Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo Vĩ Mô tháng 8-2019

Được đăng vào 10-08-2019

Căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng leo thang dẫn đến kỳ vọng một số ngành nghề sẽ tiếp tục được hưởng lợi như dệt may, thủy sản, khu công nghiệp, kho vận, v.v. Tuy nhiên, như đã đề cập trong báo cáo chiến lược tháng trước, chúng tôi nghĩ rằng ngành thủy sản có thể sẽ không có lợi ích đáng kể. Chúng tôi cũng tin rằng cho đến khi các công ty dệt may Việt Nam giải quyết vấn đề ‘xuất xứ hàng hóa từ sợi’, các doanh nghiệp thuộc ngành này cũng sẽ chưa được hưởng lợi lớn

Trong khi đó, xu hướng chuyển dịch sản xuất khỏi Trung Quốc và chuyển sang các nước châu Á khác, bao gồm cả Việt Nam vẫn đang tiếp tục. Những hành động gần đây của Trump khiến xu hướng này vẫn sẽ tiếp tục diễn ra. Do đó, triển vọng cho các khu công nghiệp, kho vận hiện tại khá khả quan.

Ởnhóm BĐS khu công nghiệp, KBC và VGC sở hữu các KCN ở phía Bắc, có thể là những công ty đầu tiên hưởng lợi tích cực. Ở phía Nam, các quỹ đất của các khu công nghiệp đã tạm thời cạn kiệt do vướng mắc trong các vấn đề về thủ tục và/hoặc bồi thường. SZC trở thành điểm sáng với 689 ha đất cho thuê gần như đã hoàn thiện pháp lý và có chi phí tương đối thấp. Theo cập nhật mới nhất, tổng diện tích cho thuê lũy kế ở KCN Sonadezi Châu Đức đã đạt 400 ha vào cuối quý 2/2019 (giá cho thuê trung bình là 50 USD mỗi m2, thời hạn đến năm 2058), đồng nghĩa đã 20 ha được cho thuê mới trong nửa đầu năm 2019. Chúng tôi cho rằng diện tích cho thuê ghi nhận trong thời gian tới tại KCN này sẽ diễn biến tích cực nhờ nhu cầu tăng cao

Đối với nhóm cảng biển và hậu cần, chúng tôi muốn thảo luận về ngành vận tải biển trong tháng này. Bức tranh ngành vận tải biển không mấy sáng sủa kể từ suy thoái kinh tế năm 2008. Giá dầu nhiên liệu biến động. Trong khi đó, về phía cung, nhiều tàu được đóng mới và mua lại trong giai đoạn trước năm 2008, khiến khả năng xử lý vượt quá nhu cầu. Điều này dẫn đến việc tăng cạnh tranh giá. Hơn nữa, hầu hết các tàu này được đóng mới và mua lại trong giai đoạn vàng của ngành vận tải, chi phí rất tốn kém. Nhiều hãng tàu đã phải vay ngân hàng để mở rộng thị phần. Khi cước giá giảm trong khi giá nguyên liệu và lãi suất tăng, nhiều công ty khai thác vận tải đã chịu lỗ. Theo đó, tổng quy mô đội tàu cũng giảm mạnh khi nhiều doanh nghiệp phải tái cơ cấu, thanh lý tàu để trả nợ. Ngoài ra, đội tàu Việt Nam không có khả năng cạnh tranh với các hãng tàu quốc tế trong thị phần hàng hóa xuất-nhập khẩu. Theo Cục Hàng hải Việt Nam, trong vận tải xuất-nhập khẩu biển, đội tàu của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% thị trường, phần còn lại bởi các hãng tàu nước ngoài đảm nhận. Để hỗ trợ sự phát triển ngành vận tải biển, Cục Hàng hải Việt Nam đã đề xuất thành lập các nhóm giải pháp cũng như thu thập ý kiến từ các doanh nghiệp trong ngành. Trong số các giải pháp, chúng tôi tin rằng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đến 10% trong 15 năm sẽ tác động sớm và trực tiếp đến các hãng tàu về mặt lợi nhuận. Nhờ đó, các doanh nghiệp trong ngành có thể gia tăng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, hiện đại hóa đội tàu của họ và cải thiện cạnh tranh với các hãng tàu nước ngoài. Ngược lại, một số hãng tàu vẫn còn nợ lũy kế cao sẽ không được hưởng lợi ngay từ việc giảm thuế TNDN. Tuy nhiên, các giải pháp còn lại cũng sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi dài hạn hơn cho các doanh nghiệp vận tải biển này.

