Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo Cáo Trái Phiếu 2018

Được đăng vào

Báo Cáo Trái Phiếu 2018 

1

 192.012 tỷ đồng (-1,48% yoy) trái phiếu được huy động năm 2018. Tỷ lệ trúng thầu của trái phiếu có kỳ hạn 10 năm và 15 năm ở mức cao.

 Đường lợi suất có xu hướng phẳng hơn và dịch chuyển lên trên trong bối cảnh mức biến động giá của trái phiếu dài hạn nhỏ hơn đáng kể so với các trái phiếu ngắn hạn.  kết thúc năm 2018, theo thống kê của Bloomberg, lợi suất các kì hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt kết thúc năm ở mức 4,1% (+46 bps yoy); 4,21% (+31 bps yoy); 4,295% (+34,1 bps yoy); 4,555% (+19,5 bps yoy); 4,763% (+14,3 bps yoy); 5,125% (-7,9 bps yoy) và 5,413% (-27,67 bps yoy).

 Khối ngoại mua ròng nhẹ 103 tỷ đồng trong năm 2018.

 Kể từ tháng giữa tháng 6 trở đi, lãi suất liên ngân hàng dần tăng và theo đó ghi nhận mặt bằng trung bình cao hơn so với cùng kỳ.

 NHNN chủ động sử dụng Nghiệp vụ thị trường mở. Lãi suất thị trường mở giảm 0,25% trong tháng 1 và sau đó ổn định ở 4,75%.

 Năm 2019, dự báo mặt bằng lãi suất liên ngân hàng trung bình trong năm sẽ tiếp tục cao hơn năm 2018. Mặt bằng lãi suất huy động dự báo tăng khoảng 50 điểm trong khi lãi suất cho vay dù chịu áp lực tăng nhưng nhìn chung sẽ vẫn ổn định và chỉ biến động mang tính cục bộ.

 Kỳ hạn phát hành trung bình dự báo giảm nhẹ. Áp lực phát hành lớn hơn năm 2018 và tập trung vào đầu năm.

 Yếu tố chính tác động lên thị trường thứ cấp trong năm tới là: thanh khoản trên thị trường ngân hàng; Chính sách của NHNN và quá trình Giải ngân vốn đầu tư công.

 Thị trường chia làm 3 giai đoạn với áp lực tăng lên lợi suất chiếm ưu thế. Mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất trong nửa đầu năm hoàn toàn khả thi với một số yếu tố hỗ trợ. Mặt bằng lãi suất huy động chịu áp lực tăng chủ yếu vào thời điểm nửa cuối năm 2019.

THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

Thị Trường Sơ Cấp.  KBNN tập trung phát hành trái phiếu kỳ hạn 10 và 15 năm. Lợi suất trúng thầu tạo đáy trong Quý 1 và sau đó chịu áp lực tăng.

192.012 tỷ đồng (-1,48% yoy) trái phiếu được huy động năm 2018. Cụ thể, lượng phát hành của trái phiếu Kho Bạc Nhà Nước, trái phiếu Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam, trái phiếu Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội lần lượt đạt 165.797 tỷ đồng, 9.670 tỷ đồng, và 16.545 tỷ đồng. Đối với Trái phiếu Chính phủ, 165.797 tỷ đồng được phát hành. Tiếp nối xu hướng của năm 2017, công tác đấu thầu TPCP 2018 tiếp tục đón nhận kết quả tích cực. Theo đó, kỳ hạn phát hành của TPCP đạt 12,41 năm (tuy giảm nhẹ so với 13,03 năm trong 2017 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với 8,7 năm và 5,75 năm lần lượt trong các năm 2016 và 2015). Mức độ quan tâm và nhu cầu của thành viên, nhà đầu tư về TPCP vẫn được duy trì. Điều này thể hiện qua khối lượng đặt thầu toàn thị trường gấp 2,23 lần so với khối lượng gọi thầu, so với 2,79 trong 2017. Mặc dù vậy, dưới sự điều tiết của Kho bạc Nhà nước, tỷ lệ trúng thầu/gọi thầu giảm đáng kể đạt 56,75% so với mức 73% năm 2017.

