Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo chuyên đề T10 ( VDSC )

Được đăng vào 10-10-2019

Dư Địa Chính Sách Tài Khóa Và Kế Hoạch Giải Ngân Đầu Tư Công Tại Việt Nam

“Đâu sẽ là động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong thập kỷ tới?” là câu hỏi thời sự cho tất cả các quốc gia trong bối cảnh hai công cụ kích thích kinh tế, chính sách tài khóa và tiền tệ, đã bị xói mòn nghiêm trọng.

Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi trên dưới góc độ của chính sách tài khóa tại Việt Nam. Chúng tôi đánh giá những ảnh hưởng từ biến động thị trường tài chính toàn cầu lên dư địa điều hành chính sách tài khóa của Chính phủ trước khi đi vào phân tích kế hoạch đầu tư công trong 2-3 năm tới. Thời kỳ nâng cấp cơ sở hạ tầng quy mô lớn tại Việt Nam.

Trong thập kỷ qua, Việt Nam ghi nhận tỷ lệ nợ công/GDP đã tăng gấp đôi và chạm ngưỡng giới hạn. Tuy nhiên, quá trình cải cách chính sách tài khóa trong các năm gần đây với kế hoạch tài chính và đầu tư công trung hạn 2016-2020, kết hợp quy trình quản lý chặt chẽ hơn đang kéo giảm và giữ các tỷ lệ nợ so với GDP, gồm nợ công, nợ chính phủ và nợ nước ngoài nằm trong giới hạn cho phép.

2019 có thể là năm đầu tiên trong thế kỷ 21, Việt Nam ghi nhận thặng dư Ngân sách Nhà nước khi con số này đạt 80 nghìn tỷ đồng trong 1H2019. Mặc dù chúng tôi hoài nghi về tính bền vững của hiện tượng này, nhưng chắc chắn rằng con số thặng dư NSNN kể trên sẽ đóng góp rất lớn để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô nói chung và niềm tin của nhà đầu tư nói riêng trong giai đoạn sóng gió hiện nay.

Tháng 9 vừa qua được xem như điểm khởi đầu cho thời kỳ nâng cấp cơ sở hạ tầng trên quy mô lớn tại Việt Nam. Các đại dự án như Cao tốc Bắc Nam, Sân bay Long Thành,…sẽ là một trong những trụ cột chính giữ vững tăng trưởng kinh tế ở hiện tại và tô thêm gam màu sáng cho triển vọng kinh tế Việt Nam trong tương lai.

2020 là năm cuối cùng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020. Với việc Luật đầu tư công sửa đổi sẽ chính thức có hiệu lực từ 01/2020, chúng tôi kỳ vọng các điểm nghẽn chính sách giải ngân vốn đầu tư công sẽ được giải quyết. Theo tính toán của chúng tôi, quy mô vốn đầu tư công có thể giải ngân trong năm 2020 lên tới 500 nghìn tỷ, tăng 16% yoy so với dự toán 2019”

1

Nợ công tăng trên quy mô toàn cầu trong hơn một thập kỷ qua

Kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, rủi ro địa chính trị chưa từng thấy trong các thập kỷ gần đây trỗi dậy, lo ngại rủi ro suy thoái có thể sớm diễn ra đang lan tỏa khắp mọi nơi, và chúng ta tiếp tục đi tìm lời giải cho câu hỏi: Điều gì sẽ duy trì tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong giai đoạn tới?

Trong báo cáo phân tích này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới dư địa chính sách tài khóa trong bối cảnh khả năng kích thích kinh tế thông qua chính sách tiền tệ đang ngày càng hạn hẹp và rủi ro “bẫy thanh khoản” gia tăng do mặt bằng lãi suất tại các quốc gia phát triển giảm dần về 0% và dưới 0%.

