Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

HPG - Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát

Được đăng vào

HPG - Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát  

ĐIỂM NHẤN ĐẦU TƯ

Lũy kế 2 Quý đầu năm 2019, doanh thu mảng kinh doanh thép chiếm 79% doanh thu của Hòa Phát, thị phần đạt 27% với mảng thép xây dựng và 33% với mảng ống thép, đứng đầu thị trường. Hòa Phát đang triển khai siêu dự án Dung Quất Hòa Phát với quy mô gần 3 tỉ USD. Khi hoàn thành, Khu liên hiệp thép Dung Quất Hòa Phát sẽ có công suất 4 triệu tấn thép. Dự án được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1, công suất 2 triệu tấn thép xây dựng, được khởi công vào tháng 02/2017; giai đoạn 2, công suất 2 triệu tấn thép HRC, được khởi công vào tháng 08/2017. Hiện nay, có 2 công nghệ sản xuất thép chủ yếu trên thế giới là lò cao BOF và lò điện EAF.

Sử dụng công nghệ lò cao BOF với quy mô sản xuất lớn hơn cùng nguyên liệu đầu vào chính là Quặng sắt và than cốc sẽ giúp cho Hòa Phát có lợi thế chi phí sản xuất so với các nhà sản xuất thép khác sử dụng công nghệ EAF với nguyên liệu đầu vào là Thép phế và điện. (1) Rủi ro liên quan đến thị trường bất động sản; (2) Rủi ro biến động giá thép đầu ra và giá nguyên vật liệu đầu vào ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; (3) Rủi ro liên quan đến Dự án Dung Quất Hòa Phát bị chậm tiến độ và vận hành.

1

Lĩnh vực hoạt động và Cơ cấu cổ đông

Được thành lập từ năm 1992, tuy nhiên ngành nghề đầu tiên mà Hòa Phát tham gia là kinh doanh phụ tùng. Đến năm 1996, Hòa Phát mới bắt đầu bước chân vào sản xuất ống thép và năm 2001 là sản xuất thép xây dựng. Sau gần 20 năm liên tục phát triển, Hòa Phát đã vươn lên trở thành nhà sản xuất thép xây dựng và ống thép có thị phần số 1 Việt Nam. Đến cuối năm 2018, doanh thu và lợi nhuận từ mảng kinh doanh thép chiếm 83% và 89%. Vì thế trong khuôn khổ bài phân tích này, chúng tôi chỉ đề cập đến mảng kinh doanh thép của Doanh nghiệp.

2

Hiện nay, theo cơ cấu cổ đông của HPG, ông Trần Đình Long, chủ tịch HĐQT, cùng gia đình đang nắm giữ khoảng 32,7% lượng cổ phần; cổ đông là Cán bộ chủ chốt trong Công ty đang nắm giữ khoảng 10,2%; Các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ khoảng 38,2% trong room ngoại tối đa của HPG là 49%; các nhà đầu tư trong nước khác nắm giữ khoảng 18,8%.

3

II. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Công nghệ, quy trình sản xuất và các loại thép phổ biến Hiện tại trên thế giới, các sản phẩm thép được phân loại thành hai nhóm chính: thép dài và thép dẹt. - Thép dài: bao gồm các loại thép xây dựng như thép thanh (rebar), thép cuộn (Wire rod)... Hầu hết được sản xuất từ Phôi thép vuông (square billet) - Thép dẹt: bao gồm các loại thép như Tôn, ống thép hàn, thép để sản xuất ô tô, thép dùng để chế tạo máy…Thép loại này chủ yếu được sản xuất từ Thép cuộn cán nóng (Hot rolled coil – HRC)

3

Năm 2018, toàn thế giới tiêu thụ 1,7 tỉ tấn thép, trong đó 51% là thép dài, 49% là thép dẹt. Tỉ trọng tiêu thụ các sản phẩm thép dài và thép dẹt cũng thay đổi theo từng quốc gia. Ở các quốc gia đang phát triển, thép dài được tiêu thụ nhiều hơn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, như Việt Nam, Trung Quốc, Bangladesh… và ở các quốc gia phát triển, cơ sở hạ tầng đã gần như hoàn thiện, thép dẹt lại được tiêu thụ với tỉ lệ cao hơn để phục vụ cho hoạt động sản xuất ô tô và chế tạo. Có hai loại công nghệ sản xuất thép thô phổ biến trên thế giới:

