Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

VIB - Cơ hội lớn – Đi kèm rủi ro cao

Được đăng vào

VIB - Cơ hội lớn – Đi kèm rủi ro cao

ĐIỂM NHẤN ĐẦU TƯ

VIB là một ngân hàng TMCP thuần về bán lẻ với thị phần số 1 về cho vay mua ô tô và thuộc top đầu về cho vay mua nhà …. Với dự phóng tiềm năng tăng trưởng ngành bán lẻ nói chung 10%/năm và tiêu thụ ô tô nói riêng 20%/năm trong 5 năm tới, cơ hội tăng trưởng cho VIB là rất lớn nếu ngân hàng tận dụng được các thế mạnh của mình.

Với tỷ lệ an toàn vốn cao, VIB đưa ra kế hoạch tăng trưởng tín dụng 35% cho năm 2019, cao nhất hệ thống. Nhờ chi phí vốn tương đối thấp, VIB có thể duy trì tăng trưởng tín dụng cao trong 2 – 3 năm tới, qua đó đẩy mạnh thu nhập lãi. Ngoài ra, thu nhập ngoài lãi cũng còn dư địa lớn với doanh thu các dịch vụ thanh toán dự phóng tăng trưởng 20 – 30%/năm và phí bancassurance dự phòng tăng 300% năm 2019 và bình quân 20% các năm tiếp theo trên kịch bản thận trọng.

Rủi ro lớn nhất hiện tại của VIB nằm ở cơ cấu huy động với sự phụ thuộc khá lớn vào nguồn liên ngân hàng và các nguồn tiền gửi kỳ hạn ngắn (dưới 1 tháng), từ đó khiến ngân hàng có thể đối mặt rủi ro thanh khoản và rủi ro tăng lãi suất cao hơn TB ngành, đặc biệt trong điều kiện kinh tế vĩ mô chuyển biến tiêu cực. Ngoài ra, với tỷ lệ LLR khá thấp (dưới 50%) và tập trung lớn vào cho vay bán lẻ, áp lực nợ xấu và chi phí dự phòng sẽ tăng lên nhanh nếu lãi suất biến động bất lợi.

Với quan điểm kinh tế vĩ mô Việt Nam có thể duy trì ổn định ít nhất đến cuối năm 2019 và những luận điểm nêu trên, chúng tôi khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu VIB, giá mục tiêu từ 22,000 – 23,000 VND/cp. Tuy nhiên NĐT nên duy trì tỷ trọng nhóm cổ phiếu ngân hàng ở mức vừa phải tại thời điểm hiện tại nhằm hạn chế rủi ro từ những biến động mạnh của nền kinh tế.

1

Quy mô hoạt động . Tính đến hết năm 2018, VIB có tổng cộng 163 chi nhánh và PGD, chỉ sở hữu 1 công ty con là VIB AMC có vốn điều lệ 100 tỷ VND, với nhiệm vụ quản lý nợ và khai thác tài sản. Số lượng nhân viên tính đến cuối Q1/2019 là 5,788 người

Cơ cấu sở hữu .  Cổ đông chiến lược là Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia đang nắm 20% cổ phần VIB, trong khi các cổ đông nước ngoài khác mới chỉ nắm khoảng 0.5% cổ phần. BLĐ và người liên quan nắm giữ khoảng trên 40% vốn điều lệ ngân hàng.

2

CHIẾN LƯỢC KINH DOANH . Hoạt động tín dụng

VIB hiện là ngân hàng thuần bán lẻ, vởi tỷ trọng cho vay cá nhân và hộ gia đình cao nhất hệ thống. VIB hiện tại là một ngân hàng thuần bán lẻ, với trọng tâm kinh doanh hướng đến 4 phân khúc là cho vay mua nhà, xe ô tô, bán bảo hiểm qua kênh ngân hàng và tương lai gần là thẻ tín dụng. Sau khi bán lại mảng bán buôn và thực hiện sáp nhập với chi nhánh của ngân hàng CBA tại Tp HCM (hoạt động chủ đạo là bán lẻ) vào năm 2017, quy mô và tỷ trọng cho vay bán lẻ tại VIB liên tục tăng mạnh. Cuối Q2/2019, tỷ trọng cho vay hộ gia đình tại VIB chiếm 75.5% tổng cho vay KH, cao nhất toàn hệ thống và vượt xa các ngân hàng khác, quy mô cho vay đạt 86,465 tỷ VND. Cụ thể: cho vay mua nhà chiếm khoảng 36.7%, cho vay mua ô tô chiếm 31.5%, cho vay thẻ tín dụng khoảng 2.62%, còn lại là cho vay các hộ kinh doanh nhỏ lẻ không yêu cầu mục đích.