Dữ liệu kinh tế cho thấy nợ công tại hầu hết các quốc gia/vùng lãnh thổ đã tăng mạnh trong hơn 1 thập kỷ qua. Tại các nền kinh tế phát triển, tỷ lệ nợ công/GDP tăng rất mạnh trong giai đoạn hậu khủng hoảng 2007-2012 trước khi dừng lại và đi ngang. Trong khi đó, Chính phủ tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển đẩy mạnh chi tiêu và vay mượn nhiều hơn trong 5 năm gần đây. Tình trạng nợ công/GDP áp sát trần an toàn đề ra trở nên phổ biến trên quy mô toàn cầu.

Do đó, việc đưa ra cải cách chính sách tài khóa toàn diện và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thực sự tạo sức ép lên phía nhà điều hành khi các yếu tố nhân khẩu học, công nghệ, toàn cầu hóa đang khiến cơ chế điều hành chính sách tài khóa trong quá khứ trở nên kém hiệu quả và không ổn định.

Tại thời điểm này, chúng ta nhắc nhiều tới khái niệm “Tiền trực thăng”, được đề xuất bởi cựu chủ tịch FED Ben Bernanke năm 2002, hàm ý sự phối hợp hiếm gặp trong quá khứ giữa “bàn tay” tài chính và tiền tệ theo hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nội dung chính:

“Việc cắt giảm thuế trên diện rộng, chẳng hạn, được hỗ trợ bởi một chương trình mua tài sản trên thị trường nhằm giảm bớt mọi xu hướng tăng lãi suất, gần như sẽ là một động lực đối với tiêu dùng và tăng giá cả. Ngay cả khi các hộ gia đình quyết định không tăng tiêu dùng mà thay vào đó tái cân bằng danh mục bằng cách sử dụng thêm tiền mặt để sở hữu thêm tài sản thực và tài chính. Kết quả của việc tăng giá trị tài sản sẽ làm giảm chi phí vốn và cải thiện tình hình bảng cân đối kế toán riêng của người vay tiềm năng. Tài trợ giảm thuế bằng cách cung tiền tương tự như khái niệm “tiền trực thăng” của Milton Friedman.

2

Tác động tiềm tàng từ cú sốc tài chính toàn cầu đến nền tảng kinh tế vĩ mô

Xét riêng 11 quốc gia mới nổi và đang phát triển, Trung Quốc, Việt Nam, Argentina và Brazil thuộc nhóm các nước “nằm trên đường xu hướng”. Cụ thể, kể từ sau cuộc Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, Chính Phủ Trung Quốc đã đưa ra các chương trình kích thích kinh tế với hàng loạt dự án xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn. Như hệ quả tất yếu, tỷ lệ nợ công/GDP của quốc gia này đã tăng hơn gấp đôi, từ 26,5% lên 56,7%. Tương tự, tỷ lệ này tại Việt Nam cũng đạt 61,4% tính đến cuối năm 2017 so với mức 39,4% trong thập kỷ trước đó. Argentina và Brazil là những quốc gia hiểu rõ nhất tác động tiêu cực và vẫn đang chìm sâu trong nợ cần với tỷ lệ nợ công/GDP trên 85%. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu bất ổn, vấn đề nợ công kể trên đã khiến đồng nội tệ hai quốc gia này “thực sự” mất giá.

Tuy nhiên, trong ASEAN, các nền kinh tế trong khu vực như Thái Lan, Indonesia và Philippines biến chuyển tích cực hơn, đặc biệt Philippines khi nợ công/GDP giảm từ 52,1% xuống 39,6%.

Trong bối cảnh hiện tại, bên cạnh áp lực từ triển vọng kinh tế toàn cầu xấu đi, dư địa điều hành chính sách tài khóa còn bị ảnh hưởng bởi áp lực từ diễn biến thị trường tài chính toàn cầu. Theo IMF, áp lực lên thị trường tài chính toàn cầu có thể làm xói mòn niềm tin từ nhà đầu tư và gia tăng phần bù rủi ro. 2 Những cú sốc mạnh sẽ dẫn tới tăng lãi suất, biến động tỷ giá, giá tài sản điều chỉnh hay rút ròng mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Hệ quả lên nền kinh tế gắn với suy giảm nền tảng tài chính của tất cả các chủ thể gồm hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ.

