sắm hơn và nhiều chương trình giảm giá khuyến mãi được đưa ra để kích thích tiêu dùng. Ngoài ra, giá cả nhóm hàng giao thông và nhóm hàng nhà ở vật liệu xây dựng tăng lần lượt là 1,22% và 1,02% so với tháng 12 năm 2013 cũng khiến cho CPI (MoM) tăng nhẹ trong tháng 1.

1

2

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đóng góp nhiều nhất vào lạm phát tháng 1 (YoY), chiếm 33% trong tổng mức tăng 5,45% của CPI. Giá cả nhóm hàng này tăng khá so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu lương thực thực phẩm nhiều hơn trong dịp Tết. Giá cả nhóm hàng y tế đóng góp khoảng 11% trong tổng mức tăng CPI. Nhóm hàng nhà ở vật liệu xây dựng và nhóm giao thông đóng góp khoảng 11% và 6% trong tổng mức tăng giá chung, cao hơn so với mức đóng góp vào CPI trong tháng trước đó do nhiều công trình xây dựng được hoàn thành vào cuối năm và nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa tăng lên trước kỳ nghỉ lễ. Giá nhóm hàng giáo dục đóng góp khoảng 12% trong tổng mức tăng CPI. Giá dầu thô thế giới không có nhiều biến động trong tháng 1 và giảm nhẹ từ mức 110 USD/thùng cuối tháng 12 xuống còn 108 USD/ thùng vào cuối tháng 1. Giá dầu thô giảm do nguồn cung dầu tại Lybia tăng lên trong khi nhu cầu dầu giảm xuống khi mùa đông ở nhiều nước sắp kết thúc. Giá xăng A92 nội địa không có nhiều biến động và hiện tại đang ở mức 24.210 VND/lít.

3

Thành phần dài hạn của lạm phát tiếp tục xu hướng giảm nhẹ xuống còn xấp xỉ 5,4%/năm. Thành phần chu kì thậm chí còn giảm nhẹ so với tháng trước. Trong khi đó, thành phần mùa vụ tiếp tục ở mức cao trong những tháng đầu năm 2014. Các mô hình dự báo của chúng tôi cho thấy nhiều khả năng CPI của tháng 2 sẽ chỉ tăng khoảng 5,1-5,2% so với cùng kì năm trước. So với tháng 1, CPI của tháng 2 có thể tăng khoảng 1,0-1,2%.

4

4

CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ KHÁC

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1 giảm mạnh 6,2% so với tháng trước và tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ do cả nước bước vào kỳ nghỉ dài nên sản xuất chậm lại. Hơn nữa, các doanh nghiệp thường tăng cường sản xuất vào tháng 12 để phục vụ nhu cầu hàng Tết, dẫn đến chỉ số sản xuất giảm mạnh trong tháng 1. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khoảng 9,7% so với cùng kỳ năm 2013, chỉ bằng một nửa so với con số 21,5% của năm trước cho thấy sức tiêu thụ đang dần cải thiện. Dự kiến sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng chậm trong tháng tới do các doanh nghiệp chưa bước vào giai đoạn sản xuất tích cực trong năm.

3

Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu trong tháng 1 đều giảm so với tháng 12. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1 đạt 10,3 tỷ USD, giảm 11,5% so với tháng trước. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 1 đạt 10,4 tỷ USD, giảm 14,6% so với tháng 12. Theo đó, cán cân thương mại tháng 1 chỉ thâm hụt nhẹ khoảng 100 triệu $, bằng 0,97% kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu giảm do sản xuất trong nước chậm lại trước Tết khiến nhu cầu nhập máy móc và nguyên vật liệu không nhiều. Ngoài ra, các thị trường xuất khẩu của Việt nam cũng nghỉ lễ đón năm mới nên lượng hàng xuất khẩu đầu năm giảm mạnh. Trong năm 2014, xuất khẩu được kỳ vọng vẫn tăng trưởng tốt nhờ vào sự hồi phục kinh tế tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, EU và Nhật Bản. Sự cải thiện của cán cân thương mại sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sự ổn định của tỷ giá trong năm 2014.

3

Vốn FDI vào Việt Nam giảm nhẹ trong tháng 1 so với cùng kỳ 2013. Tổng vốn FDI thu hút tháng 1 đạt xấp xỉ 397,1 triệu USD, giảm 21,9% so với cùng kỳ do năm nay Tết rơi vào tháng 1, sớm hơn so với năm trước. Tuy nhiên, vốn FDI giải ngân vẫn ổn định, đạt xấp xỉ 465 tỷ USD, tăng khoảng 3,3% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn FDI tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo với 47% tổng số vốn đăng ký. Vốn FDI đầu tư trong hai tháng đầu năm thường khá thấp do yếu tố mùa vụ nên không phản ánh chính xác lượng vốn FDI có khả năng thu hút được trong cả năm. FDI dự kiến sẽ tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam thời gian tới nhờ vào các điều kiện kinh tế vĩ mô ngày càng cải thiện và cơ hội gia nhập thành công hiệp định thương mại tự do TPP vào cuối năm 2014.