- Công nghệ lò cao BOF (Basic oxygen furnace): Công nghệ này luyện thép bằng cách loại bỏ phần tạp chất ra khỏi quặng sắt bằng nhiệt để thu được gang lỏng và tiếp tục loại bỏ Carbon trong thành phần gang lỏng để tạo ra thép nóng chảy. Sau đó dòng thép nóng chảy này được cho chạy vào máy đúc liên tục để thu được phôi thép. Nguyên liệu chủ yếu của công nghệ luyện thép này Quặng sắt, Than mỡ luyện cốc, chất dẫn cháy, Dolomit…

- Công nghệ lò điện EAF (Electric arc furnace): Công nghệ này luyện thép bằng cách nung chảy thép tái chế bằng điện và loại bỏ tạp chất để thu được dòng thép nóng chảy. Vì thế, nguyên liệu chính của công nghệ này là Thép tái chế và Điện

5

Các nhà máy và dự án thép của Hòa Phát

Hiện nay, Hòa Phát kinh doanh hầu hết các sản phẩm thép bao gồm: thép thanh, thép cuộn, thép dự ứng lực, ống thép và tôn... 6 tháng đầu năm, Hòa Phát là doanh nghiệp có thị phần tiêu thụ nội địa thép xây dựng và ống thép lớn nhất Việt Nam, lần lượt đạt 27% và 33%. Với kết quả này, Hòa Phát tiếp tục gia tăng 2% thị phần ở cả thị trường thép xây dựng và ống thép so với năm 2018.

36

Hòa Phát hiện đang vận hành 3 khu Liên hiệp sản xuất thép xây dựng, 3 nhà máy sản xuất ống thép và 1 nhà máy tôn mạ đang chạy thử nghiệm, sắp đưa vào vận hành chính thức.

2

Kể từ khi Khu liên hiệp gang thép Hải Dương hoàn thành giai đoạn 1 vào khoảng đầu năm 2010, Hòa Phát đã liên tục tăng công suất, sản lượng tiêu thụ và giành được thêm thị phần. Trong gần 10 năm vừa qua, doanh nghiệp hầu như lúc nào cũng chạy hết công suất và tiêu thụ hết sản phẩm mình sản xuất ra.

3

Hòa Phát hiện đang triển khai siêu dự án Khu liên Hiệp Dung Quất Hòa Phát với tổng mức đầu tư gần 3 tỉ USD và được chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, bắt đầu khởi công từ 2/2017 với tổng công suất 2 triệu tấn thép xây dựng bằng công nghệ lò cao BOF. Giai đoạn 2, bắt đầu khởi công từ tháng 10/2017 với công suất 2 triệu tấn thép cuộn cán nóng (HRC) cũng với công nghệ lò cao BOF. Đến thời điểm hiện tại, giai đoạn 1 của dự án đã hoàn thành 75%; nhà máy cán thép số 1 với công suất 600.000 tấn/năm đã đi vào hoạt động vào tháng 8/2018; lò cao số 1 đã đang bước vào giai đoạn chạy thử nghiệm; nhà máy cán thép số 2 với công suất 1,2 triệu tấn/năm dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2019 này. Chúng tôi kỳ vọng, toàn bộ giai đoạn 1 dự án sẽ hoàn thành vào khoảng giữa năm 2020 và toàn bộ giai đoạn 2 sẽ hoàn thành vào nửa cuối năm 2021. Dự kiến đến cuối năm 2021, công suất sản xuất thép của Hòa Phát sẽ đạt 6,5 triệu tấn, cao gấp gần 3 lần so với thời điểm dự án Dung Quất Hòa Phát chưa được triển khai.

3

Tác động của thép Trung Quốc tới thép Việt Nam

Trung Quốc là quốc gia có sản lượng thép lớn nhất thế giới, chiếm tỉ lệ gần 50%, với tổng công suất tối đa hơn 1 tỉ tấn/năm. Hàng năm, Trung Quốc xuất khẩu hàng chục triệu tấn thép ra nước ngoài, đặc biệt là các quốc gia xung quanh. Cá biệt như năm 2015 và 2016, Trung Quốc đã xuất khẩu hơn 100 triệu tấn thép. Với lợi thế về quy mô, thép Trung Quốc đã gây sức ép cạnh tranh lớn đối với thị trường thép tại các quốc gia xung quanh, gây thiệt hại nặng nề cho các nhà sản xuất thép nội địa và Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh nhất.