Cho vay mua nhà và xe ô tô là trọng tâm và động lực tăng trưởng chính. Tại phân khúc cho vay mua ô tô, hầu hết là mua mới và chuyển nhượng xe, với phân khúc trung đến cao cấp là trọng tâm. Tỷ lệ LTV (loan-to-value) đối với mảng kinh doanh này từ 50 – 70% và NPL khoảng 0.9%. Đối với phân khúc cho vay mua nhà, VIB chỉ liên kết với các sàn giao dịch để cho vay trực tiếp người mua cuối, không liên kết hay thực hiện bảo lãnh cho các chủ đầu tư dự án. Chúng tôi cho rằng mô hình cho vay này ít rủi ro hơn việc bảo lãnh từ đầu cho chủ đầu BĐT tư như một số ngân hàng khác là TCB, VPB, HDB, ... do VIB sẽ không bị phụ thuộc năng lực và tình hình tài chính của chủ đầu tư, không phải dự phòng vốn cho dự án. Hiện VIB đang liên kết với khoảng 500 đối tác chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn; LTV tối đa của mảng kinh doanh này là 70% và NPL mảng này < 1%.

Phân khúc KH doanh nghiệp sẽ được duy trì ổn định, hướng đến các phân khúc kinh doanh ít rủi ro. Ngoài ra, trong 20.1% cho vay KH doanh nghiệp, khoảng 22% là cho vay nhóm SMEs, còn lại là KHDN lớn, kỳ hạn được phân bổ đều từ ngắn đến trung hạn, tập trung vào các ngành nghề về thương mại, chế biến, chế tạo. Tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp đầu tư BĐS, xây dựng gần như không đáng kể. VIB không có chiến lược đẩy mạnh mảng ngân hàng bán buôn, nhưng vẫn sẽ duy trì một tỷ trọng ổn định trên cả huy động và cho vay hướng đến phân khúc ít rủi ro.

3

Hoạt động ngoài lãi

Phí dịch vụ thanh toán và bảo hiểm là hai trọng tâm chính trong hoạt động ngoài lãi của VIB. Bên cạnh việc ghi nhận các khoản lãi từ thu hồi nợ xấu hàng năm, đóng góp chính trong hoạt động ngoài lãi là nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, trong đó nổi bật nhất là hoạt động thanh toán và bảo hiểm:

- Thanh toán: Lãi từ hoạt động thanh toán đang tăng trưởng mạnh trong các năm gần đây (tăng hơn 50% trong năm 2018 và 6T2019), phù hợp xu hướng tăng thu nhập phí của toàn ngành nói chung cũng như định hướng ngân hàng bán lẻ của VIB nói riêng. Nhờ tận dụng được kinh nghiệm và công nghệ lõi từ cổ đông chiến lược là ngân hàng Commonwealth của Úc, chúng tôi cho rằng VIB là một trong những ngân hàng năng động hàng đầu hệ thống trong việc phát triển các sản phẩm thẻ, hệ thống giao dịch thuận tiện, phù hợp với KH cá nhân. Hiện VIB cũng tập trung mạnh vào nhóm đối tượng chính từ trung đến cao cấp, nhóm KH sẽ dẫn dắt thay đổi xu hướng tiêu dùng tương lai, từ đó đưa ra các gói sản phẩm phù hợp.