Kết quả đấu thầu Trái phiếu Chính phủ năm 2018

2

Trong năm 2018, lượng phát hành trái phiếu tại các kỳ hạn 20 năm, 30 năm suy giảm rõ rệt khi nhu cầu của các ngân hàng tại nhóm kỳ hạn này trở nên dần bão hòa, KBNN đã chủ động tiến hành huy động tại các kỳ hạn 10 và 15 năm. Tỷ lệ trúng thầu của trái phiếu có kỳ hạn 10 năm và 15 năm ở mức cao. Kết thúc năm 2018, tỷ lệ trúng thầu ở các kỳ hạn 10 năm, 15 năm lần lượt là 5,1% (-18 bps yoy); và 5,3% (-45 bps yoy). Đối với các kỳ hạn 5 năm và 7 năm, mặc dù nhu cầu vẫn tương đối lớn thể hiện ở tỷ lệ đăng ký/ gọi thầu luôn ở mức cao so với các kỳ hạn còn lại. Lượng Trái phiếu chính phủ bảo lãnh phát hành đạt 26.215 tỷ đồng từ Ngân hàng Phát triển (VDB) và Ngân hàng Chính sách xã hội (VBS) tập trung chủ yếu vào các tháng cuối năm. Mức chênh lệch lãi suất trúng thầu so với TPCP duy trì quanh mức 50-70 điểm.

3

Triển vọng kinh tế vĩ mô năm 2019:

 GDP 2019 dự báo tăng khoảng 6,6%-6,8% với động lực tăng trưởng không có nhiều biến động. Trong đó, đầu tàu tăng trưởng vẫn là các doanh nghiệp FDI lớn với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất. Khu vực Dịch vụ và công nghiệp chế biến-chế tạo nhiều khả năng tiếp tục là điểm sáng. Cầu tiêu dùng đã và đang cho thấy sự phục hồi tốt hơn, đóng góp tích cực cho tăng trưởng. Dự báo tăng trưởng GDP Quý 1 đạt khoảng 6,2%-6,5%.

 Lạm phát năm 2019 được dự báo mức 4% - 4,5% và chịu tác động đáng kể từ diễn biến giá cả hàng hóa có thể trở lại mức cao. Bên cạnh đó, vào các thời điểm xung quanh việc điều chỉnh giá dịch vụ công như điện sau khi hoàn thành tính toán lại chi phí hay thời điểm tăng học phí theo lộ trình 2016-2020 cũng sẽ chiếm phần đáng kể trong mức tăng CPI chung. Cũng cần lưu ý dư địa để tiếp tục đẩy lùi lộ trình tăng giá của các dịch vụ công đặc biệt là giá điện, mức đóng BHYT, dịch vụ giáo dục,… là không nhiều. Và theo đó, các động thái điều hành của Chính phủ vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát. CPI trong tháng 1 được dự báo tăng 0,6% mom, tương ứng với mức tăng 3,2% so với cùng kỳ.  Với nền kinh tế nhỏ với độ mở cao, áp lực lên tỷ giá trong bối cảnh bất ổn là điều có thể được dự báo. Trong đó áp lực chủ yếu đến từ bên ngoài xung quanh các tâm điểm lớn trên thế giới như Mỹ, EU hay Trung Quốc. Tuy nhiên, với đặc điểm quy mô nhỏ, thì chỉ một nguồn cung ngoại tệ “không quá lớn” cũng là đủ để giữ cân bằng cung cầu ngoại tệ. Trong đó, VCBS cho rằng nguồn cung ngoại tệ mới vẫn tiềm tàng từ các thương vụ bán vốn cho đối tác chiến lược nước ngoài đến từ cả khối doanh nghiệp tư nhân và Nhà nước, bên cạnh các nguồn cung truyền thống khá ổn định từ kiều hối hay các nguồn lực đang nổi lên và đóng góp phần quan trọng trong các năm gần đây là nguồn vốn giải ngân FDI. Theo đó, VCBS dự báo tỷ giá trung tâm sẽ không giảm quá 2,5% cho năm 2019.