Chúng tôi ưu thích cổ phiếu HAH cho ngành vận tải biển bởi (1) Sau 2 năm suy giảm khai thác cảng, kết quả kinh doanh nửa đầu năm của HAH cho thấy những tín hiệu tích cực nhờ vào sự chuẩn bị sớm cho việc thay đổi quan trọng trong hoạt động kinh doanh (từ khai thác cảng sang khai thác tàu container). Đến hiện tại, hoạt động tàu đã dần dần ổn định và bắt đầu đóng góp lớn nhất vào lợi nhuận gộp của công ty. Trong 6T2019, lợi nhuận gộp từ hoạt động tàu đã tăng 63% YoY, chiếm 52% cơ cấu lợi nhuận gộp của HAH. Hơn nữa, sự đầu tư vào đội tàu cũng giúp đảm bảo hiệu quả hoạt động cho cảng Hải An, (2) Mở rộng vận hành kho ở Nam Đình Vũ (Hải Phòng) năm 2018 cũng tạo ra chuỗi dịch vụ hậu cần khép kín, cải thiện lợi thế cạnh tranh của công ty, (3) Nếu Chính phủ thực hiện các bước hỗ trợ ngành vận tải trong tương lai gần, chúng tôi tin rằng HAH hoàn toàn có thể hưởng lợi từ việc này kết hợp với các lợi thế cạnh tranh hiện có của đội tàu, và (4) HAH đang được giao dịch ở mức PE trượt 5,x và có mức cổ tức tiền mặt là 7,3%. Với những chất xúc tác để đẩy giá cổ phiếu tăng, chúng tôi tin rằng mức P/E của HAH có thể sẽ cải thiện lên mức 7,x.

10 năm tới S&P 500 đang dao động ở mức 3.000 cao hơn mức 700 trong tháng 3 năm 2009. Trong khi đó, kể từ năm 2011, giá nhà ở Mỹ đã tăng khoảng 50%, khiến tài sản của chủ sở hữu nhà tăng đáng kể.

1

Đây là một tin tốt. Tuy nhiên sự giàu có tăng mạnh từ việc tăng giá của tài sản đã không lan tỏa ra toàn bộ hộ gia đình Mỹ. Tiền lương thực (đã điều chỉnh lạm phát) trong thập kỷ qua chỉ tăng trung bình 2% mỗi năm, điều này cho thấy rằng chỉ những người đã có vốn đề đầu tư mới hưởng lợi. Về cơ bản, có lẻ chỉ 1% hoặc hơn số người hưởng lợi là điều mà ứng cử viên tổng thống năm 2016 Bernie Sanders đã nhắc đến

2

Sự khác biệt trong việc tạo ra tài sản giữa ‘có’ và ‘không có’ được phản ánh một phần bởi hệ số Gini - thước đo bất bình đẳng thu nhập - đã tăng lên trong 30 năm. Khi so sánh tại Việt Nam, kể từ thời điểm có dữ liệu, hệ số Gini không thay đổi kể từ năm 1997. Điều này có thể thay đổi theo thời gian khi nền kinh tế đa dạng hóa và trở nên tương quan hơn với chu kỳ toàn cầu

3

Theo OECD, tuổi thọ tại Mỹ đã giảm kể từ năm 2012. Một loạt các yếu tố giải thích có thể được đưa ra để giải thích điều này nhưng một yếu tố thường được nhấn mạnh trong giới hàn lâm là kinh tế xã hội 'khó khăn' - tức là không đủ tiền cung cấp cho các nhu cầu cơ bản1 , bao gồm cả nhu cầuchăm sóc sức khỏe, một mối quan tâm hàng đầu. Trong ba thập kỷ qua, khác biệt về tuổi thọ giữa Mỹ và các quốc gia khác đang gia tăng, đặc biệt là ở phụ nữ2

Nhằm đảo ngược việc giảm tuổi thọ, các chính sách nhắm đến các yếu tố rủi ro kinh tế xã hội và trao đổi chất là rất cần thiết

4

Điều thú vị là Việt Nam, với GDP bình quân đầu người thấp hơn khoảng 20 lần so với Mỹ, có mức tuổi thọ trung bình tương đương Mỹ - mặc dù dữ liệu từ hơn 10 năm trước.