- Bảo hiểm: VIB là đối tác bán chéo bảo hiểm chính của Prudential, công ty thuộc top 3 về doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khai thác mới và top 3 về thị phần bán chéo bảo hiểm qua kênh ngân hàng năm 2018. Sau hợp đồng độc quyền 15 năm ký mới với Prudential năm 2018 cùng các điều khoản phí upfront và hoa hồng tốt hơn, doanh số bán bảo hiểm của VIB đã tăng hơn 4 lần trong năm này và dự phóng sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao trong các năm tới nhờ tiềm năng tăng trưởng của mô hình bán chéo bảo hiểm qua ngân hàng (banccasurance) tại Việt Nam còn rất lớn.

Mảng thẻ sẽ là một trụ cột quan trọng trong chiến lược bán lẻ. Hiện VIB đang dẫn đầu thị trường về chỉ tiêu giá trị giao dịch qua thẻ/KH/tháng, đạt TB khoảng 400 – 500 USD và đã tăng khoảng 2 lần so với cùng kỳ năm trước; Số lượng KH cá nhân (cả active và non-active) đạt khoảng 2 triệu KH. Chiến lược của VIB trong thời gian sắp tới là tập trung đẩy mạnh mảng thẻ thanh toán, bên cạnh thúc đẩy bán chéo dịch vụ nhằm tăng số lượng sản phẩm bình quân/khách hàng, từ đó tăng nguồn thu từ phí. Ngoài ra, trong tương lai gần, các hoạt động giao dịch của khối nguồn vốn sẽ chưa được đẩy mạnh do mảng bán buôn không phải trọng tâm, trong khi các hoạt động kiểm soát rủi ro thanh khoản và lãi suất sẽ được ưu tiên hơn.

1

ĐIỂM NHẤN ĐẦU TƯ

VIB là ngân hàng số 1 về cho vay mua ô tô; Tiêu thụ ô tô của Việt Nam còn tiềm năng tăng trưởng lớn​​​​​​​. VIB là ngân hàng số 1 về cho vay mua ô tô: Theo số liệu của Hiệp hội Các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), thị phần giải ngân cho vay mua ô tô của VIB cuối năm 2018 là khoảng 25%, dẫn đầu toàn hệ thống, và nếu tính đến cuối Q2/2019 thì con số này đã cải thiện hơn nữa. Trong thị trường cạnh tranh chủ yếu dựa trên lãi suất cho vay, chúng tôi cho rằng VIB vẫn đạt được vị thế nói trên nhờ 3 lợi thế chính: 1) Lợi thế quy mô, khi sở hữu quan hệ với trên 1,000 đối tác là showroom và đại lý của hầu hết các hãng xe trên cả nước, nhờ chiến lược rõ ràng và chủ động đi trước các đối thủ khác từ ban đầu; 2) Khả năng giải ngân đáp ứng nhu cầu đối tác và khách hàng nhờ cơ sở vốn tốt và danh mục cho vay tương đối tập trung; 3) Tốc độ giải ngân nhanh chóng nhờ quy trình được chuẩn hóa, TB từ 1 – 3 ngày so với khoảng 5 ngày của nhiều ngân hàng khác

Ước tính quy mô thị trường ô tô Việt Nam: Số năm để GDP bình quân đầu người của Việt Nam bắt kịp với mức hiện tại của Indonesia là 6 năm (2024), khi đó số lượng ô tô sở hữu mỗi 1,000 dân của Việt Nam sẽ bằng Indonesia hiện tại (khoảng 89 xe). Giả định quy mô dân số tiếp tục tăng trưởng với tốc độ TB 1.1%/năm trong 6 năm tới, như vậy bình quân mỗi năm, số lượng ô tô sở hữu mỗi 1,000 dân tăng 20%. Doanh số hàng năm mỗi 1,000 dân và tổng xe tiêu thụ hàng năm được dự phóng như biểu đồ 8.

Khi đó, giả sử giá bán xe là giá TB/xe của Thaco năm 2018 (khoảng 600 triệu VND) và mức giá này ổn định trong các năm tới thì quy mô thị trường ô tô Việt Nam có thể đạt hơn 450,000 tỷ VND đến năm 2024, so với mức trên 160,000 tỷ VND năm 2018 (ước tính của chúng tôi). Tăng trưởng doanh thu tiêu thụ ô tô có thể đạt TB 20%/năm, từ đó có thể thấy tiềm năng tăng trưởng tín dụng cho vay mua ô tô còn rất lớn, kể cả khi cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết liệt.

