Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo trái phiếu H1/2019

Được đăng vào

Báo cáo trái phiếu H1/2019

1

 105.113 tỷ đồng (+40,94% yoy) trái phiếu được huy động trên thị trường sơ cấp, 1.021.313 tỷ đồng (-22 yoy) được giao dịch trên thị trường thứ cấp trong nửa đầu năm.

 Đường lợi suất trở nên phẳng hơn trong bối cảnh mức biến động của lợi suất trái phiếu dài hạn nhỏ hơn đáng kể so với các trái phiếu ngắn hạn. Theo thống kê của Bloomberg, lợi suất các kỳ hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt kết thúc nửa đầu năm 2019 ở 3,273% (-83 bps ytd), 3,537% (-67 bps ytd), 3,658% (-64 bps ytd), 3,91% (-65 bps ytd), 4,257% (-51 bps ytd), 4,692% (-43 bps ytd), 5,07% (-34 bps),

 Khối ngoại mua ròng mạnh 10.189,6 tỷ đồng ở hầu hết các kỳ hạn.

 Nhìn chung mặt bằng lãi suất liên ngân hàng cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Lãi suất các kỳ hạn ON-3M được ghi nhận lần lượt ở 3,871%, 3,907%, 3,957%, 4,05% và 4,186%

 NHNN hút ròng 72.063 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong nửa đầu năm

Chúng tôi  Nhận định

 Chứng tôi  đánh giá mức tăng lên lợi suất trái phiếu hiện hữu trong nửa cuối năm 2019 và đặc biệt là trong quý 3. Cùng với đó, sản phẩm hơp đồng tương lai trái phiếu chính phủ sẽ làm tăng biên độ dao động của lợi suất trên thị trường cơ sở.

 Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao quanh ngưỡng này, chịu áp lực đẩy lên nếu có sẽ chỉ xảy ra ở một số thời điểm mà không kéo dài lâu. Điều này chỉ thể hiện mức chi phí vốn cao hơn mà không đồng nghĩa với khả năng thiết hụt thanh khoản: (1) Tốc độ giải ngân công chậm và không nhiều đột biến. (2) Tăng trưởng tín dụng được dự báo sẽ tương đương năm 2018. (3) Không có áp lực đáng kể về tỷ giá trong giai đoạn này đi cùng với đó là sự ổn định của các biến số kinh tế vĩ mô.

Thị Trường Sơ Cấp.  Trái phiếu kỳ hạn 10 và 15 năm được huy động nhiều nhất.

105.113 tỷ đồng (+40,94% yoy) trái phiếu được huy động trong nửa đầu năm từ Kho Bạc Nhà nước (KBNN), hoàn thành 40,4% kế hoạch phát hành TPCP cả năm huy động vốn cho NSNN. Cụ thể KBNN huy động 4.256 tỷ đồng; 3.550 tỷ đồng; 43.332 tỷ đồng; 41.605 tỷ đồng; 7.085 và 5.285 tỷ đồng trái phiếu tại các kỳ hạn 5 năm, 7 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm. Tỷ lệ trúng thầu/gọi thầu đạt 75,48%'

Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển (VDB) và Ngân hàng Chính sách Xã hội (VBSP) không huy động trái phiếu trong nửa đầu năm.

2

Lãi suất trúng thầu trong quý giảm đáng kể ở hầu hết các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất trúng thầu ghi nhận ở mức ở 3,70% (-50 bps ytd); 4,05% (+15 bps ytd); 4,64% (-46 bps ytd); 5,00% (-30 bps ytd); 5,58% (+36 bps ytd) và 5,78% (+36 bps ytd) cho các kỳ hạn 5 năm, 7 năm, 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm. Trong nửa đầu năm, kỳ hạn 10 năm và 15 năm tiếp tục là kỳ hạn có khối lượng trúng thầu cao nhất.