3

CẬP NHẬT CHÍNH SÁCH

Thị trường ngoại hối ổn định trong suốt tháng 1. Tỷ giá VND/USD có xu hướng giảm nhẹ do nguồn cung ngoại tệ dồi dào trong khi cầu không lớn. NHNN tiếp tục mua vào ngoại tệ dự trữ trong tháng 1 khi tỷ giá đang ở mức thấp. Tỷ giá VND/USD dự kiến sẽ không tăng quá 2% trong năm nay theo cam kết của NHNN từ đầu năm. Cán cân thương mại thâm hụt nhẹ cùng với nguồn kiều hối dồi dào đầu năm là yếu tố hỗ trợ cho sự ổn định tỷ giá. Hiện tại, tỷ giá VND/USD tự do và chính thức trung bình lần lượt vào khoảng 21180 và 21105.

3

Thanh khoản hệ thống ngân hàng khá căng thẳng trong tháng 1 do nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp và chi tiêu của người dân tăng nhanh để đáp ứng cho kỳ nghỉ lễ lớn nhất trong năm. Lãi suất liên ngân hàng tăng khoảng 1-2 điểm phần trăm so với tháng 12 ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tuần và sau đó giảm nhanh vào đầu tháng 2. Hiện tại, lãi suất xấp xỉ 2% đối với kỳ hạn qua đêm, 2,4% đối với kỳ hạn một tuần và 4% đối với kỳ hạn một tháng. Lãi suất liên ngân hàng thường tăng mạnh trong tháng 1 khi nguồn cung của các ngân hàng ra thị trường II sụt giảm trong khi cầu tiền tăng. Tuy nhiên, NHNN liên tục bơm ròng trên OMO nên thanh khoản hệ thống vẫn ổn định. Dự kiến lãi suất liên ngân hàng sẽ đi ngang trong thời gian tới do dòng tiền bị rút ra khỏi hệ thống sẽ quay lại sau Tết trong khi tín dụng chưa tăng trưởng mạnh do hoạt động của doanh nghiệp chưa thực sự sôi động.

Trong tháng 1, hầu như không có sự biến động nào về lãi suất huy động và cho vay trên thị trường dân cư. Lãi suất huy động kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng vào khoảng 5-7%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng khoảng 6,5-7,5%/năm. Lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất dao động từ 9-13%/năm. Lãi suất huy động hiện tại khó giảm thêm do mức này đã thấp hơn con số lạm phát kỳ vọng 7% trong năm 2014. Lãi suất cho vay cũng đã giảm mạnh và xấp xỉ mặt bằng lãi suất thời kỳ 2005-2006. Thêm vào đó, thông tư 02/2013/TT-NHNN khi bắt đầu có hiệu lực vào tháng 6 năm nay sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu và theo đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Chi phí đầu vào khó giảm cùng với áp lực nợ xấu tăng khiến cho việc giảm lãi suất cho vay 1-2% theo mong muốn của NHNN càng trở nên khó khăn hơn đối với các ngân hàng thương mại trong năm 2014. Hoạt động trên thị trường mở diễn ra sôi động trong tháng 1 do thanh khoản hệ thống khá căng thẳng trước Tết. NHNN đã bơm ròng lượng tiền lớn khoảng 48,8 nghìn tỷ đồng qua nghiệp vụ repos trên OMO trong tháng 1. Không có tín phiếu NHNN nào được phát hành trong tháng qua. Trong khi đó, có khoảng 45,8 nghìn tỷ đồng tín phiếu đến kỳ đáo hạn. Như vậy, NHNN đã bơm ròng khoảng 94,6 nghìn tỷ đồng qua tín phiếu và OMO trong tháng 1. Chúng tôi cho rằng NHNN sẽ hút ròng mạnh qua OMO và tiếp tục phát hành tín phiếu trong tháng 2 để tránh gây áp lực lên lạm phát.

1

Thị trường trái phiếu sơ cấp vẫn sôi động trong tháng 1. Nhu cầu mua TPCP tăng mạnh do khối lượng TPCP đáo hạn trong tháng 2 lên tới 10,7 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 15% lượng TPCP đáo hạn cả năm. Theo đó, có khoảng 12,2 nghìn tỷ đồng TPCP và 9,4 nghìn tỷ đồng TPCPBL được phát hành thành công trong Tháng 1. Lợi suất TPCP giảm nhẹ trong tháng 1, dao động quanh mức 6,7-7% đối với kỳ hạn 2-3 năm và khoảng 8,1% cho kỳ hạn 5 năm. Chúng tôi cho rằng thị trường TPCP sơ cấp sẽ bớt sôi động hơn trong tháng 2 do lượng trái phiếu đáo hạn tháng 3 rất thấp khoảng 1,6 nghìn tỷ nên cầu trái phiếu giảm. Ngoài ra, nguồn cung TPCP sơ cấp do KBNN dự kiến phát hành thêm trong tháng 2 và 3 khá lớn vào khoảng 43,7 nghìn tỷ đồng. Theo đó, áp lực phát hành thành công lượng lớn TPCP trong Quý I có thể khiến lợi suất trái phiếu đi ngang hoặc tăng nhẹ trong thời gian tới.

11

Theo Bộ Tài Chính, tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 1 năm 2014 ước đạt 71,7 nghìn tỷ đồng, bằng 9,2% dự toán năm 2014. Tổng chi NSNN ước đạt 81,86 nghìn tỷ đồng, bằng 8,1% dự toán năm. Nguồn thu NSNN tháng 1 cao hơn so với tiến độ bình quân phải thu hàng tháng (khoảng 8,3% dự toán năm/tháng) do hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm 2013 được cải thiện. Theo đó, bội chi NSNN tháng 1 ước vào khoảng 10,1 tỷ đồng, xấp xỉ 4,5% dự toán cả năm.

12

13

Chiến lược đầu tư theo chu kì kinh tế 

mbs 

 

hotline