Tuy nhiên, tác động lên tình hình tài chính công tại các quốc gia khác nhau sẽ phân hóa và phụ thuộc vào một số yếu tố chính, gồm cường độ và thời gian của các cú sốc tài chính; nền tảng kinh tế vĩ mô từng quốc gia; quy mô tài sản dự trữ; và cấu trúc nợ công từng nước.

Hình 5 và 6 thể hiện tác động của sức ép trên thị trường tài chính toàn cầu lên các biến số vĩ mô trọng yếu, nợ công/GDP, thâm hụt tài khóa/GDP, lãi suất và tăng trưởng kinh tế của IMF khi độ lệch chuẩn của chỉ số áp lực tài chính (FSI) thay đổi 1 đơn vị. So với quá khứ, việc chỉ số FSI thay đổi 1 đơn vị tương đương 1/10 cú sốc từ khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) và 2/3 cú sốc từ khủng hoảng nợ công Châu Âu (2009-2014).

Với quy mô và cấu trúc nợ công hiện tại của Việt Nam, trong trường hợp cú sốc tài chính kể trên xảy ra, tỷ lệ nợ công/GDP sẽ tăng tối đa 2%, lãi suất tăng 25 bps trong khi tăng trưởng kinh tế giảm tối đa 1%. Thâm hụt tài khóa không biến động mạnh. Giả định quy mô nền kinh tế Việt Nam chưa thay đổi theo số liệu mới từ Tổng cục Thống kê.

4

6

Nợ công Việt Nam

Mặc dù tỷ lệ nợ công của Việt Nam xếp hạng khá cao so với các nước trong khu vực, nhưng chúng ta không thể phủ nhận nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc kiểm soát và giảm tỷ lệ này thông qua kế hoạch tài chính công và đầu tư công trung hạn 2016-2020. Trong bức tranh tài chính công, Việt Nam đã và đang từng bước ghi nhận những điểm tích cực khi tỷ lệ nợ công, nợ chính phủ và nợ nước ngoài đều nằm trong giới hạn cho phép

Trong 3 năm trở lại đây, tỷ lệ nợ công/GDP đã giảm từ mức đỉnh 63,7% xuống 58,4% trong khi nợ chính phủ/GDP được kéo về ngưỡng 50. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế hồi phục và đạt mức 7,1% yoy trong năm 2018, quá trình thoái vốn và cổ phần hóa cũng được đẩy mạnh trong giai đoạn kể trên. Hoạt động chi thường xuyên được kiểm soát chặt chẽ hơn khi tỷ lệ chi thường xuyên so với tổng chi Ngân sách Nhà nước giảm từ 75% về 68%.

Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạt sạn và cần cải thiện gồm, 1) Giải ngân vốn đầu tư công chậm làm giảm hiệu quả nguồn vốn huy động, 2) Diễn biến thoái vốn và cổ phần hóa đang tắc nghẽn và 3) Bội chi Ngân sách vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực.

77

Đi sâu vào cơ cấu nợ công Việt Nam thời điểm 2017, nợ công Việt Nam đạt 61,4% GDP trong đó, nợ Chính phủ chiếm 51,7% GDP, còn lại là nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Với cách tính hiện nay, vấn đề tính thiếu/tính chưa đủ nợ công được nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập vẫn còn đó. Tiêu biểu như các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản hay các khoản nợ tiềm ẩn khác.

Nợ nước ngoài quốc gia/GDP năm 2017 ở mức 48,9% trong đó nợ công nước ngoài chiếm 28,2% GDP và nợ từ khu vực doanh nghiệp đạt 20,8% GDP. So với các nước trong khu vực, quy mô nợ nước ngoài/GDP của Việt Nam cũng ở ngưỡng cao nhưng đây đều là những khoản vay ưu đãi có thời hạn dài và lãi suất thấp trong quá khứ. Điển hình như Malaysia, tỷ lệ nợ nước ngoài/GNI lên tới 70% trong khi các khoản nợ ngắn hạn chiếm 40% tổng quy mô. Với Việt Nam, tỷ lệ nợ ngắn hạn chỉ ở mức 21%. Do đó, rủi ro lên thị trường tài chính trong ngắn và trung hạn sẽ không cao