Tín dụng tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng ổn định. Tín dụng mua nhà có thể tăng chậm lại trong ngắn hạn do những chính sách kiểm soát từ NHNN đối với cho vay BĐS, tuy nhiên bù lại tín dụng mua ô tô và tiêu dùng qua thẻ tín dụng vẫn còn dư địa rất lớn trong xu thế tăng trưởng ngành bán lẻ được dự phóng đạt TB 10%/năm tại Việt Nam. Riêng 6T đầu năm, cho vay mua nhà và xe ô tô của VIB đã tăng trưởng lần lượt 19% và 23%. Có thể kỳ vọng tín dụng bán lẻ của VIB tiếp tục tăng trưởng ổn định trong trường hợp kinh tế vĩ mô nói chung không gặp “sự cố” quá lớn.

5

3

Được các tổ chức quốc tế đánh giá cao nhờ mô hình kinh doanh tập trung, chú trọng vào hoạt động bán lẻ. VIB đang đi theo đúng mô hình phát triển của NHTM tại các thị trường phát triển trên thế giới khi đặt trọng tâm kinh doanh vào tín dụng bán lẻ, hỗ trợ khả năng chi tiêu của người dân, tạo sức cầu cho nền kinh tế. Ngoài ra với sự tập trung trong hoạt động kinh doanh và sở hữu mô hình quản trị rủi ro tốt nhờ sự trợ giúp của Commonwealth Bank of Australia, VIB luôn nhận được đánh giá khá cao từ các tổ chức quốc tế gồm IFC, ADB cũng như từ NHNN. Đây là tiền đề quan trọng giúp VIB đạt được tăng trưởng tín dụng bền vững hơn so với toàn ngành trong điều kiện tín dụng chung đang bị kiểm soát chặt chẽ.

Tiềm năng tăng trưởng LNST cao hơn TB ngành, đạt trên 20% trong 2 – 3 năm ở điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định, …Với việc là 1 trong 2 ngân hàng đầu tiên đáp ứng được tiêu chuẩn Basel II và có hệ thống xếp hạng tín nhiệm sớm theo chuẩn của các tổ chức quốc tế, room tăng trưởng tín dụng 2019 có thể vượt mức 35% theo kế hoạch ngân hàng đưa ra, cao nhất hệ thống. Nửa đầu 2019, tăng trưởng tín dụng của VIB đã đạt gần 18% với cho vay KH tăng 19.1%, trong đó, tăng trưởng được đặc biệt đẩy mạnh trong Q2 với cho vay KH tăng 12.3% QoQ so với chỉ 6% trong Q1. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định và không chịu tác động mạnh từ suy giảm kinh tế toàn cầu, chúng tôi cho rằng VIB có thể duy trì mức tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận ít nhất 20%/năm trong 2 – 3 năm tới mà vẫn đảm bảo cơ sở vốn hợp lý nhờ 3 yếu tố: 1) Dư địa tăng trưởng cao xét trên cả thu nhập lãi (NII) và thu nhập ngoài lãi (Non-NII); 2) Khả năng sinh lời trên tài sản (ROAA) liên tục cải thiện hỗ trợ tăng ROE, từ đó giúp cải thiện cơ sở vốn hàng năm mà chưa cần dùng đến nguồn phát hành mới.