5

Một vấn đề khác đã trở thành thời sự trong hơn 5 năm qua là ngày càng nhiều những người trẻ tốt nghiệp đại học thiếu khả năng chi trả nhà ở, đặc biệt ở các trung tâm thành phố lớn. Điều này đang gây xáo trộn kể từ khi người trẻ tốt nghiệp phải đối mặt với việc hoàn trả các khoản nợ học tập. Mặc dù người viết không quá bận tâm về điều này, tổng nợ của Mỹ đã tăng lên 22.000 tỷ USD, từ 10 ngàn tỷ USD năm 2009. Sau 10 năm tăng trưởng kinh tế, giai đoạn dài nhất kể từ năm 1954, điều này khá khó hiểu khi con số này tiếp tục tăng lên.

Câu hỏi 1 ngàn tỷ USD, theo quan điểm của chúng tôi, liệu sẽ có một đợt suy thoái bất động sản tại Mỹ? Có lẽ, bởi không có một người mua cận biên nào (những người sẵn sàng trả bằng hoặc cao hơn giá thị trường).

Nhiều điều đã được nói về bài tweets mới đây của Nhà Trắng về thực tế rằng đồng đô la Mỹ đang quá mạnh. Chỉsố USD theo trọng số thương mại (The Trade Weighted Dollar Index) đã tăng mạnh 30% từ năm 2012. Rõ ràng thị trường có thể điều chỉnh nhưng không thể vin vào sự điều chỉnh ngắn hạn để nói xu hướng dài hạn cũng bị ảnh hưởng.

6

Trong khi đó tại Châu Á, giá trị xuất khẩu của Nhật Bản đã giảm 6,7% yoy từ tháng Sáu dấu hiện cho thấy chiến tranh thương mại giữa Mỹ - Trung và với Hàn Quốc đang bắt đầu ảnh hưởng. Quyết định của Nhật Bản trong tháng 7 nhằm hạn chế xuất khẩu sang Hàn Quốc một số hóa chất quan trọng sử dụng trong các ứng dụng công nghệ cao và chiến lược có thể làm trầm trọng thêm sự suy yếu giá trị xuất khẩu. Những căng thẳng giữa Nhật Bản và Hàn Quốc đã tồn tại từ hàng thế kỷ trước.

Giá trị thương mại toàn cầu tiếp tục đà đi xuống trong vài tháng qua, tháng 5 ghi nhận mức giảm 0,4% YoY.

7

Đáng báo động hơn là mối đe dọa đối với chuỗi cung ứng toàn cầu khi chủ nghĩa bảo hộ đang tăng cao hơn trong 18 tháng gần đây. Rất ít người thực sự quan tâm đúng mức vấn đề này. Phần lớn là do bản chất tiềm ẩn các vấn đề giữa các quốc gia và các công ty ở Châu Á. Chiến tranh thương mại là sự tấn công vào chuỗi cung ứng toàn cầu vốn phải mất rất nhiều thập kỷ để hình thành sau sự mở rộng tự do thương mại kể từ sau khi Tổ chức Kinh tế thế giới được thành lập năm 1995, tiền thân là Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch 1947. Tranh chấp thương mại lâu dài có thể phá vỡ chuỗi cung ứng toàn cầu và cản trợ lợi nhuận của các công ty dựa vào việc tăng quy mô sản xuất. Vô số các công ty, ngoài Huawei, và các tập đoàn đa quốc gia có quy mô từ hàng chục đến hàng nghìn công ty nhỏ hơn có khả năng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chúng tôi không chắc liệu có ai có thể tổng hợp thành con số cụ thể mặc dù IMF ước tính sự gián đoạ

Trong thời đại của Trump, Brexit và và sự trỗi dậy của chủ nghĩa chính trị bài ngoại, nước Mỹ và ở một mức độ hạn chế ở Châu Âu, không còn là người dẫn đầu trong toàn cầu hóa, tự do thương mại và đầu tư. Trật tự dựa trên quy tắc và những ý tưởng ấp ủ đã tạo ra các điều kiện cho sự trỗi dậy của Châu Á trong vài vài thập kỷ qua đang dần biến mất. Để Việt Nam tiến tới giai đoạn tiếp theo của công nghiệp hóa, chuyển từ sản xuất đơn thuần sang tạo ra một nhóm công ty và ngành công nghiệp hỗ trợ, áp lực để giữ chuỗi cung ứng toàn cầu không bị ảnh hưởng là điều kiện tiên quyết.

