Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo Vĩ Mô tháng 7-2019

Được đăng vào

KINH TẾ THẾ GIỚI

Ngân hàng Trung ương tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ

Theo số liệu thống kê từ Reuter, các Ngân hàng Trung ương (NHTW) tại 37 nền kinh tế mới nổi (Ems)1 ngày càng mạnh tay cắt giảm lãi suất kể từ đầu năm. Trong 5 tháng vừa qua, số lượng NHTW cắt giảm lãi suất liên tục vượt trội so với số lượng NHTW tăng lãi suất. Hình 1 phía dưới chưa bao gồm các quốc gia thực hiện nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua công cụ phi lãi suất như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Không chỉ các nước mới nổi, Australia mới đây cũng gia nhập nhóm các quốc gia phát triển đầu tiên cắt giảm lãi suất. Trong kỳ họp vừa qua, NHTW nước này đã quyết định hạ lãi suất điều hành lần thứ 2 liên tiếp trong 1 tháng qua xuống ngưỡng thấp lịch sử 1%/năm. Bên cạnh đó, Chính phủ nước này cũng đang tiến rất gần tới việc thông qua kế hoạch cắt giảm thuế trị giá 110 tỷ USD trong thập niên tới và hướng vào tầng lớp thu nhập trung bình trong thập niên tới. Australia đặt mục tiêu hạ tỷ lệ thất nghiệp về 4,5% từ mức 5,2% hiện tại, và thúc đẩy tiêu dùng nội địa

Tại Mỹ, giới đầu tư trên thị trường tài chính đặt cược vào khả năng NHTW nước này (FED) sẽ hạ lãi suất trong nửa cuối năm 2019. Mặc dù trong bài phát biểu gần đây, chủ tịch FED cho biết việc cắt giảm 50 bps ngay trong tháng 7 là quá mức cần thiết, nhưng cơ quan này để ngỏ khả năng điều chỉnh lãi suất điều hành trong trường hợp tăng trưởng kinh tế suy giảm.

Nhìn chung, các diễn biến hiện nay đang theo hướng nới lỏng, đối lập với diễn biến trong nửa cuối năm 2018. Nguyên nhân chủ yếu đến từ tăng trưởng kinh tế suy yếu khi hoạt động sản xuất và thương mại tại các quốc gia đang giảm tốc. Dựa trên số liệu khảo sát mới đây từ IHS, hoạt động sản xuất tại các trung tâm công nghiệp lớn như Trung Quốc, Nhật Bản và Đức đều giảm và nằm phía dưới “vùng tăng trưởng”.

Tuy nhiên, với trường hợp tăng trưởng kinh tế vẫn tích cực như Việt Nam, các nhà điều hành quan tâm nhiều hơn tới động thái từ NHTW lớn, đặc biệt là FED, EU và Nhật Bản. Với các nhà băng này, dư địa cắt giảm lãi suất, trong kịch bản suy thoái xảy ra, là rất hạn chế. Và họ cũng hiểu rõ chính sách tiền tệ nên được sử dụng như biện pháp đảm bảo tăng trưởng ở mức hợp lý hơn là mũi nhọn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đó, khó có khả năng FED sẽ cắt giảm lãi suất ngay trong tháng 7 khi các tín hiệu từ nền kinh tế còn chưa rõ ràng.

1

75

3

4

KINH TẾ VIỆT NAM

Bức tranh kinh tế thay đổi: Từ “Goldilock” sang “Goldilight”

Nguyên lý “Goldilocks” bắt nguồn từ tên một câu chuyện cổ tích thế kỷ 19 của Anh, tên “Goldilocks and the Three Bears”. Câu chuyện kể về việc một cô gái tên Goldilocks nếm thử ba bát cháo và chọn ra bát cháo cô ấy thích nhất với nhiệt độ vừa phải, không quá nóng và không quá nguội. Từ khi câu chuyện được lan truyền rộng dãi trong dân gian, khái niệm “vừa đủ” được áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong thiên văn học, Stephen Hawking từng nói: “giống như Goldilocks, sự phát triển của sự sống cần một hành tinh với nhiệt độ “vừa đủ”. Những hành tinh như vậy được gọi chung là hành tinh Goldilocks.

Trong kinh tế học, nguyên lý Goldilocks hàm ý tới một bức tranh kinh tế mà các nhà đầu tư khá ưa thích với ba đặc điểm: tăng trưởng kinh tế tích cực, lạm phát thấp và chính sách tiền tệ nới lỏng. Tại Việt Nam, những đặc điểm trên được thể hiện rõ nét nhất trong giai đoạn 2016-2018. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm vừa qua, dựa trên những thay đổi trong bối cảnh kinh tế, chúng tôi đánh giá kinh tế Việt Nam đang chuyển sang một trạng thái khác trong chu kỳ goldi, trạng thái “goldilight”. Trong trạng thái này, bức tranh kinh tế Việt Nam được phác họa bởi ba điểm chính:

• Tăng trưởng kinh tế vẫn tích cực, nhưng giảm nhẹ so với mức đỉnh. Đi kèm với đó, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.