3

… tuy nhiên, sẽ đi kèm với rủi ro cũng cao hơn mức trung bình ngành trong trường hợp kinh tế gặp khó khăn. Để đạt được mức tăng trưởng kỳ vọng cao nói trên, VIB có thể phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn. Trong đó, chúng tôi cho rằng 2 rủi ro lớn nhất VIB phải đối mặt trong trường hợp kinh tế suy giảm là: 1) Khả năng thanh khoản, do phụ thuộc khá lớn vào nguồn huy động liên ngân hàng, huy động thị trường 1 các kỳ hạn ngắn, trong khi cơ cấu cho vay ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn trung và dài (chiếm trên 80% cho vay KH); 2) Độ nhạy cảm với biến động lãi suất: Với chênh lệch kỳ hạn định lại lãi suất (Net interest rate duration gap) dương khá cao và sự phụ thuộc vào nguồn huy động ngắn hạn, môi trường lãi suất tăng sẽ tác động mạnh đến NIM và khả năng sinh lời của VIB, cũng như có thể gây suy giảm chất lượng tài sản làm tăng chi phí trích lập dự phòng (tỷ lệ LLR của VIB hiện khá thấp so với 1 số ngân hàng khác). 

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng rủi ro về cơ cấu huy động đã được giảm thiểu đáng kể so với cuối 2016, khi tỷ trọng huy động liên ngân hàng trên tổng huy động giảm từ 35.2% xuống 22.2% (32,800 tỷ VND), trong đó hơn 10,000 tỷ VND (khoảng 1/3) là nguồn ổn định từ IFC và ADB, 2 kỳ hạn là 3 – 6 tháng và 3 – 5 năm, với chi phí bình quân 2 – 4.5%/năm. Nếu gộp 2 khoản này chung với nguồn thị trường 1 thì cơ cấu vốn thị trường 1/thị trường 2 của VIB là khoảng 4.8x, tương đương VPB, TCB và tốt hơn TPB, HDB, thậm chí cả MBB. Chúng tôi đánh giá đây là cơ cấu vốn phù hợp và khá bền vững đối một NHTMCP tư nhân có quy mô trung bình. Ngoài ra, chúng tôi cho rằng nếu VIB thành công trong việc phát hành vốn cấp 1 cho đối tác chiến lược giúp cải thiện cơ sở vốn, 2 rủi ro đã nêu trên cũng sẽ được tiết giảm đáng kể.

2

3

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH . Chất lượng tài sản

Mặc dù NPL cao trong hệ thống nhưng rủi ro về chất lượng tài sản không lớn​​​​​​​. Nếu không tính VPB với mô hình kinh doanh rủi ro cao thì NPL của VIB cuối Q2/2019 đang thuộc nhóm cao trong số các ngân hàng niêm yết, đạt 2.18%. Sở dĩ mức NPL của VIB khá cao do còn tồn một số khoản nợ quá hạn từ giai đoạn 2011 – 2012, khoảng 1,500 tỷ (trên tổng 2,500 tỷ nợ xấu cuối Q2/2019). Nếu loại bỏ khoản mục này thì NPL của VIB khoảng 0.9% là một trong những mức tốt nhất hệ thống (cũng như trong nhóm NH bán lẻ). Khi so sánh tương quan về tỷ lệ tổng TS có vấn đề/Tổng cho vay KH, VIB cũng ở mức khá an toàn trong hệ thống. Ngoài ra, tỷ lệ lãi, phí phải thu được duy trì ở mức thấp (1.42%) và số ngày phải thu khoảng 40 – 50 ngày là mức hợp lý và an toàn.

Các chỉ số nêu trên của VIB đều cải thiện tích cực trong Q2/2019 so với Q1, tuy nhiên chúng tôi cho rằng đây chỉ là do yếu tố thời điểm khi một lượng lớn các khoản cho vay mới được thực hiện trong quý. Đến cuối năm và các năm tiếp theo, nhiều khả năng các chỉsố này trở lại mức bình thường như quá khứ, thậm chí sẽ gặp phải rủi ro gia tăng trong môi trường lãi suất đang tăng. Quy mô tài sản đảm bảo của VIB gấp gần 3 lần quy mô tín dụng, nếu xét riêng TSĐB là BĐS thì cũng bằng 1.5 lần quy mô tín dụng. Đây đều là mức cao khi so với nhiều ngân hàng khác, đặc biệt trong nhóm NHTMCP tư nhân.