3

Cập nhật diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước và thế giới:

 Tổng cục Thống kê đã công bố số liệu kinh tế xã hội trong 6 tháng đầu năm 2019. Trong đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) Q2/2019 tăng 6,71% yoy và 6 tháng ước tính tăng 6,76%. Con số này tuy thấp hơn mức tăng trưởng trong H1/2018 nhưng cao hơn giai đoạn 2011-2017. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong HI là khu vực công nghiệp và xây dựng với mức tăng 12,35%; cùng với đó khu vực dịch vụ trong HI tăng 6,69% so với cùng kỳ.

 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2019 giảm 0,09% so với tháng trước, CPI bình quân 6 tháng tăng 2,64% so với cùng kỳ. Trong đó, giá các mặt hàng thực phẩm, vật liệu bảo dưỡng nhà ở và giá sách giáo khoa là những yếu tố chính tác động lên sự gia tăng của CPI. Lạm phát dù vẫn đang được kiểm soát khá tốt trong H1.2019 nhưng vẫn dự báo có thể tăng cao trở lại đặc biệt trong giai đoạn Quý 3 do tăng lương cơ bản, hiệu ứng giá điện, giáo dục y tế, và giá lương thực thực phẩm tăng lại sau dịch bệnh.

 Trong cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 6, FED đã quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản trong phạm vi mục tiêu từ 2,25% đến 2,5%. Tuy nhiên, FED để ngỏ khả năng giảm lãi suất từ nay đến cuối năm. Trong trung hạn, trong bối cảnh kinh tế-địa chính trị hiện tại khi mà xu hướng chung của dòng vốn đầu tư nước ngoài (cả gián tiếp và trực tiếp) vẫn đang tìm cách rời khỏi những khu vực dân số già hóa và những khu vực bất ổn chính trị/chiến tranh leo thang, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những điểm đến hấp dẫn.

 Sau diễn biến căng thẳng của thị trường ngoại hối cuối năm 2018, từ đầu năm đến nay, NHNN đã liên tiếp mua vào ngoại tệ nâng dự trữ ngoại hối. Tỷ giá giao dịch tại các NHTM không có nhiều biến động trong nửa đầu năm. Cùng với tin tức tích cực từ động thái của FED, kèm theo dòng vốn đầu tư vào Việt Nam duy trì – tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ, VCBS kỳ vọng mức giảm giá của VND áp dụng cho tỷ giá trung tâm trong năm 2019 sẽ không quá 2%.

 Trong các báo cáo gần đây của các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) liên tiếp hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu do các căng thẳng thương mại chưa đi đến hồi kết khiến thương mại toàn cầu chậm lại và niềm tin kinh doanh sụt giảm. Cụ thể, tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong Quý 2 đạt 6,2%, chậm nhất trong 27 năm trở lại. Mức tăng trưởng thấp đi kèm với sự suy giảm trong hoạt động xuất nhập khẩu kéo theo những lo ngại về hiệu ứng dây chuyển, làm suy giảm lòng tìn nhà đầu tư trong bối cảnh những yếu tố bất định gia tăng.

Thị Trường Thứ Cấp.  Thanh khoản giao dịch ở mức cao

1.021.313 tỷ đồng (-22% yoy) được giao dịch trên thị trường thứ cấp. Cụ thể, giá trị giao dịch outright đạt 459.119 tỷ đồng (-26% yoy) trong khi giá trị giao dịch repo đạt 562.194 tỷ đồng (-18% yoy). Trái phiếu kỳ hạn ngắn (<5 năm) chiếm 49% tổng giá trị giao dịch. Theo sau là các trái phiếu giao dịch tại các kỳ hạn dài trên 10 năm (chiếm gần 20%).