 Do định hướng rõ nét của NHNN đối với các NHTM về việc tập trung vào việc cải thiện chất lượng tín dụng thay vì tăng lượng dư nợ cho vay, tăng trưởng tín dụng năm 2018 dự báo đạt ngưỡng khoảng 14% thấp hơn so với năm 2017. Tuy nhiên, trưởng tín dụng năm 2019 có thể sẽ tăng cao hơn so với năm 2018 và ~15%. Trong đó tốc độ tăng trưởng tín dụng tập trung phần lớn vào các TCTD có chất lượng tài sản tốt và đã xử lý xong nợ tồn đọng. Ở chiều ngược lại, tốc độ tăng trưởng sẽ kém khả quan đối với một số TCTD còn gặp khó khăn trong quá trình xử lý nợ xấu. Tín dụng tiếp tục được kiếm soát chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng nợ vay được các ngân hàng chú trọng thay vì chỉ tập trung vào tăng trưởng ồ ạt về số lượng.

3

Thị Trường Thứ cấp . Trên thị trường thứ cấp, đến hết năm 2018, tổng giá trị dư nợ trái phiếu đạt khoảng gần 1,5 triệu tỷ VND, tương đương gần 27% GDP. Trong đó phân khúc sôi động nhất vẫn thuộc về trái phiếu chính phủ. Trong khi đó, phân khúc trái phiếu doanh nghiệp vẫn chưa thực sự phát triển (dư nợ chỉ chiếm khoảng 7%GDP- vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực.

Năm 2018, 2,2 triệu tỷ đồng (-2,3% yoy) được giao dịch trên thị trường thứ cấp. Cụ thể, trong khi giá trị giao dịch outright giảm nhẹ đạt 1 triệu tỷ đồng (-12% yoy) trong khi giá trị giao dịch repo tiếp tục xu hướng tăng đạt 1,19 triệu tỷ đồng (+7% yoy). Đối với hoạt động Outright, trái phiếu dưới 5 năm vẫn là trái phiếu có thanh khoản lớn nhất chiếm khoảng 50% giá trị giao dịch. Thanh khoản giao dịch trung bình phiên giảm nhẹ đạt 8.756 tỷ đồng/phiên do sự trầm lắng của thị trường trong các tháng cuối năm.

3

Kết thúc năm 2018, theo thống kê của Bloomberg, lợi suất các kì hạn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm lần lượt kết thúc năm ở mức 4,1% (+46 bps yoy); 4,21% (+31 bps yoy); 4,295% (+34,1 bps yoy); 4,555% (+19,5 bps yoy); 4,763% (+14,3 bps yoy); 5,125% (-7,9 bps yoy) và 5,413% (-27,67 bps yoy). Như vậy, đường lợi suất có xu hướng phẳng hơn và dịch chuyển lên trên trong bối cảnh mức biến động giá của trái phiếu dài hạn nhỏ hơn đáng kể so với các trái phiếu ngắn hạn

Cụ thể, xét theo mức biến động lợi suất tại các kỳ hạn, vào Quý 1, trong bối cảnh thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng đặc biệt dồi dào nhờ thương vụ SAB, lợi suất trái phiếu tại tất cả các kỳ hạn đều biến động cùng chiều giảm mạnh. Sang đến Quý 2, các diễn biến trên thị trường thế giới không thuận lợi điển hình là lộ trình tăng lãi suất của FED diễn ra nhanh hơn dự kiến khi nền kinh tế Mỹ đón nhận các số liệu tích cực hơn kỳ vọng. Cùng lúc, ở thị trường trái phiếu trong nước, nhịp giảm rất nhanh và mạnh của lợi suất trái phiếu chính phủ hồi đầu năm đưa mặt bằng giá trái phiếu chính phủ lên mức cao kỷ lục đi kèm với đó là áp lực điều chỉnh thường trực trước bất kể tin tức không tích cực. Đây cũng là thời điểm đánh dấu thời kỳ lợi suất bắt đầu đón nhận áp lực tăng, thị trường rơi vào trạng thái trầm lắng.

3

Trong khi đó, nửa cuối năm 2018 dù lợi suất tiếp tục có xu hướng tăng nhưng áp lực tăng chủ yếu được ghi nhận tại các kỳ hạn ngắn do đây là các kỳ hạn nhạy cảm với các biến động trên thị trường tiền tệ. Nguyên nhân chính là việc chi phí vốn trên thị trường liên ngân hàng được chủ động đẩy lên mặt bằng cao hơn so với cùng kỳ trước nhằm hạn chế cơ hội đầu cơ hưởng chênh lệch trên thị trường liên ngân hàng sử dụng VND và USD. Đây là một trong các biện pháp quan trọng của NHNN trong công cuộc điều hành tỷ giá trước các áp lực gia tăng kể từ Quý 3.