1

11

An toàn vốn & Khả năng thanh khoản

CAR theo Basel II hiện tại của VIB là 9.3%. VIB không gặp áp lực lớn về nhu cầu vốn nhằm đáp ứng yêu cầu của Basel II và CAR nhờ quy mô tín dụng và khả năng sinh lời đang được duy trì tốt, bên cạnh dư địa tăng vốn cấp 1 còn khá lớn từ phát hành mới cho NĐT chiến lược.

Tuy nhiên, áp lực sắp tới sẽ đến từ nhu cầu gia tăng huy động để hỗ trợ khả năng tăng trưởng tín dụng, khi LDR đến hết Q2/2019 đã lên 78.9%, gần mức trần quy định là 80%. Ngoài ra áp lực tăng kỳ hạn huy động bình quân cũng tạo áp lực tăng huy động từ kênh giấy tờ có giá, nhiều khả năng sẽ khiến chi phí vốn bình quân gia tăng.

12

Khả năng sinh lời

NIM của VIB bứt phá từ năm 2017 nhờ tận dụng tốt nguồn huy động giá rẻ và “bắt” đúng xu hướng bán lẻ dẫn dắt bởi tăng trưởng tiêu dùng ở Việt Nam, giúp lợi suất TB cho vay tăng cao. Sau 2 năm tăng khá mạnh thì NIM có thể sẽ tăng chậm hơn trong năm 2019 do 2 nguyên nhân chính: 1) Tín dụng bán lẻ sẽ bị kiểm soát chặt hơn, mặc dù được giao hạn mức tăng trưởng tín dụng khá cao trong năm 2019, nhưng LDR cao sẽ khiến mục tiêu của VIB có thể gặp đôi chút khó khăn; 2) Áp lực từ lãi suất huy động tăng đến từ cả 3 kênh: tiền gửi khách hàng, giấy tờ có giá và liên ngân hàng. Tuy nhiên với khả năng đẩy mạnh tín dụng bán lẻ của mình, chúng tôi cho rằng NIM của VIB vẫn còn dư địa cải thiện trong năm nay.

12

14

Chỉ số đánh giá khả năng sinh lời sẽ trở về mức bình thường trong năm 2019. ROE và ROA tăng mạnh trong 2 năm qua, đặc biệt năm 2018, nhờ thu nhập lãi tăng trưởng cao và thu nhập đột biến từ hoạt động ngoài lãi năm 2018. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định, chúng tôi cho rằng ROE sẽ tiếp tục cải thiện mạnh trong năm 2019 lên trên 25%, nhờ tăng trưởng lợi nhuận mạnh.

2

DỰ PHÓNG KQKD 2019 & ĐỊNH GIÁ

Dự phóng KQKD 2019 Trong kịch bản cơ sở là kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, VIB có khả năng đạt tăng trưởng tín dụng 35% như chỉ tiêu cho phép của NHNN. Trong đó, cho vay cá nhân và hộ gia đình tiếp tục là động lực chính với tỷ trọng đóng góp trên 70% dư nợ và tăng trưởng tương đương tăng trưởng tín dụng (Cho vay mua nhà và ô tô được dự phóng tăng từ 35 – 40%

NIM tiếp tục cải thiện nhưng khó tăng mạnh như 6T đầu năm. Chúng tôi dự phóng NIM 2019 đạt 3.87%, chỉ tăng 1bps so với 1H2019, mặc dù 6T đầu năm NIM đã tăng đến 9bps. Nguyên nhân do áp lực lên chi phí huy động sẽ lớn hơn, đến từ cả kênh thị trường 1, liên ngân hàng và giấy tờ có giá.

 Do không còn khoản lãi đột biến từ phí upfront bảo hiểm như năm 2018, trên 90% nguồn thu ngoài lãi 2019 sẽ đến từ hoạt động dịch vụ, trong đó: - Doanh thu phí dịch vụ thanh toán tăng trưởng 30% cả năm 2019. Đây là mức giả định thận trọng trong điều kiện 6T2019 doanh thu phí thanh toán đã tăng trên 50% cùng kỳ năm trước và cơ sở khách hàng cá nhân của VIB đang tăng mạnh nhờ hệ thống thanh toán và các chính sách cho khách hàng khá cạnh tranh.