4

Đường lợi suất trở nên phẳng hơn trong bối cảnh mức biến động của lợi suất trái phiếu dài hạn nhỏ hơn đáng kể so với các trái phiếu ngắn hạn. Theo thống kê của Bloomberg, lợi suất các kỳ hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt kết thúc nửa đầu năm 2019 ở 3,273% (-83 bps ytd), 3,537% (-67 bps ytd), 3,658% (-64 bps ytd), 3,91% (- 65 bps ytd), 4,257% (-51 bps ytd), 4,692% (-43 bps ytd), 5,07% (-34 bps),

Các nguyên nhân lý giải hỗ trợ cho thị trường trái phiếu trong giai đoạn nửa đầu năm như: (1) Sư ổn định của các yếu tố kinh tế vĩ mô: (i) Tốc độ tăng trưởng GDP được duy trì; (ii) Lạm phát được kiểm soát; (iii) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục khởi sắc. Cùng với đó, (2) Thanh khoản hệ thống ngân hàng duy trì. (3) Những bất ổn chính trị tạm ngừng leo thang, đặc biệt là sau cuộc họp hội nghị thượng đỉnh G20 tại Nhật Bản, hai nước Mỹ - Trung đã đạt những kết quả thỏa thuận tương đối thích hợp và (4) Cách tiếp cận thận trọng từ FED đối với lộ trình nâng lãi suất hỗ trợ tâm lý nhà đầu tư.

5

Trong nửa cuối năm, chúng tôi đánh giá áp lực tăng lên lợi suất trái phiếu hiện hữu trong bối cảnh: (1) Tâm lý của các thành viên trên thị trường thận trọng hơn trước các yếu tố bất định lớn hơn trên thị trường thế giới. (2) Áp lực lạm phát gia tăng do tăng lương cơ bản, hiệu ứng giá điện, giáo dục y tế, và giá lương thực thực phẩm tăng lại sau dịch bệnh. (3) Chúng tôi cũng nhìn nhận thấy chi phí vốn của các NHTM chịu nhiều áp lực tăng, ít khả năng giảm mạnh bắt nguồn từ định hướng điều hành của NHNN: (i) Một số NHTM vẫn phải đẩy mạnh việc huy động tăng vốn nhằm đáp ứng các tỷ lệ an toàn. (ii) Việc nguồn tiền của KBNN chuyển dịch từ NHTM về NHNN nếu xảy ra sẽ làm hụt đi tương lớn nguồn vốn với chi phí rẻ của các NHTM đặc biệt là các ngân hàng đã được tiếp cận với nguồn vốn này

Mặc dù chịu nhiều áp lực tăng trong giai đoạn tiếp theo, mặt bằng lợi suất trái phiếu kết thúc năm 2019 được dự báo sẽ tương đương năm ngoái trong bối cảnh nhu cầu đầu tư trái phiếu cùng những yếu tố thuận lợi vẫn tồn tại. Trong đó, áp lực tăng chủ yếu được ghi nhận tại các kỳ hạn dài trong bối cảnh chi phí vốn cao hơn. Lợi suất trái phiếu ngắn hạn tương đối ổn định và có thể có mặt bằng hợp lý hơn do đây là các kỳ hạn biến động theo lãi suất liên ngân hàng

cCùng với đó, VCBS cho rằng sản phẩm hợp đồng tương lai phái sinh đã ra mắt đầu tháng 7 nhiều khả năng sẽ làm tăng biên độ dao động của lợi suất trên thị trường cơ sở. Tuy nhiên do thị trường mới đi vào hoạt động, hệ thống giao dịch cần thời gian chuẩn bị, đồng thời các thành viên trên thị trường cũng theo dõi quan sát trước khi ra quyết định phù hợp. Bởi vậy, diễn biến trên thị trường hợp đồng tương lai phái sinh Trái phiếu Chính phủ chưa thực sự sôi động trong giai đoạn đầu mới triển khai.

Khối ngoại mua ròng mạnh 10.189,6 tỷ đồng ở hầu hết các kỳ hạn. Xu hướng mua ròng được duy trì trong 3 quý gần đây ở hầu hết các kỳ hạn.

Trong nửa cuối năm 2019, chúng tôi cho rằng khối ngoại có thể tiếp tục đà mua ròng trên thị trường, tuy nhiên khối lượng mua ròng sẽ giảm đáng kể so với nửa đầu năm khi lợi suất đã giảm mạnh trong giai đoạn vừa qua và đặc biệt là Q1, kéo theo làm giảm mức hấp dẫn của Trái phiếu chính phủ Việt Nam.