Kế hoạch phát hành trái phiếu Kho Bạc Nhà Nước năm 2019:

Chúng tôi ước tính kế hoạch phát hành năm 2019 sẽ rơi vào khoảng 225.000 tỷ đồng. Áp lực phát hành lớn hơn năm 2018 và tập trung vào đầu năm. VCBS cho rằng trong năm tới áp lực ngân sách vẫn tồn tại. Tuy nhiên, chính phủ còn dư địa từ các nguồn khác nhau để cân đối trong đó đặc biệt phải kể đến nguồn từ các thương vụ thoái vốn Nhà nước vốn khá trầm lắng trong năm 2018. Mục tiêu kỳ hạn phát hành bình quân lớn hơn 6 năm tiếp tục được duy trì. KBNN sẽ tiếp tục nỗ lực kéo dài kỳ hạn các loại trái phiếu chính phủ được phát hành theo hướng phấn đấu loại trái phiếu có kỳ hạn 5 năm trở lên chiếm 80% tổng khối lượng trái phiếu phát hành.

3

Yếu tố chính tác động lên thị trường thứ cấp trong năm tới là: thanh khoản trên thị trường ngân hàng; Chính sách của NHNN và quá trình giải ngân vốn đầu tư công. Trong đó, VCBS giả định:

(1) Không xảy ra căng thẳng thanh khoản trầm trọng trên hệ thống ngân hàng (các thời điểm chịu ảnh hưởng từ yếu tố mùa vụ sẽ không kéo dài lâu). Chính sách tăng trưởng tín dụng đi vào thực chất, hướng NHTM đẩy mạnh quá trình xử lý nợ xấu.

(2) Định hướng đưa tiêu chuẩn hệ số an toàn của các ngân hàng tiếp cận dần với chuẩn quốc tế vẫn được duy trì và có thể tạo ra áp lực nhất định lên toàn hệ thống khi nguồn lực của các NHTM có sự khác biệt đáng kể. (3) Quá trình giải ngân vốn đầu tư công có thể được đẩy mạnh trở lại trong năm sau ngay từ khoảng cuối Quý 1. Tuy vậy, chúng tôi không quá lo ngại về lượng tiền KBNN bị rút khỏi hệ thống khi nguồn tiền này sẽ sớm trở lại nền kinh tế theo nhiều hình thức khác nhau.

Với các giả định trên, thị trường trái phiếu năm 2019 được dự báo chia làm 3 giai đoạn.

- Giai đoạn 1: tháng 12 năm 2018 đến nửa đầu Quý 1: Tâm lý thận trọng, thanh khoản thị trường liên ngân hàng chịu áp lực tăng do yếu tố mùa vụ kéo theo lãi suất trái phiếu chịu áp lực tăng.

- Giai đoạn 2: từ Quý 1 đến trước tháng 6, tháng 7 thời điểm khả năng cao FED sẽ tiếp tục có điều chỉnh tăng lãi suất thị trường hoạt động tích cực và sôi động trở lại khi các lo ngại tạm thời được xua tan. Lãi suất trái phiếu giảm tuy nhiên nhịp giảm ngắn và diễn biến nhanh.

- Giai đoạn 3: Tương đối dài với trạng thái thận trọng bao trùm. Lo ngại xuất hiện nhiều hơn trước việc NHNN sẽ ban hành các thông tư, Quy định về các tỷ lệ an toàn nhằm hướng tới mục tiêu tiến sát hơn tới các chuẩn mực quốc tế đặc biệt là năm 2020 với Basel II. Đồng thời, các diễn biến từ thị tường thế giới vẫn sẽ là ẩn số đối với thị trường trong năm tới đặc biệt là khả năng đồng USD mạnh lên. Lãi suất trái phiếu chịu áp lực tăng. Thị trường trở lại trạng thái giao dịch thận trọng