Tương tự các nguồn thu phí khác cũng dự phóng tăng 20% cả năm (6T đầu năm tăng 38.5% yoy). - Sau khi ký kết mới hợp đồng bảo hiểm độc quyền với Prudential cuối năm 2018, doanh thu phí từ phân phối bảo hiểm tăng đột biến, đạt trên 200% năm 2018 và 430% yoy trong 6T đầu 2019. Tuy nhiên cho cả năm 2019, mức tăng trưởng dự phóng sẽ lùi về khoảng 300% yoy do mức nền cao hơn ở nửa cuối năm 2018. Dù mô hình kinh doanh bancassurance tồn tại nhiều rủi ro về tính bền vững trong dài hạn, chúng tôi cho rằng trong 1 – 2 năm tới, ngân hàng vẫn sẽ hưởng lợi khi công ty bảo hiểm đẩy mạnh sales thông qua chiết khấu và hoa hồng nhằm chiếm thị phần trong 1 thị trường đang tăng trưởng mạnh.

OPEX tăng mạnh nhưng CIR tiếp tục cải thiện nhờ hiệu quả kinh doanh tối.Áp lực lớn nhất lên chi phí vận hành sẽ đến từ chi phí nhân sự, khi VIB đẩy mạnh đội ngũ bán hàng nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bán lẻ cũng như hoạt động bán chéo. Số lượng nhân viên đã tăng 19% trong 6T đầu 2019 và dự phóng sẽ tăng 25% cho cả năm. Chúng tôi chưa đưa dự phóng về việc mở mới chi nhánh, PGD do chưa có kế hoạch cụ thể từ phía ngân hàng.

Chi phí dự phòng nhiều khả năng vẫn được kiểm soát tốt trong năm 2019, nhưng áp lực có thể sẽ tăng mạnh trong các năm tiếp theo.Chi phí tín dụng hiện tại của VIB khá thấp (0.62%) so với TB ngành. Chúng tôi cho rằng VIB có thể duy trì mức chi phí tín dụng thấp này ít nhất trong năm 2019 khi nền kinh tế vẫn ổn định và môi trường lãi suất không biến động mạnh. Tuy nhiên với LLR hiện khá thấp (44% - tương đương VPB), mặc dù tập trung vào cho vay có thế chấp, nhưng chúng tôi cho rằng mức trích lập này khá rủi ro trong trường hợp kinh tế gặp khó khăn, sẽ tạo áp lức lớn đến kết quả kinh doanh tương lai của ngân hàng.

LNST tăng trưởng 52% yoy dù không còn thu nhập đột biến. Tổng kết các giả định trên, chúng tôi dự phóng LNST của VIB 2019 tăng 52% dù không còn khoản lãi đột biến từ hợp đồng bancassurance.

Định giá.  Chúng tôi sử dụng phương pháp định giá là P/B nhằm tìm ra mức giá hợp lý của VIB. P/B forward và trailing Q1/2019 của VIB lần lượt là 1.08x và 1.31x, P/B trailing Q2/2019 là 1.25x. Có 2 yếu tố giúp VIB xứng đáng với mức định giá P/B tốt hơn hiện tại là: 1) Khả năng tăng trưởng LN cao hơn TB ngành ít nhất trong năm 2019, nhờ những lợi thế nhất định ở thị trường bán lẻ; 2) Khả năng sinh lời ROE tiếp tục cải thiện và nằm trong nhóm cao nhất ngành (>25% cho năm 2019). Tuy nhiên, ở chiều ngược lại cũng có 2 yếu tố rủi ro cần theo dõi sát: 1) Độ nhạy cảm cao với biến động lãi suất tăng; 2) Rủi ro thanh khoản khi theo đuổi chiến lược tăng trưởng nóng. Ngoài ra, xét về vốn hóa hay hoạt động kinh doanh thì VIB hiện vẫn là một ngân hàng tương đối bé trong hệ thống, nên mức định giá nhìn chung sẽ thấp hơn các ngân hàng quy mô lớn đến trung bình.