3

Lãi Suất

Lãi Suất Liên Ngân Hàng

Nhìn chung mặt bằng lãi suất liên ngân hàng cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, lãi suất liên ngân hàng chịu áp lực tăng đầu năm do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, sau đó ghi nhận nhịp giảm khi cung-cầu được cân bằng. Lãi suất các kỳ hạn OM-3M được ghi nhận lần lượt ở 3,871%, 3,907%, 3,957%, 4,05% và 4,186%.

7

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng trong nửa cuối năm 2019 nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao và hợp lý quanh ngưỡng ngưỡng này. Điều này được lý giải chủ yếu do định hướng điều hành của NHNN, cụ thể: (i) tín dụng tăng trưởng hợp lý đi đôi với chất lượng, hiệu quả; (ii) điều hành chính sách tiền tệ giữ mặt bằng lãi suất ở mức ổn định đảm bảo mức lãi suất huy động, và duy trì lãi suất cho vay ở mức hợp lý; (iii) tiếp tục triển khai xử lý nợ xấu theo đúng lộ trình, đảm bảo hoạt động của các tổ chức tín dụng. Định hướng làm thay đổi đáng kể đối với mức độ biến động mặt bằng lãi suất huy động theo hướng tăng chi phí vốn đối với thị trường liên ngân hàng.

Tuy nhiên, điều này chỉ thể hiện mặt bằng chi phí vốn cao hơn trong bối cảnh NHNN kiên định với các mục tiêu về đảm bảo các tỷ lệ an toàn, tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế. Mặt bằng lãi suất chịu áp lực đẩy lên nếu có sẽ chỉ xảy ra ở một số thời điểm mà không kéo dài lâu, dặc biệt trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới đều tương đối thuận lợi cho việc giữ ổn định tỷ giá. Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng sẽ không xảy ra trạng thái thiếu hụt thanh khoản trong năm 2019: (1) Tốc độ giải ngân đầu tư công chậm và không nhiều đột biến. Cụ thể, giải ngân đầu tư công từ đầu năm đến 15/6 đạt 112,1 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1% dự toán cả năm (cùng kỳ năm 2018 đạt 27,8%). Tuy nhiên chúng tôi cũng quan sát thấy một số nỗ lực nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong giải ngân đầu tư công và từ đó kỳ vọng vấn đề này sẽ được cải thiện rõ nét trong cuối năm. (2) Tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm đạt 7,33% xấp xỉ năm ngoái, đảm bảo kiểm soát rủi ro và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. NHTM tập trung cải thiện chất lượng tín dụng thay vì tăng lượng dư nợ cho vay. (3) Trong 6 tháng đầu năm, NHNN đã mua vào lượng lớn ngoại tệ và đưa mức tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước cao nhất từ trước tới nay, tạo bước đệm để xử lý các tác động bất lợi từ bên ngoài. Do đó, tỷ giá được kỳ vọng tiếp tục giữ ổn định trong nửa cuối năm 2019.

Trong bối cảnh thanh khoản ổn định nhưng chi phí vốn cao hơn khiến các thành viên trên thị trường có xu hướng chấp nhận chuyển dịch một phần sang các kênh đầu tư có mức rủi ro cao hơn để tìm kiếm lợi suất tương xứng.

Thị Trường Mở

NHNN hút ròng 72.063 tỷ đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong nửa đầu năm 2019. NHNN đã sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở nhịp nhàng và hợp lý để điều tiết lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Cụ thể, trước nhu cầu thanh khoản tăng cao theo yếu tố mùa vụ, NHNN phát hành lượng lớn repo trong tháng 1. Tuy nhiên, ngay sau Tết âm lịch, NHNN giảm dần lượng phát repo, đồng thời phát hành tín phiếu để hút thanh khoản dư thừa trên hệ thống và mua ròng ngoại tệ, dự trữ ngoại hối. Vào thời điểm cuối Quý 2, nguồn cung VND trên liên ngân hàng thường kèm dồi dào, NHNN bơm ròng 63,8 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản.

8

Môi giới chứng khoán

mbs 

hotline