Từ phía cung, nhu cầu phát hành dù lớn hơn năm 2018 nhưng sẽ không tạo áp lực lớn khi nguồn lực huy động trong các năm gần đây vẫn còn dư địa. Ở phía cầu, cầu đầu tư trái phiếu từ các công ty bảo hiểm, Quỹ đầu tư, … được dự báo tiếp tục tăng trưởng. Trong năm 2018, bên cạnh các kỳ hạn 3 - 5 năm được thị trường quan tâm, với việc kỳ hạn phát hành liên tục tăng trong các năm gần đây, giao dịch có thể chứng kiến sự chuyển dịch nhiều hơn sang các kỳ hạn dài hơn 7 năm - 10 năm. Kỳ hạn phát hành sẽ tiếp tục được duy trì ở mức trên 10 năm. Tuy nhiên giống như năm 2018, phát hành đối với các kỳ hạn 20 năm và 30 năm sẽ gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù chỉ tiêu lạm phát trung bình cho cả năm vẫn được giữ ở khoảng 4%, chúng tôi cho rằng các áp lực đặc biệt từ lạm phát kỳ vọng có thể là nhân tố tạo áp lực tăng đối với lợi suất. Cơ hội đầu tư với các trái phiếu dài sẽ thu hẹp và ít hơn khi đường lợi suất có xu hướng phẳng hơn. Các đợt biến động sẽ xuất hiện nhiều tại các kỳ hạn ngắn dựa theo diễn biến trên thị trường tiền tệ.

Khối ngoại mua ròng nhẹ 103 tỷ đồng trong năm 2018. . Các kỳ hạn được nước ngoài mua ròng cũng có những sự thay đổi đáng kể. Trong đó, sự sôi động của khối ngoại được ghi nhận rõ nét nhất vào 6 tháng đầu năm. Thậm chí, ở các thời điểm đó, khối ngoại đẩy mạnh mua ròng cả ở các kỳ hạn dài 30 năm. Tuy nhiên đối với giai đoạn cuối năm, hoạt động khối ngoại có dấu hiệu chậm lại đáng kể. Kèm theo đó, khẩu vị của các nhà đầu tư ngoại cũng có xu hướng chuyển dịch về các kỳ hạn ngắn truyền thống ưa thích của khối này. Điều này có thể được lý giải khi ở mặt bằng lợi suất như thời điểm cuối năm 2017, thì sức hấp dẫn tương đối của việc đầu tư TPCP bằng VND đã suy giảm đáng kể so với kênh đầu tư bằng đồng USD. Thêm vào đó, khi xét tới yếu tố chi phí vốn thì việc lợi suất càng giảm sâu sẽ càng làm giảm mức độ tham gia của các nhà đầu tư ngoại trên thị trường.

Năm 2019, Chúng tôi  cho rằng khối ngoại có thể giao dịch sôi động hơn trong Quý 1. Tuy nhiên, xét tới xu hướng tăng lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ trong trung hạn, khả năng cao, giao dịch của khối ngoại dù có cải thiện nhưng sẽ không quá sôi động.

1

Lãi Suất

Lãi Suất Liên Ngân Hàng

Lãi suất liên ngân hàng trong năm 2018 có nhiều điểm khác biệt so với các năm trước đây khi giai đoạn đầu năm thanh khoản hệ thống dồi dào và nhờ đó không chịu bất kỳ ảnh hưởng đáng kể nào từ yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên kể từ giữa tháng 6 trở đi, khi tỷ giá bắt đầu chịu áp lực tăng thì thanh khoản dần bớt dư thừa và lãi suất được điều chỉnh lên mức cao hơn sau động thái chủ động điều hành của NHNN khi phát hành Tín phiếu NHNN với kỳ hạn dài lên tới 140 ngày với lãi suất cao 3,75%. Cùng với đó, giảm lượng tiền Kho bạc Nhà nước gửi tại hệ thống các NHTM cũng là công cụ đắc lực hỗ trợ cho các nỗ lực điều tiết trong bối cảnh lạm phát tăng cao so với cùng kỳ vào Quý 3 kéo theo tâm lý lo ngại về sự ổn định của kinh tế vi mô. Trong khi đó, lợi suất huy động tăng 30-50 điểm ở các kỳ hạn cuối năm cũng được xem là một trong những nguyên nhân khiến hiệu ứng thanh khoản mang tính thời vụ đến sớm so với cùng kỳ. Cũng giống như các năm trước đây, biến động lãi suất trái phiếu các kỳ hạn ngắn tiếp tục có độ nhạy cao với lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

3

Lãi suất liên ngân hàng sẽ phụ thuộc vào thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong từng thời kỳ.