• Chính sách kinh tế trở nên thận trọng hơn khi nhà điều hành lựa chọn phương án đứng yên quan sát hơn là chủ động thay đổi các biến số kinh tế quan trọng, đặc biệt lãi suất.

• Rủi ro lạm phát và tỷ giá thấp do bối cảnh thế giới và sự can thiệp của Chính phủ

Trong bối cảnh kinh tế mới, đa phần các quốc gia đều chịu ảnh hưởng bởi tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại. Điều này dẫn đến sự phân hóa giữa các nước dựa trên nội lực của bản thân từng quốc gia. Tại Việt Nam, sức khỏe nền kinh tế cơ bản vẫn ổn định và tốt hơn tương đối so với các nước khác trong khu vực nhờ sự tăng trưởng chi tiêu và đầu tư từ khu vực trong nước.

5

Trong 1H2019, tăng trưởng GDP ở mức 6,8% YoY, giảm nhẹ so với mốc 7,1% YoY trong 1H2018 nhưng cao hơn so với cùng kỳ các năm trước. Xét theo khía cạnh sản xuất, cả ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều giảm tốc nhẹ so với cùng kỳ 2018. Với khu vực nông, lâm và thủy sản, tăng trưởng chung giảm xuống 2,4% YoY từ mức 3,8% YoY trong 1H2018. Dịch bệnh heo Châu Phi lan rộng, khó kiểm soát và chính sách nhập khẩu thắt chặt của Trung Quốc là những nguyên nhân chính. Thủy sản là phân ngành khả quan nhất khi tốc độ tăng trưởng nhích nhẹ lên 6,5% YoY từ 6,3% YoY trong nửa đầu năm

Trong ngành công nghiệp và xây dựng, tốc độ tăng trưởng giảm 0,2% xuống 7,9% YoY trong 1H2019. Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mũi nhọn là lĩnh vực sản xuất điện thoại, điện tử suy yếu rõ rệt do nhu cầu từ thị trường thế giới sụt giảm. Theo số liệu từ Thái Nguyên và Bắc Ninh, hai trung tâm sản xuất sản phẩm điện thoại, điện tử tại Việt Nam, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn. Tại Bắc Ninh, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) giảm 4,3% YoY trong 1H2019, lần đầu tiên kể từ năm 2010. Chỉ số sản xuất công nghiệp ở cũng giảm 4 trong 6 tháng gần đây. Tại Thái Nguyên, trung tâm sản xuất dòng điện thoại Galaxy S10, giá trị sản xuất công nghiệp 1H2018 tăng 10,2% YoY và chỉ hoàn thành 46,1% kế hoạch năm. Đặc điểm chung tại cả hai tỉnh, số lao động trong các Khu công nghiệp đều sụt giảm so với cùng kỳ và có thể tiếp tục trong nửa cuối năm.

Điểm đáng chú ý liên quan đến sự trở lại của ngành khai khoáng và sự tăng tốc của ngành sản xuất điện. Hai ngành này đóng góp tới 0,4% vào mức tăng GDP chung. Xét riêng ngành khai khoáng, 1H2019 là lần đầu tiên trong các năm trở lại đây ghi nhận tốc độ tăng trưởng dương khi các phân ngành như khai thác than, quặng kim loại tăng mạnh. Hoạt động khai thác dầu thô và khí đốt giảm chậm hơn cùng kỳ. Trong khi đó, tình hình thời tiết nắng nóng là nguyên nhân chính giải thích cho việc ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng 11,5% YoY, cao hơn mức 10,2% YoY trong 1H2018.

Trong ngành dịch vụ, ngành bán buôn và bán lẻ; vận tải và kho bãi; và dịch vụ tài chính nhìn chung vẫn giữ duy trì được tốc độ tăng trưởng. Doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, loại trừ yếu tố giá, tăng 8,7% YoY, cao hơn mức 8,6% YoY trong 1H2018. Tăng trưởng tín dụng cũng đạt 6,2% ytd so với mức 6,1% ytd. Các ngân hàng đẩy mạnh tín dụng trong quý 2 khi mà kết quả của 3 tháng đầu năm chỉ đạt 1,9% YoY.