11

11

Từ năm 2016, Việt Nam đã áp dụng thuế chống bán phá giá 14,2% đối với thép dài, 23,3% đối với phôi thép, giảm dần 1%-2% qua các năm và về 0% vào thời điểm tháng 03/2020. Tuy nhiên, chính sách thuế này nhiều khả năng là sẽ tiếp tục được gia hạn sau đó. Việc áp dụng thuế chống bán phá giá đã hạn chế được phần nào lượng thép Trung Quốc nhập khẩu. Nhưng do vẫn phải nhập một số loại thép đầu vào như phôi thép, thép cuộn cán nóng HRC… diễn biến giá thép Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng nhiều bởi giá thép Trung Quốc.

12

III. KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH

Doanh thu thuần Hòa Phát năm 2018 đạt 55.836 tỉ đồng, tăng 21% so với năm 2017. Đây là năm thứ 6 liên tiếp doanh thu của Hòa Phát đạt mức tăng trưởng cao. CAGR giai đoạn 2012-2018 đạt 22,1%. Biên lợi nhuận gộp đạt 20,9%, giảm 2% so với năm 2018. Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp vẫn được giữ ở quanh mức 2%-2,5%. Lợi nhuận sau thuế năm 2018 đạt 8.601 tỉ đồng, tăng 7,3% so với năm 2017, CAGR giai đoạn 2012-2018 đạt 42%. Kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2019 của HPG, doanh thu đạt 30.061 tỉ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Biên lợi nhuận gộp đạt 18,8% giảm 2,7% so với cùng kỳ 2018 do ảnh hưởng của việc giá thép đầu ra giảm cùng giá quặng sắt đầu vào tăng mạnh. Tỉ lệ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp ở mức 2,3%.

Lợi nhuận sau thuế đạt 3.836 tỉ đồng, giảm 13% so với cùng kỳ năm trước. Tổng tài sản tính đến thời điểm 30/06/2019, đạt 93.019 tỉ, tăng 19% so với thời điểm 31/12/2018, và 75% so với thời điểm 31/12/2017, nguyên nhân do Xây dựng dở dang dự án Dung Quất Hòa Phát tăng mạnh. Tỉ trọng khoản mục Tài sản cố định dở dang cộng với tài sản cố định đang chiếm tỉ trọng lớn nhất là 66% Tổng tài sản. Các khoản mục phải thu và hàng tồn kho vẫn ở mức khá ổn định.

Do doanh nghiệp phải sử dụng nợ vay tài trợ cho dự án Dung Quất – Quảng Ngãi nên, vào thời điểm 30/06/2019, nhóm các chỉ số liên quan đến nợ vay như Nợ phải trả/Tổng tài sản và Nợ vay dài hạn/Tổng tài sản đều tăng khá mạnh và đạt mức lần lượt 52,4% và 21,8%, tăng so với mức 48,1% và 16,4% so với thời điểm 31/12/2018.

13

14

IV. ĐIỂM NHẤN ĐẦU TƯ

Mức tiêu thụ thép bình quân trên đầu người của Việt Nam năm 2017 đạt mức 226 kg/người còn khá thấp so với các nước phát triển trên thế giới như 1.105 kg/người của Hàn Quốc, 549 kg/người của Trung Quốc, hay 500 kg/người của Đức. Mặc dù, Việt Nam là quốc gia đang phát triển và nhu cầu thép vẫn đang rất lớn để tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tuy nhiên, việc chưa có nhiều các tập đoàn quy mô lớn trong các ngành công nghiệp nặng như đóng tàu, sản xuất ô tô khiến mức tiêu thụ thép trên đầu người vẫn ở mức thấp

15

Rào cản ra nhập ngành lớn

Thị trường sản xuất thép có rào cản ra nhập ngành lớn do quy định ngày càng khắt khe về các tiêu chí môi trường theo quy định của Chính phủ. Cộng với việc phải đầu tư tài sản cố định ban đầu rất lớn, rất khó để các chủ thể với tiềm lực tài chính yếu có thể tham gia cuộc chơi trong khi chính các nhà sản xuất thép nhỏ cũng đang dần mất đi thị phần của mình.