8

7

10

Giảm lãi suất điều hành ngắn hạn – Tín hiệu nới lỏng tiền tệ?

Tháng 7 vừa qua là khoảng thời gian bận rộn với thị trường tài chính khi có quá nhiều biến động cả trong nước và quốc tế. Trong khi NHTW Mỹ (FED) đã quyết định giảm lãi suất điều hành 25 bps vào ngày cuối cùng của tháng, trước đó, trung tuần tháng 7, NHNN Việt Nam (SBV) đã giảm lãi suất phát hành tín phiếu kỳ hạn 7 ngày 25 bps xuống 2,75%/năm. Theo sau là những thay đổi theo chiều hướng đi xuống của lãi suất liên ngân hàng qua đêm và lợi tức trái phiếu chính phủ. Dưới đây là những thay đổi liên tục, đan xen trên thị trường tài chính và góc nhìn của chúng tôi về diễn biến chính sách tiền tệ trong nửa cuối năm 2019.

Trong phiên giao dịch 19/07, SBV hút ròng 10.000 tỷ đồng thông qua phát hành tín phiếu kỳ hạn 7 ngày với lãi suất 2,75%/năm, thấp hơn mức 3%/năm. Lãi suất tín phiếu là biến chính sách với 2 đặc điểm chính, ít biến động và mang tính định hướng của nhà điều hành. Cùng với lãi suất mua/bán kỳ hạn 7 ngày, hai mức lãi suất trên tạo thành vùng biên độ dao động cho lãi suất liên ngân hàng qua đêm (Hình 7). Với động thái giảm lãi suất tín phiếu vừa qua, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã lập tức giảm từ mức trung bình 3% trong tuần trước đó. Điểm dễ nhận thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã liên tục tăng trong năm 2018 và duy trì quanh mức trung bình 3,76%/năm tính từ đầu năm. Cùng với đó, thanh khoản trên thị trường này cũng tăng mạnh, đột ngột từ mức 27.000 tỷ đồng/phiên lên 54.000 tỷ đồng/phiên sau 9 tháng qua. Điều này cho thấy nhu cầu bù đắp thanh khoản qua đêm giữa các ngân hàng trong hệ thống rất cao. Nỗ lực hạ lãi suất vay mượn qua đêm sẽ giúp các ngân hàng có nhu cầu bù đắp thanh khoản tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể.

11

Bên cạnh lãi suất liên ngân hàng qua đêm, lợi tức trái phiếu chính phủ cũng phản ứng nhanh theo sau quyết định giảm lãi suất ngắn hạn từ phía SBV. Trên thị trường phát hành sơ cấp, lợi tức trúng thầu giảm mạnh nhất ở các kỳ hạn dài, điển hình như 30N (-26,0 bps), 20N (-36,5 bps), 15N (-24,3 bps) và 10N (-13,5 bps). Đáng chú ý, trước đó, các mức lợi tức trên gần như đi ngang sau khoảng thời gian biến động hình chữ V. Khối lượng phát hành thành công cũng đạt 32.000 tỷ, gấp 3 lần mức trung bình tháng trong quý 2. Tương tự, đa phần lợi tức trái phiếu chính phủ các kỳ hạn trên thị trường thứ cấp đều giảm mạnh, trung bình 35 bps.

12

Kết thúc chuỗi sự kiện trong tháng 7 gắn với thông báo giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên của các ngân hàng lớn. Theo đó, mức lãi suất này sẽ giảm 0,5%/năm xuống 5,5%/năm kể từ ngày 01/08. Trong 24 tháng qua, đây là lần thứ 3 các ngân hàng thông báo giảm mức lãi suất trên, từ 7%/năm vào 07/2017 xuống 5,5%/năm vào 08/2019. Theo số liệu từ Vietcombank, quy mô khoản vay ngắn hạn cho lĩnh vực ưu tiên chiếm 20% tổng dư nợ tín dụng của nhà băng này.

Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm, 1. Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; 2. Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật thương mại; 3. Phục vụ kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa; 4. Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; 5. Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật công nghệ cao; 6. Lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; 7. Cho vay doanh nghiệp khởi nghiệp.

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng những thay đổi lãi suất ngắn hạn trên chưa đồng nghĩa với việc nới lỏng chính sách tiền tệ (đo lường bởi giảm lãi suất điều hành hoặc tăng cung tiền) do 2 yếu tố, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam và tín hiệu từ phía SBV.

Trong đồ thị phía dưới, chúng ta có thể nhận thấy biến động lãi suất trên thị trường 1 (huy động/cho vay giữa ngân hàng và dân cư/tổ chức kinh tế) và thị trường 2 (TT liên ngân hàng) không có tương quan rõ nét. Tại Việt Nam, cơ bản hình thành hai cơ chế lãi suất khá độc lập. Lãi suất huy động/cho vay trên thị trường 1 chịu ảnh hưởng bởi các mức lãi suất điều hành (tái cấp vốn, tái chiết khấu) trong khi lãi suất trên thị trường 2 và thị trường trái phiếu bị điều phối bởi yếu tố cungcầu thanh khoản giữa các ngân hàng nhiều hơn. SBV có thể tác động vào lãi suất trên thị trường 2 thông qua nghiệp vụ thị trường mở và đối thoại (Hình 11).

Theo những quan sát trong thời gian qua, chúng tôi nhấn mạnh 2 mục tiêu của SBV, gồm: (i) chuyển đổi mô hình điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn với cơ chế lan truyền từ lãi suất điều hành ngắn hạn tới lãi suất vay/mượn dài hạn trên thị trường 1, và (ii) duy trì thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng nhằm giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với khu vực sản xuấtkinh doanh, đặc biệt các doanh nghiệp tư nhân thuộc lĩnh vực ưu tiên.

Tuy nhiên, những yếu tố căn cơ gắn với quá trình tự do hóa lãi suất và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ mới như khả năng độc lập của SBV, minh bạch chính sách, cơ chế điều hành tỷ giá và tài khoản vốn,… vẫn là những câu đố khó giải để đạt mục tiêu trên. Bên cạnh đó, mức độ phát triển thấp của thị trường tài chính gắn khi chưa có mức lãi suất cho vay cơ bản (LPR), lãi suất cho vay khách hàng tốt nhất, trên hệ thống ngân hàng và các sản phẩm phái sinh gắn với lãi suất đó cũng kìm hãm quá trình chuyển đổi. Hiện tại, việc giảm lãi suất điều hành ngắn hạn chỉ góp phần định hướng giảm lãi suất ngắn hạn cho khu vực doanh nghiệp trong lĩnh vực ưu tiên, và chưa thể tác động tới lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh dài hạn. Mặc dù quá trình cơ cấu hệ thống ngân hàng đạt được những thành tích nổi bật như 8/10 ngân hàng thí điểm hoàn thành Basel 2, các chỉ số an toàn thanh khoản đều năm trong phạm vi cho phép. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại vẫn khá nhạy cảm và SBV vẫn rất cẩn trọng nhằm hoàn tất quá trình “nâng cấp” hệ thống ngân hàng thay cho việc mạnh tay giảm lãi suất điều hành dài hạn (lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn) do yếu tố rủi ro lạm phát giá tài sản, đặc biệt thị trường bất động sản, có thể gia tăng trở lại.

Theo số liệu ước tính của chúng tôi, tăng trưởng cung tiền trong nửa đầu năm 2019 chỉ đạt khoảng 7,0% ytd, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng 7,3% ytd. Quan sát lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước trong ngân hàng thương mại, Hình 9, khoản mục này tại hầu hết các nhà băng đều sụt giảm so với mức cuối năm 2018, ngoại trừ Vietinbank.

13

14

15

16

Kinh tế Việt Nam – 1 năm sau ngày “Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung” bắt đầu

Vào ngày 06/07/2018, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ bắt đầu thu những đồng thuế bổ sung đầu tiên áp lên gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 34 tỷ USD. Đây là một trong những dấu mốc lịch sử đánh dấu sự tồn tại của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung với các biện pháp trả đũa nhau liên tục. Đến nay danh sách các mặt hàng chịu thuế suất của Mỹ ngày càng dài và lên tới 550 tỷ USD, trong đó đợt đánh thuế 10% lên 300 tỷ USD hàng hóa sẽ có hiệu lực từ 01/09/2019.