Trong bối cảnh hiện tại, chúng tôi đưa ra kỳ vọng P/B 2019 cho VIB ở mức 1.3x, với giả định ngân hàng chưa phát hành thêm cho đối tác chiến lược. BVPS 2019 dự phóng đạt 17,105 VND, tương đương giá mục tiêu đến cuối năm là 22,200, cao hơn khoảng 20% giá thị trường thời điểm định giá.

3

17

QUAN ĐIỂM ĐẦU TƯ

6T đầu năm 2019, tăng trưởng tín dụng của VIB đã đạt gần 18% với cho vay KH tăng 19.1%, trong đó, tăng trưởng được đặc biệt đẩy mạnh trong Q2 với cho vay KH tăng 12.3% QoQ so với chỉ 6% trong Q1. Tăng trưởng tổng huy động đạt 18% với huy động khách hàng tăng 16.8%, với huy động từ nhóm cá nhân tăng mạnh 26.1%, chiếm 72.4% huy động KH (so với 68.1% cuối năm 2018). NIM 6T2019 tiếp tục cải thiện đạt 3.86%, giúp NII tăng 29.3% so với cùng kỳ 2018. Non-NII tiếp tục tăng mạnh 68.1% yoy nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán và bảo hiểm. Cơ cấu TOI 6T2019 tiếp tục duy trì ở mức khá ổn định với 79.7% NII và 20.3% Non-NII. OPEX tăng mạnh 15.8% yoy do tăng mạnh chi phí nhân sự trong Q2, nhưng CIR vẫn cải thiện nhẹ còn 41.3%. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chỉ còn chiếm 17.13% LN trước dự phòng (Credit cost chỉ còn 0.62%) nhờ nợ xấu được kiểm soát tốt và không còn áp lực đối với khoản trái phiếu VAMC. Cuối cùng, LNTT đạt 1,820 tỷ VND, tăng mạnh 58.2% so với cùng kỳ năm 2018, EPS 4Q đạt 3,483 VND, tăng 24% so với cuối 2018.

Khuyến nghị MUA cho giai đoạn 6T cuối năm 2019 với giá mục tiêu khoảng 22,000 – 23,000 VND/cp. Tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận của VIB có thể cao hơn TB ngành trong 2019 và 1 – 2 năm tiếp theo, tuy nhiên rủi ro của VIB cũng cao hơn trong khi quy mô ngân hàng còn tương đối nhỏ. Do đó, trong ngành ngân hàng hiện tại có thể phân loại cổ phiếu VIB vào nhóm tiềm năng lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro cao. Trong 6T cuối 2019, mức giá kỳ vọng có thể lên khoảng 22,000 – 23,000 VND/cp trong điều kiện không có bất ổn kinh tế lớn, khả năng này hiện khá cao. Do đó, chúng tôi khuyến nghị MUA đối với VIB cho nửa cuối 2019. Ở góc độ lạc quan, sẽ có một số động lực có thể giúp định giá P/B của VIB cao hơn mức 1.3x, bao gồm: 1) Chuyển sàn niêm yết qua HOSE và tăng mức độ minh bạch thông tin; 2) Huy động thành công vốn cấp 1 thông qua phát hành cho NĐT chiến lược. Hiện tại những thông tin này đều chưa rõ ràng nên chúng tôi chưa đưa vào quan điểm định giá.

NĐT cần theo dõi sát các rủi ro hiện tại của VIB. Ngược lại, về mặt rủi ro, ngoài 2 rủi ro chính như đã đề cập ở phần “Điểm nhấn đầu tư” là rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất, chúng tôi cho rằng NĐT cũng cần quan tâm đến 2 vấn đề khác có thể ảnh hưởng đến KQKD của ngân hàng: 1) Tính tập trung trong kinh doanh là điểm sáng, nhưng cũng có thể tác động đến khả năng tăng trưởng về dài hạn khi cạnh tranh tại các phân khúc của VIB ngày càng gia tăng và ngân hàng thiếu phương án duy trì lợi thế của mình; 2) Sự giảm tốc của thị trường BĐS do những chính sách kiếm soát từ NHNN có thể ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

3

kb

 

    

hotline