Hòa Phát có lợi thế chi phí sản xuất vượt trội so với hầu hết các đối thủ trong nước do sử dụng công nghệ lò cao BOF và có lợi thế về quy mô

Thép Hòa Phát có chi phí sản xuất thấp hơn nhiều so với đa phần các nhà sản xuất thép trong nước khác và ngang bằng với một nhà sản xuất thép tầm trung của Trung Quốc. Đây là lợi thế cạnh tranh cực kỳ lớn trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa cơ bản (commodity). Nguyên nhân Hòa Phát có được lợi thế này là:

- Sản xuất bằng công nghệ lò cao BOF, với nguyên liệu đầu vào chủ yếu bao gồm quặng sắt và than cốc cho chi phí sản xuất thấp hơn nhiều so với sản xuất bằng công nghệ lò điện EAF với nguyên liệu đầu vào là thép phế và điện. Hiện tại, ở Việt Nam, để sản xuất thép xây dựng, chỉ có Hòa Phát và Gang thép Thái Nguyên (Tisco) sử dụng công nghệ lò cao. Tuy nhiên, hệ thống dây chuyền, máy móc của Tisco đã quá cũ và lạc hậu vì thế hiệu quả hoạt động của Tisco không tốt bằng Hòa Phát.

- Lợi thế quy mô lớn hơn hẳn các nhà sản xuất thép khác đã giúp Hòa Phát tiết giảm được chi phí vận chuyển nguyên vật liệu và tỉ trọng chi phí cố định trên từng đơn vị sản phẩm. Đặc biệt, khi dự án Dung Quất Hòa Phát ra đời, lợi thế này sẽ càng được phát huy mạnh mẽ.

Thực tế là, giá thép của Hòa Phát luôn thuộc nhóm rẻ nhất thị trường, tạo tiền đề giúp cho Hòa Phát chiếm thị phần dễ dàng hơn

16

Dự án Dung Quất Hòa Phát hoàn thành sẽ giúp Hòa Phát chiếm lĩnh thị trường phía Nam, nơi tiêu thụ 1/3 lượng thép xây dựng cả nước

Sản phẩm thép xây dựng của dự án Dung Quất Hòa Phát khi ra đời được định hướng tập trung tiêu thụ tại thị trường miền Nam và một phần sẽ được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia, nơi hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đang được đẩy mạnh.

Hiện tại, Hòa Phát mới chỉ tập trung tiêu thụ thép xây dựng tại thị trường miền Bắc, khi doanh thu tại thị trường miền Bắc chiếm gần 70% doanh thu thép của doanh nghiệp, chiếm thị phần 34% tại đây. Tại thị trường tiêu thụ thép xây dựng phía Nam, năm 2018, thép Hòa Phát chỉ chiếm thị phần khoảng 9%. Các nhà sản xuất thép có thị phần đứng đầu bao gồm Vina Kyoei với thị phần 24%, Pomina, Posco SS Vina, VN Steel lần lượt chiếm thị phần khoảng 20%. Mặc dù, giá thép của Hòa Phát luôn thấp hơn hầu hết các nhà sản xuất thép khác (hình 22), tuy nhiên, do khoảng cách vận chuyển từ Bắc vào Nam quá xa và tốn kém nên việc tiêu thụ thép gặp nhiều khó khăn. Theo như phản ánh của một số nhà phân phối thép phía Nam, nguồn cung thép Hòa Phát nhiều khi bị gián đoạn, họ không có hàng để tiêu thụ.

Khi nhà máy thép Dung Quất Hòa Phát ra đời, vấn đề trên sẽ giải quyết. Vị trí địa lý của nhà máy rất thuận lợi khi nằm ở ven biển miền Trung và có cảng nước sâu cho phép tàu 200.000 tấn có thể cập bến, sẽ giúp Hòa Phát dễ dàng vận chuyển thép đến các thị trường tiêu thụ ở cả miền Bắc, miền Nam và xuất khẩu. Cùng với đó, chi phí vận chuyển cũng được tiết giảm ở khâu nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào như Quặng sắt, than mỡ luyện cốc.