Trên góc độ sử dụng GDP, chúng tôi nhận thấy yếu tố nội lực, nhu cầu tiêu dùng và dòng vốn đầu tư tư nhân trong nước, đang tạm thay thế ngoại lực, thương mại và đầu tư FDI; qua đó đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế. Vốn đầu tư tư nhân trong nước tăng 16,4% YoY trong 1H2019, cao hơn mức 10% YoY của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Về triển vọng, chúng tôi đánh giá tăng trưởng GDP cả năm 2019 vẫn sẽ đạt 6,8% YoY do động lực từ tiêu dùng và đầu tư trong nước. Các rủi ro có thể làm sai lệch dự phóng của chúng tôi bao gồm: 1) Kết quả sản xuất trong mùa cao điểm quý 3 của khu vực FDI giảm mạnh hơn kỳ vọng, 2) Tác động từ việc Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn sẽ bảo trì vào cuối quý 3 và đầu quý 4, và 3) Giá thịt heo tăng đột ngột trở lại và tác động xấu tới tiêu dùng trong nước

6

Liên quan tới hoạt động điều hành chính sách, chúng tôi nhấn mạnh sự cẩn trọng khi các chính sách tiền tệ có/chưa có hiệu lực trong thời gian qua đều nhắm tới việc kiểm soát chặt chẽ dòng tiền trong hệ thống. Tuy nhiên, quyết định thay đổi lãi suất vẫn chưa được đưa ra. Thay vào đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) có thiên hướng điều tiết và giữ thanh khoản hệ thống ngân hàng thông qua công cụ thị trường mở. Như đã đề cập trên phần kinh tế thế giới, bất chấp việc NHTW các nền kinh tế mới nổi liên tục thay phiên cắt giảm lãi suất nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giới chức Việt Nam vẫn đang chờ đợi. Có lẽ, chúng ta đang chờ tín hiệu rõ ràng hơn từ phía NHTW Mỹ (FED).

Trong 2H2019, chúng tôi nhận thấy chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ sẽ mang đến những dấu hiệu tích cực hơn. Luật đầu tư công (sửa đổi) được thông qua trong kỳ họp Quốc hội tháng 5 vừa qua được kỳ vọng sẽ giải quyết những điểm nghẽn trong quá trình giải ngân. Về chính sách tiền tệ, việc khả năng cao FED sẽ cắt giảm lãi suất vào tháng 9 hoặc tháng 12 có thể sẽ khiến giới lập pháp Việt Nam cân nhắc điều chỉnh chính sách theo hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn.

7

Liệu Mỹ có áp thuế lên các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam?

Kể từ sau sự kiện G20 tại Nhật Bản, những lo ngại liên quan tới việc Mỹ có thể sẽ áp thuế lên hàng xuất khẩu của Việt Nam trở thành vấn đề nóng. Điều này không chỉ bắt nguồn từ chỉ trích của phía Mỹ vào một số quốc gia Châu Á, bao gồm Việt Nam, mà còn từ những vụ việc liên quan đến nhãn hiệu “Made in Vietnam” được sử dụng bởi các doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong nước.

Trước khi trả lời câu hỏi trên, chúng tôi muốn đề cập tới trường hợp của Campuchia và Đài Loan – hai quốc gia/vùng lãnh thổ chịu sự chỉ trích trực tiếp từ Mỹ. Với Campuchia, Đại diện Lãnh sự quán Hoa Kỳ cho biết Bộ an ninh nội địa nước này đã điều trả và xử phạt một loạt các doanh nghiệp tại Đặc khu kinh tế Sihanoukville về hành vi tiếp tay cho hàng Trung Quốc né tránh thuế vào Mỹ. Trong khi đó, Chính phủ Đài Loan cam kết sẽ áp dụng mạnh tay các biện pháp cần thiết nhằm tránh trường hợp trở thành điểm chung chuyển hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ

Liên quan tới Việt Nam, có một sự thật, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 40% YoY trong quý 1/2019, theo số liệu từ ITC. Đây là mức tăng cao nhất trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đáng chú ý hơn, dưa trên danh sách hàng hóa trong gói đánh thuế 250 tỷ USD của Mỹ lên Trung Quốc và lọc theo mã HS những mặt hàng Việt Nam xuất sang Mỹ, chúng tôi nhận thấy một số nhóm ngành có tốc độ tăng đột biến so với mức bình quân quý 1 của 3 năm trước đó. Các nhóm ngành gồm, gỗ và đồ nội thất; máy móc và thiết bị điện; sắt thép và sản phẩm liên quan; và nhựa.

Mặc dù chúng tôi đánh giá thấp khả năng việc Mỹ áp thuế trên diện rộng đối với hàng hóa từ Việt Nam, nhưng hoạt động xuất khẩu các mặt hàng trên sang Mỹ có thể sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ hơn. Nếu loại bỏ phần giá trị xuất khẩu tăng đột biến từ các nhóm này, tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ sẽ mất tối đa 3%, tương đương dưới 1% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Dù quy mô tác động về kinh tế có thể chưa lớn, nhưng sẽ ảnh hưởng đến triển vọng thu hút dòng vốn FDI của Việt Nam.

8

9

10

11

( vds)

 

hotline