Là một nền kinh tế nhỏ với độ mở cao, Việt Nam hiển nhiên chịu ảnh hưởng gián tiếp từ vòng xoáy thuế quan. Tuy nhiên, việc nhìn nhận bức tranh kinh tế Việt Nam trong 12 tháng qua là tích cực hay chưa hoàn toàn phụ thuộc góc nhìn của mỗi người. Với chúng tôi, Việt Nam vẫn đang là “ngôi sao sáng” trong khu vực khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối ổn định. Khác với giai đoạn 2015-2018, động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang tạm thời chuyển từ xuất khẩu sang đầu tư và tiêu dùng trong nước giai đoạn 2019-2020

So với 12 tháng trước, tăng trưởng GDP theo quý có xu hướng ổn định quanh mức 6,8% yoy trong bối cảnh hoạt động sản xuất-xuất khẩu hàng điện tử và dòng vốn FDI đăng ký mới có phần chững lại. Hoạt động sản xuất chế biến – chế tạo giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định quanh 9-10%. Riêng hoạt động sản xuất điện thoại, điện tử, tăng trưởng sản xuất vẫn khá chậm chạp và có thể thấp hơn kỳ vọng trong quý 3 dù là mùa sản xuất cao điểm. Do chi phí nhập khẩu điện thoại và linh phụ kiện trong tháng 7 chỉ đạt 0,9 tỷ USD, thấp hơn mức 1,4 tỷ USD cùng kỳ 2018. Chúng tôi sẽ cập nhật khi có số liệu chính thức từ Tổng cục Hải quan vào ngày 15/07 tới. Tuy nhiên, các dự án lọc dầu, thép, ô tô trong nước đang là động lực chính trong khi tốc độ tăng trưởng ngành khai thác than liên tục nới rộng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của ngành điện. Chỉ số sản xuất PMI tiếp tục duy trì trên ngưỡng 50 cho thấy khu vực này liên tục mở rộng trong thời gian qua.

Tính đến hết tháng 7, chỉ số CPI chung chỉ tăng 2,6% YoY khi Chính phủ đẩy mạnh kiềm chế lạm phát. Rủi ro lạm phát trong nửa cuối năm đến từ các mặt hàng thiết yếu như giá thịt heo, giá xăng dầu và kể cả giá điện. Theo dự báo của chúng tôi, lạm phát chung trong năm 2019 ở mức 3,8%, thấp hơn ngưỡng 4% do Quốc Hội đề ra. So với 12 tháng trước đó, rủi ro lạm phát đang thấp hơn tương đối. Tuy nhiên, bài toán hiện nay gắn với việc kiểm soát lạm phát cơ bản khi liên tục tăng và đạt 2,0% YoY trong tháng 7 vừa qua. Tác động lan truyền từ việc tăng giá hàng hóa thiết yếu hay khả năng dư thừa tiền ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng là những yếu tố cần xem xét. 

Về tỷ giá, USDVND đã giảm về ngưỡng đầu năm, tính đến cuối tháng 7, sau khi tăng đột biến vào trong quý 2. Rủi ro tỷ giá vẫn còn đó khi đồng Nhân dân tệ trong phiên giao dịch gần đây đã tăng đột ngột lên 7,0 NDT đổi 1 USD. Tuy nhiên, với triển vọng giải ngân FDI và FII khả quan, dự trữ ngoại hối gia tăng, đạt 68 tỷ USD, chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước (SBV) vẫn có đủ không gian kiểm soát tỷ giá.

Tuy nhiên khác với giai đoạn trước, vẫn còn đó những giới hạn và khó có thể kỳ vọng lãi suất huy động/cho vay trên thị trường 1, xem phần 1, giảm trong 2H2019. Lãi suất cho vay VND qua đêm đang giảm xuống dưới ngưỡng 3%/năm sau khi duy trì quanh mức 3,5%/năm trong suốt quý 2. Trong bối cảnh căng thẳng thương mại leo thang, duy trì khoảng chênh lệch giữa lãi suất cho vay VND và USD qua đêm là điều cần thiết. Lãi suất cho vay USD qua đêm đang ở mức 2,5%/năm.

20

( vdsc ) 

 

hotline