Hiện tại, Hòa Phát đã thực hiện các bước đi đầu tiên trong kế hoạch này như nhập phôi thép về cho nhà máy cán thép số 1 Dung Quất cán ra thành phẩm, cung cấp cho thị trường phía Nam; mua các cảng đường sông tại Đồng Nai, Cần Thơ để phục vụ cho công tác Logistics; tổ chức hội nghị, gặp mặt các nhà phân phối vật liệu xây dựng lớn tại miền Nam; thực hiện quảng cáo trên truyền hình VTV, HTV… Với những lợi thế cạnh tranh như đã nói ở trên, chúng tôi cho rằng Hòa Phát sẽ từng bước chiếm lĩnh thị phần thép tại khu vực phía Nam, đặc biệt, bằng chiến lược cạnh tranh về giá. Trong phát biểu gần đây của chủ tịch Hòa Phát, ông Trần Đình Long, cũng đã khẳng định “Sẽ tiêu thụ hết thép bằng mọi giá”.

1

2

Sản phẩm HRC mới của Hòa Phát có lợi thế cạnh tranh đặc biệt với suất đầu tư thấp và khả năng thay thế hàng nhập khẩu

Từ các năm 2017 trở về trước, Việt Nam phải nhập toàn bộ lượng thép cuộn cán nóng (HRC) phục vụ cho các nhà máy tôn, ống thép hoặc chế tạo máy móc, đa phần từ Trung Quốc, do trong nước chưa tự sản xuất được. Theo ước tính của chúng tôi, khi sản phẩm HRC của dự án Dung Quất – Hòa Phát ra đời, cộng với nguồn cung của Formosa, thì nguồn HRC tự chủ được trong nước sẽ đáp ứng được 70% nhu cầu nội địa. Trong số 2 triệu tấn của HRC của dự án Dung Quất, sẽ chỉ có 1 triệu tấn được bán ra ngoài thị trường, 1 triệu tấn còn lại sẽ được Hòa Phát tiêu thụ nội bộ để phục vụ cho các nhà máy tôn và nhà máy ống thép. HRC của Hòa Phát sẽ có lợi thế so với Formosa do suất đầu tư thấp hơn: 750 USD/ tấn của Hòa Phát so với 1700 USD/tấn của Formosa. Có được kết quả này theo ban lãnh đạo doanh nghiệp chia sẻ do Hòa Phát đầu tư dự án Dung Quất ở đúng thời điểm chu kì ngành thép thế giới bão hòa nên giá máy móc sản xuất hấp dẫn hơn.

3

Giá thành sản xuất của Hòa Phát hiện đang thấp hơn giá thành sản xuất bình quân của các doanh nghiệp Trung Quốc khoảng 12%

Theo tính toán của chúng tôi, hiện tại, giá thành sản xuất thép xây dựng của Hòa Phát tại Khu liên hiệp Hải Dương khoảng 10,824 triệu VND/tấn thép và của Khu liên hiệp Dung Quất, với đơn giá nguyên liệu đầu vào hiện tại, khi chạy hết công suất sẽ là 10,545 triệu VND/tấn thép. Trong khi đó, giá thành sản xuất thép xây dựng bình quân của thép Trung Quốc 8 tháng gần đây khoảng 12,138 triệu VND/tấn thép. Như vậy, giá thành thép xây dựng hiện tại của Hòa Phát đang thấp hơn giá thành thép Trung Quốc khoảng 12% và khi dự án Dung Quất chạy hết công suất thì giá thành còn có thể hạ xuống mức thấp hơn của Trung Quốc là 15%. Tương tự, giá thành sản xuất HRC của dự án Dung Quất khi chạy hết công suất sẽ ở mức 10,745 triệu đồng/tấn trong khi giá thành sản xuất HRC của Trung Quốc trung bình trong 8 tháng gần đây khoảng 12,310 triệu đồng/tấn. Như vậy, nhiều khả năng HRC của Dung Quất sẽ đủ sức cạnh tranh với HRC nhập khẩu từ Trung Quốc.

4

Theo chúng tôi, yếu tố khiến giá thành sản xuất của Hòa Phát thấp hơn bình quân của thép Trung Quốc là do:

- Số bình quân của thép Trung Quốc đã đã bao gồm cả các nhà máy nhỏ với công suất thấp và các nhà máy sử dụng công nghệ lò điện EAF với chi phí sản xuất cao hơn.