Chúng tôi  cho rằng từ nay cho đến Tết Nguyên đán, áp lực thời vụ sẽ là yếu tố chủ yếu chi phối thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng. Sau đó, các nhân tố ảnh hưởng lên thị trường tiền tệ 2019 bao gồm (1) Lượng tiền gửi của KBNN tại hệ thống các NHTM cũng như (2) tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; và cuối cùng (3) sự ổn định về tỷ giá cũng như dòng tiền được thu hút vào thị trường Việt Nam

Trong đó, VCBS đặt ra kịch bản giải ngân đầu tư công phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ được đẩy mạnh trở lại từ nửa sau năm 2019 khi đây là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Theo đó, lượng tiền KBNN tại các NHTM sẽ suy giảm đáng kể. Nguồn lực này về cơ bản sẽ không rời khỏi hệ thống mà thay vào đó chuyển dịch lại vào nền kinh tế nhưng với mức chi phí cao hơn

Trước xu hướng ngày càng có nhiều Ngân hàng Trung ương tiến hành chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc bớt/ ngưng các chương trình lãi suất, xu hướng tăng trung hạn của lợi suất TPCP điển hình là TPCP Mỹ là không thể đảo ngược. Trong bối cảnh đó, đối với Việt Nam, dù được đánh giá là chịu những tác động gián tiếp, thì việc các ngân hàng hay các định chế tài chính sẵn sàng có những sự chuẩn bị cho kịch bản chi phí vốn tăng lên là điều có thể được dự báo. Tất cả các yếu tố trên đều ủng hộ cho kịch bản cho năm 2019 là mức chi phí vốn trung bình sẽ cao hơn so với mặt bằng năm 2019.

Lãi Suất Huy Động và Cho Vay . Mặt bằng lãi suất huy động tăng 30- 50 điểm trong nửa cuối năm đặc biệt tại các kỳ hạn không chịu mức trần của NHNN. Trong đó, tại một số ngân hàng mức tăng lãi suất cho các kỳ hạn lên tới 100 điểm. Theo số liệu của NHNN, kết thúc tháng 11 mặt bằng lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 0,6 - 1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng. Đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng: 4,3 - 5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng: 5,3 - 6,5%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,5 - 7,3%/năm. Lãi suất huy động USD của tổ chức tín dụng không thay đổi ở 0%. Chúng tôi cho rằng các đợt điều chỉnh lãi suất huy động VND thời gian qua xuất phát từ một số nguyên nhân: (1) Đây là sự chuẩn bị của các ngân hàng với dự báo nhu cầu huy động sẽ tăng trong phần còn lại của năm đặc biệt khi xét tới yếu tố mùa vụ. (2) Cùng lúc, đây được xem là sự chuẩn bị nguồn của các tổ chức tín dụng, chú trọng vào các kỳ hạn dài với giả định lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thể ghi nhận mức cao hơn trong năm tới

Trong khi đó đối với lãi suất cho vay, lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 6,0 - 9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0 - 11%/năm đối với trung và dài hạn; lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8 - 6,0%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8 - 4,7%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,5 - 6,0%/năm. Ở thời điểm hiện tại, đợt tăng lãi suất huy động từ giữa Quý 3 chưa tạo nên áp lực quá rõ rệt đối với mặt bằng lãi suất cho vay. Theo đó, các mức tăng chỉ được ghi nhận cục bộ tại các phân khúc có mức rủi ro cao. Diễn biến này đồng nhất với định hướng và chính sách xuyên suốt của NHNN nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất hỗ trợ tăng trưởng.

3

Cho năm 2019, mặt bằng lãi suất huy động chịu một số áp lực:

 Áp lực lạm phát tăng lên so với cùng kỳ.

 Xu hướng thắt chặt tiền tệ của các Ngân hàng trung ương đặc biệt là FED và ECB.