Tuy nhiên, liệu nợ công có thể kéo dài xu hướng giảm trên trong thời gian tới? Chúng tôi ghi nhận những điểm nghẽn có thể làm gián đoạn xu hướng trên. Cụ thể, về áp lực trả nợ công, trong năm 2020-2021, nghĩa vụ trả nợ sẽ rất cao khi gần 25% nợ công trong nước sẽ đến hạn. Tính cả khoản nợ nước ngoài, nhu cầu vay để trả nợ sẽ lên đến 22 tỷ USD. Trong năm 2020, đỉnh nợ rơi vào tháng 10-11 với khối lượng nợ gốc đáo hạn đạt 2,7 tỷ USD, trong đó 1 tỷ USD trái phiếu ngoại tệ

Trong khi đó, các khoản nợ Chính phủ bảo lãnh sẽ không dễ giải quyết do nhu cầu huy động vốn và phát triển của ngành năng lượng điện tại Việt Nam. Ngoài ra, nhiều khoản vay bảo lãnh đang bị chôn vốn tại 12 dự án thua lỗ của ngành Công thương.

8

9

Thặng dư Ngân sách Nhà nước trong 1H2019

Tình hình ngân sách công Việt Nam đang ghi nhận hiện tượng hiếm gặp trong suốt chiều dài lịch sử với khoản thặng dư NSNN lên tới gần 80 nghìn tỷ đồng trong 1H2019. Cụ thể, tổng thu NSNN đạt 745 nghìn tỷ đồng trong khi tổng chi NSNN ở mức 666 nghìn tỷ đồng

Kết này đạt được do một số nguyên nhân chính, gồm 1) Giải ngân vốn đầu tư công chậm, 2) Nguồn thu thuế xuất-nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt tăng đột biến do giá trị nhập khẩu ô tô nguyên chiếc tăng trên 400% trong 1H2019, 3) Ghi nhận giá trị thoái vốn nhà nước được thực hiện trước đó, và 4) Nguồn thu thuế tiêu dùng và thuế thu nhập tăng trưởng ổn định trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nhìn chung đang ở mức cao.

Do đó, nguyên nhân dẫn tới khoản thặng dư NSNN hiện tại mang tính nhất thời và không đến từ các nền tảng cơ bản. Kết thúc năm tài khóa 2019, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam ghi nhận thặng dư NSNN. Tuy nhiên, thành tích trên khó lặp lại trong năm 2020. Loại bỏ 3 yếu tố đầu tiên, chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới mối tương quan giữa tăng trưởng GDP danh nghĩa và tăng trưởng nguồn thu thuế. Nhìn chung, hai biến số trên có tương quan mật thiết với nhau. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và hoạt động thương mại suy giảm, Việt Nam khó nằm ngoài vòng xoáy tác động và bài toán duy trì tốc độ tăng trưởng thu thuế trên 10% sẽ rất thách thức.

10

Tốc độ giải ngân vốn đầu tư bắt đầu tăng từ 2020

Như đề cập trong mục đầu tiên, vai trò của chính sách tài khóa đang được nhắc đến nhiều hơn với sự kết hợp của chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mặc dù dư địa của cả hai công cụ trên bị hạn hẹp. Tại Việt Nam, kế hoạch đầu từ công trung hạn 2016-2020 đã chỉ rõ và chuẩn bị nguồn vốn đầu tư thông qua hoạt động thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước (SOEs). Các năm qua, quá trình giải ngân vốn đầu tư công chậm chạp trong đó chính sách và luật pháp là một trong những yếu tố cốt lõi. Tuy nhiên, từ năm 2020, chúng tôi cho rằng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công sẽ tăng mạnh trở lại.