- Hiệu suất sử dụng nhà máy của Hòa Phát đang ở mức 100% công suất, trong khi bình quân của Trung Quốc chỉ khoảng hơn 70%.

Tuy nhiên, một yếu tố khác cần lưu ý là tỉ giá đồng CNY so với VND đang có xu hướng giảm. Yếu tố này sẽ làm thu hẹp khoảng cách chênh lệnh giá thành của thép Trung Quốc và thép Hòa Phát

V. RỦI RO ĐẦU TƯ

Trong 6 tháng đầu năm 2019, sản lượng tiêu thụ nội địa thép xây dựng đạt 4,61 triệu tấn, tăng trưởng 7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Về thị trường thép ống, trong 6 tháng đầu năm 2019, thị trường Việt Nam đã tiêu thụ khoảng 1,06 triệu tấn, chỉ tăng trưởng 1,4% so với cùng kỳ năm 2018. Tốc độ tăng trưởng chậm lại ở cả 2 mảng thép xây dựng và thép ống phần nhiều đến từ sự chậm lại của thị trường bất động sản.

2

Sự biến động mạnh của giá nguyên liệu đầu vào

Trong thời gian gần đây, giá các nguyên liệu đầu vào sản xuất thép biến động rất mạnh, đặc biệt là giá Quặng sắt. Có lúc, giá quặng 62%Fe đã tăng lên đến 120 USD/tấn, tăng 66% so với thời điểm đầu năm.

Nguyên nhân là do: 1) ảnh hưởng bởi vụ vỡ đập ở Brazil của nhà sản xuất quặng lớn nhất thế giới Vale; 2) trận lốc xoáy ở Veronica, Australia làm ảnh hưởng đến các nhà sản xuất quặng của quốc gia này; 3) Nhu cầu quặng sắt tăng đến từ các nhà máy sản xuất thép Trung Quốc. Đến thời điểm tháng 8/2019, giá quặng sắt đã giảm về mức 90 USD/tấn sau khi hoạt động khai thác quặng ở Brazil và Australia đã khôi phục được một phần. Tuy nhiên, dự báo giá quặng sắt vẫn sẽ ở mức cao 90-95 USD trong thời gian tới do hoạt động khai thác quặng ở Brazil chưa thể khôi phục hoàn toàn trong ngắn hạn. Hòa Phát đã tự chủ được một phần nguồn quặng sắt đầu vào trong nước thông qua công ty con, công ty CP khoáng sản An Thông.

Tuy nhiên, nguồn cung này mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu hiện tại, phần còn lại, Hòa Phát cũng phải nhập khẩu liên tục hàng tháng từ các nhà cung cấp lớn trên thế giới ở Brazil, Úc, Nam Phi… Hòa Phát thực hiện mua quặng một phần theo hình thức hợp đồng tương lai ở các thời điểm trước đó, một phần theo hình thức mua bán giao ngay, vì thế các ảnh hưởng lớn nhất từ việc giá quặng tăng giai đoạn vừa rồi đến kết quả kinh doanh nhiều khả năng sẽ đến vào các quý tiếp theo trong năm 2019. Một nguyên liệu khác cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí sản xuất thép là than mỡ luyện cốc. Trong các diễn biến gần đây thì giá than mỡ luyện cốc lại đang có chiều hướng giảm. Loại nguyên liệu này Hòa Phát cũng phải nhập khẩu từ các nhà cung cấp lớn ở nước ngoài.

3

Dự án Dung Quất Hòa Phát là một siêu dự án với tổng quy mô lên đến gần 3 tỉ USD. Khối lượng công việc dự án rất lớn. Ngay như chính Chủ tịch Trần Đình Long đã chia sẻ, “Có rất nhiều công việc chúng tôi chưa bao giờ làm như Cảng biển, Hệ thống giao thông trong dự án”. Hiện tại, dự án cũng đã bị chậm tiến độ so với kế hoạch ban đầu (hoàn thành giai đoạn 1 vào tháng 02/2019 và giai đoạn 2 vào tháng 10/2019). Ngoài ra dự án cũng bị tăng vốn so với kế hoạch ban đầu do Hòa Phát muốn đầu tư nhiều hơn cho hệ thống môi trường, hệ thống cảng biển của dự án

Việc dự án Dung Quất Hòa Phát chậm tiến độ sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp rất nhiều do Hòa Phát vẫn phải trả nợ gốc và lãi vay trong khi dòng tiền thu về từ hoạt động kinh doanh bị chậm trễ. Ngoài ra, khi thời gian chậm trễ kéo dài thì chi phí lãi vay sẽ được hạch toán vốn hóa vào khoản mục tài sản cố định và làm tăng chi phí khấu hao khi tài sản cố định được hoàn thiện.