 Các tổ chức tín dụng phải chấp nhận một mặt bằng giá lãi suất cao hơn nhằm giữ được lợi thế cạnh tranh đối với hoạt động huy động tiền gửi trên thị trường (1) trong bối cảnh chi phí vốn của ngân hàng (2) được dự báo ở mức cao hơn. Đi kèm với đó thanh khoản trên thị trường tiền tệ cũng chịu áp lực hơn do cầu cân bằng và hỗ trợ từ tỷ giá.

Như vậy, Chúng tôi cho rằng áp lực tăng lên lãi suất cho huy động hiện hữu. Tuy nhiên, với việc lãi suất huy động đã được điều chỉnh tăng trong 6 tháng cuối năm 2018, dư dịa tăng trong năm tới được đánh giá là không nhiều. Theo đó, chúng tôi dự đoán, lãi suất huy động sẽ tăng khoảng 50 điểm tập trung nhiều vào giai đoạn cuối năm 2019, tại các kỳ hạn không chịu sự khống chế của NHNN. Trong khi đó, trần huy động 5,5% đối với kỳ hạn dưới 6 tháng nhiều khả năng sẽ vẫn được giữ vững. Các dự báo trên sẽ đi kèm với một số giả định:

 Dòng tiền nước ngoài vào Việt Nam được duy trì tạo điều kiện thuận lợi cho NHNN chủ động điều tiết cung tiền và thanh khoản một cách hợp lý khi cần thiết.

 Tỷ giá và thị trường ngoại hối ổn định với mức giảm giá hợp lý của VND so với các quốc gia trong khu vực.

Đối với lãi suất cho vay, trong bối cảnh lãi suất huy động được dự báo tăng, áp lực lên lãi suất cho vay phần nào có thể được lý giải. Cũng cần lưu ý thêm, sẽ cần 3-6 tháng để các mức tăng lên lãi suất huy động được hiện thực hóa vào mặt bằng lãi suất cho vay. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng áp lực tăng sẽ không xuất hiện ồ ạt tại tất cả các phân khúc mà sẽ tập trung với kịch bản như sau: Đối với các khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, khả năng thương lượng tốt sẽ là yếu tố khiến lãi suất áp dụng cho các khách hàng này không thay đổi nhiều. Điều này trùng khớp với định hướng duy trì mặt bằng lãi suất ổn định và ít biến động nhằm hỗ trợ tăng trưởng của Chính phủ. Trong khi đó, đối với các khu vực với ngành nghề và khách hàng với rủi ro lớn hơn, có thể kể đến như bất động sản và tín dụng tiêu dùng, mức lãi suất có thể được điều chỉnh tăng. Với dự báo lãi suất đầu ra có thể tăng chậm hơn lãi suất đầu vào, mức độ ổn định của mặt bằng lãi suất sẽ cần đến nhiều vai trò định hướng và quản lý của nhà điều hành

Thị Trường Mở

Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam đã tiếp tục có một năm thành công trong việc điều tiết thị trường tiền tệ. Các động thái và quyết định được đưa ra phù hợp với yếu tố mùa vụ và điều kiện thị trường trong năm. Lãi suất thị trường mở giảm 0,25% trong Quý 1 và sau đó ổn định ở 4,75%. Động thái điều hành đáng chú ý trong năm là việc phát hành tín phiếu kỳ hạn dài 91 ngày, 140 ngày ở mức lãi suất cao (3,75% cho tín phiếu 140 ngày) vào tuần đầu tháng 8. Mặc dù chỉ 1 tuần sau đó, NHNN đã dừng phát hành đối với Tín phiếu kỳ hạn 140 ngày, các mức lãi suất đối với hoạt động bán hẳn vẫn duy trì ở mức cao cụ thể kỳ hạn 7 ngày (2,75%) và kỳ hạn 14 ngày (3%). Đây là một trong các động thái chủ động điều tiết của NHNN thông qua công cụ lãi suất nhằm giảm áp lực lên tỷ giá trong giai đoạn 6 tháng cuối năm

Cho năm 2019, trong bối cảnh tình hình thị trường thế giới diễn ra không thuận lợi đặc biệt là xu hướng đi lên trong trung hạn của trái phiếu chính phủ Mỹ, có nhiều đồn đoán cho rằng NHNN sẽ tăng lãi suất thị trường mở vào Quý 1 năm 2019. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng khả năng xảy ra kịch bản này là không cao.

11

Môi giới chứng khoán 

vcbs 

 

hotline