2020 là năm cuối cùng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 do Quốc hội đề ra. Ngay từ 01/2020, Luật đầu tư công sửa đổi sẽ chính thức có hiệu lực và được kỳ vọng sẽ giải quyết những điểm nghẽn trong quá trình giải ngân vốn đầu tư công

13

Trung tuần tháng 9 vừa qua, Chính phủ đã chính thức khởi công dự án đường cao tốc Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, một phần trong đại dự án Cao tốc Bắc Nam. Đây là cột mốc đánh dấu chu kỳ đầu tư cơ sở hạ tầng mới và mạnh mẽ của Việt Nam với các đại dự án như Cao tốc Bắc Nam, sân bay Long Thành,…Mới đây, Quốc hội đã đồng ý Chính phủ quyết định danh mục các dự án sử dụng nguồn dự phòng chung và nguồn vốn còn lại của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016- 2020. Theo tính toán của chúng tôi, quy mô vốn đầu tư công có thể giải ngân trong năm 2020 lên tới 500 nghìn tỷ, tăng 16% yoy so với dự toán 2019.

Tại Việt Nam nói riêng và các quốc gia đang phát triển nói chung, thu xếp vốn cho nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ luôn là bài toán hóc búa. Trong đó, Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc việt nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2016 là ưu tiên hàng đầu. Bảng phía dưới.

Trong 5 năm triển khai vừa qua, chúng tôi ghi nhận một số điểm đáng chú ý, gồm:

Hệ thống đường cao tốc kết nối các tỉnh/thành phố cấp 1, 2 với hai Trung tâm kinh tế Hồ Chí Minh và Hà Nội được triển khai và hoàn thành sớm. Trong khi đó, các tuyến đường vành đai tại Hà Nội và Hồ Chí Minh đều bị lùi thời hạn triển khai so với dự kiến ban đầu.

• Hệ thống đường cao tốc liên tỉnh/thành rất phát triển tại khu vực phía Bắc và vươn tới khu vực biên giới Việt – Trung. Qua đó tạo điều kiện phát triển cho các tỉnh/thành vùng biên khi trong cùng thời gian, Trung Quốc đã và đang đẩy mạnh phát triển khu vực kinh tế biên giới với các nước tiếp giáp, đặc biệt các khu mậu dịch tự do. Điều này nằm trong sáng kiến “Vành đai, con đường” (BRI) của quốc gia này.

Trong 2 năm tới đây, dự án Cao tốc Bắc-Nam, xương sống trong hệ thống giao thông đường bộ của Việt Nam, sẽ kết nối và mang cơ hội phát triển tới các tỉnh/thành phố trên dải đất miền Trung. Tổng quy mô dự án đạt khoảng 5 tỷ USD, trong đó 3/11 tuyến đường/đoạn sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã và sẽ được triển khai trong quý 4/2019. Phần còn lại dự kiến sẽ dần triển khai từ quý 2/2020 theo hình thức PPP. Từng tuyến đường/đoạn dự kiến hoàn thành trong 18 tháng kể từ thời điểm khởi công.

Điểm nổi bật trong dự án Cao tốc Bắc-Nam gắn với việc Bộ giao thông vận tải công bố hủy đấu thầu quốc tế và chuyển sang đấu thầu trong nước. Điều này mang tới cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong nước. Một mặt, quy mô các dự án triển khai theo hình thức PPP trong cao tốc Bắc-Nam rất lớn lên tới 4 tỷ USD. Mặt khác, nguồn vốn nhà nước chỉ đáp ứng được 40% trong khi các doanh nghiệp tham gia phải có vốn chủ sở hữu tương đương 20% vốn đầu tư dự án. Điều này tạo áp lực và thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước liên danh với nhau. Bên cạnh đó, liệu hệ thống tài chính trong nước có đáp ứng được là câu hỏi cần giải đáp. Chia lửa cho hệ thống tín dụng trong nước, mới đây IFC nhận được sự ủng hộ từ Bộ Tài Chính về kế hoạch phát hành trái phiếu Bông Sen, trái phiếu tiền đồng của IFC, ra thị trường quốc tế nhằm huy động vốn cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước mà không phải lo về tỷ giá.

11

15

1617

18

( Vdsc ) 

 

hotline