Một rủi ro khác nữa là mặc dù đội ngũ ban lãnh đạo của Hòa Phát đã có kinh nghiệm lâu năm trong việc vận hành Khu liên hiệp Gang thép Hải Dương, tuy nhiên, dự án Dung Quất Hòa Phát với công suất 4 triệu tấn thép/năm sẽ có sự khác biệt lớn. Cùng với đó, theo ước tính của chúng tôi, khu Liên Hiệp gang thép Dung Quất Hòa Phát sẽ phải tuyển mới gần 10.000 công nhân viên. Để toàn bộ 10.000 công nhân viên này thành thạo trong công việc và phối hợp nhịp nhàng với nhau cũng là một thách thức không nhỏ đối với đội ngũ lãnh đạo của Hòa Phát.

VI. QUAN ĐIỂM ĐẦU TƯ VÀ ĐỊNH GIÁ

Chúng tôi ước tính doanh thu năm 2019 của Hòa Phát đạt 64.825 tỉ, tăng trưởng 16,1% so với năm 2018, lợi nhuận sau thuế ước tính khoảng 7.344 tỉ, giảm 16,4% so với năm 2018. So với Kế hoạch 2019 được Đại hội đồng cổ đông thông qua thì kết quả cho doanh thu đạt 92,6%, lợi nhuận sau thuế đạt 107%. Cụ thể như sau:

3

Các giả định của chính của chúng tôi cho dự phóng trên bao gồm:

3

Tuy nhiên, kết quả kinh doanh của Hòa Phát biến động rất mạnh dựa theo sự biến động của các giả định trên của chúng tôi, mà hầu hết các giả định này, Hòa Phát không thể tự kiểm soát được. Dưới đây là bảng phân tích độ nhạy của Lợi nhuận sau thuế năm 2020 dưới tác động của sự thay đổi giá thép đầu ra và giá quặng sắt đầu vào, của giá thép đầu ra và giá than mỡ đầu vào.

Độ nhạy Lợi nhuận sau thuế 2019 của Hòa PháT

3

10

Thực tế, sau khi dự án Dung Quất Hòa Phát hoàn thành sẽ đưa trở thành Hòa Phát trở thành một trong những nhà sản xuất thép lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, trong giai đoạn Hòa Phát đang trong thời kì xây dựng cơ bản lớn, sẽ còn khá nhiều rủi ro tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời cả giá cổ phiếu. Khi đầu tư cổ phiếu Hòa Phát, chúng tôi khuyến nghị Nhà đầu tư nên thận trọng và nên có Biên an toàn đủ lớn để tránh có thể bị thua lỗ trong ngắn hạn.

Chúng tôi định giá cổ phiếu Hòa Phát theo phương pháp P/E và Chiết khấu dòng tiền:

- Theo phương pháp P/E, chúng tôi định giá Hòa Phát ở mức P/E forward 2019 là 8.5 lần, tương ứng với mức cổ phiếu 22.600 VND/cổ phiếu. Mức giá này phản ánh triển vọng ngắn hạn tương đối khó khăn của doanh nghiệp.

- Về dài hạn, chúng tôi vẫn đánh giá tích cực đối với Hòa Phát và sử dụng phương pháp Chiết khấu dòng tiền DCF. Với phương pháp này, chúng tôi định giá Hòa Phát ở mức giá 37.071 VND/cổ phiếu. Cụ thể như sau:

2

Tổng hợp 2 Phương pháp định giá, mức giá mục tiêu của Hòa Phát được xác định ở mức giá 29.835 VND/Cổ phiếu. Như vậy chúng tôi đưa ra khuyến nghị MUA đối với HPG tại vùng giá hiện tại (ngày 14/8/2019) với mức Lợi nhuận kỳ vọng xấp xỉ 27%.

KB

hotline