Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo Vĩ Mô tháng 5-2019

Được đăng vào 10-05-2019

KINH TẾ THẾ GIỚI

Thị trường chứng khoán toàn cầu chứng kiến sự phục hồi hình chữ V sau nỗi lo sợ Q4/2018. Mặc dù vậy, các số liệu khá rõ ràng: kinh tế toàn cầu đang yếu đi và FED đã phản ứng bằng việc siết chặt hai lần. Điểm mấu chốt của Fed, kết hợp với những kỳ vọng đối với Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và các biện pháp kích thích được đưa ra bởi Bắc Kinh là lí do khiến cổ phiếu hồi phục trong Q1/2019 và tiếp tục diễn biến tăng trong tháng 4.

Chỉ số S&P500 (2.945,83) đã lập đỉnh mới vào ngày 23/4/2019 và hiện tại đã tăng 17,5% YTD tính đến 30/4/2019. Một mặt, các thị trường dường như phản ánh kỳ vọng rằng FED sẽ giảm 25 điểm cơ bản lãi suất trong năm nay, trái với kỳ vọng 4 lần đạt đỉnh trong năm 2019. Tuy nhiên Chủ tịch Fed Jerome Powell đã gửi đi một thông điệp trung lập trong lần xuất hiện công khai gần nhất. Trái phiếu 10 năm của Mỹ đang ở mức 2,5%, giảm từ mức 3,1% vào tháng 10/2018. Tính theo đồng USD, các chỉ sốDAX (+14,6%), FTSE100 (+12,8%) và CAC40 (+15,7%) đều đã tăng từ đầu năm đến nay trong khi các chỉsố Nikkei và Hang Seng cũng tăng lần lượt 10% YTD và 14,7% YTD. Chỉsố tăng tốt nhất hiện nay là Shanghai Comp với mức tăng đáng kinh ngạc 26,1% YTD. Các chỉsố Đông Nam Á cũng ghi nhận tăng điểm: VNI +9,4%, STI +11%, SET +9,2%, JCI +15,5% và PSEi +8,1%. Malaysia có lẽ là trường hợp duy nhất mà chỉsố chứng khoán giảm (-2,9% YTD)

Các cuộc thảo luận vẫn đang tiếp diễn xoay quanh việc liệu sự thay đổi chính sách của Fed là kết quả của nỗi lo sợ suy thoái hay là sự phản ứng với việc giá tài sản giảm mạnh vào cuối năm ngoái. Chúng tôi cho rằng sự suy yếu của nền kinh tế đòi hỏi nới lỏng các điều kiện tiền tệ. Điều này giúp kéo dài tăng trưởng kinh tế Mỹ cũng như thị trường chứng khoán nước này thêm một thời gian ngắn nữa. Chỉ số lạm phát hiện tại ủng hộ các biện pháp như vậy

Trong khio đó, triển vọng kinh tế châu Âu vẫn tăng trưởng yếu, còn Nhật thì thất bại trong việc đẩy lạm phát. Chỉ số PMI của Đức giảm mạnh dưới ngưỡng 50 khi thương mại toàn cầu giảm và do phụ thuộc lớn vào các thịtrường châu Á. Điều này làm các nhà đầu tư đổ xô mua trái phiếu chính phủ Đức. Lần đầu tiên trong 3 năm lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm giảm dưới mức 0. Thật vậy, tình hình ở châu Âu nghiêm trọng hơn nhiều so với Mỹ. Fed có thể ngừng tăng lãi suất, nhưng Ngân hàng trung ương Châu Âu sẽ không bao giờ bắt đầu điều đó. Công cụ tiền tệ thông thường duy nhất còn lại trong chiếc hộp của họ là trì hoãn việc thắt chặt tiền tệ.

Chỉ số Đô la Mỹ (DXY) tăng lên 97,48 và tăng +1,4% YTD và tài sản có mệnh giá Đô la vẫn trong nhu cầ

Các nhà đầu tư có thể tăng phân bổ vào các thị trường mới nổi vì chúng tôi tin rằng giai đoạn thống trị tăng trưởng phi thường của thị trường chứng khoán Mỹ (và nền kinh tế) đã vào giai đoạn cuối trong khi tình trạng châu Âu rối ren

1

Nền kinh tế toàn cầu đang yếu đi

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã cắt giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu xuống còn 3,3% từ mức 3,5% trong tháng 1, mức thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính. Đây là lần thứ 3 trong 6 tháng, IMF điều chỉnh dự báo thấp đi. IMF không thay đổi dự báo tăng trưởng của Trung Quốc giữ mức 6,3% nhưng giảm Mỹ và khu vực Châu Âu lần lượt xuống còn 2,3% và 1,3%. Châu Âu có thể sẽ sớm bước vào thời kỳ suy thoái. PMI Đức rơi tự do khá nhiều (hình 2), thị trường trái phiếu đã phản ứng theo và tăng điểm. Trong khi, đường cong lãi suất Mỹ đảo chiều trong tháng 3 do môi trường lãi suất cực thấp cho thấy một cuộc suy thoái đang đến sớm hơn mọi người dự kiến.

2

Thay đổi chính sách của FED có thể kéo dài chuỗi ngày tăng của thị trường Mỹ

Như đã đề cập, Fed đã chuyển sang một vị thế trung lập, mấu chốt từ tuyên bố của Powell từ tháng 10 năm ngoái “lãi suất đang xa mức trung lập”. Câu chuyện đã đảo chiều đáng kể từ kỳ vọng 4 lần tăng lãi suất trong năm 2019 sang kỳ vọng cắt giảm lãi suất, điểm dừng của thắt chặt định lượng (QT, Quantitative Tightening) và lý thuyết tiền tệ hiện đại (MMT, Modern Monetary Theory). Một số người thậm chí còn nói về một “sự sắp đặt của Fed”. Nới lỏng bằng lời nói thì rẻ nhưng cho đến nay đã chứng minh hiệu quả. Trong thế giới hiện nay, Fed xác định con đường và các ngân hàng trung ương khác theo sau.

Nhiều khả năng, Fed đã thay đổi quan điểm của mình sau quý cuối cùng đầy kịch tính cho thị trường chứng khoán Mỹ bởi:

 Sự leo thang thương mại Mỹ-Trung và việc áp dụng thuế quan biến câu chuyện chiến tranh thương mại thành sự thật.

 Dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu, bao gồm mối quan ngại thường nhật về việc hạ cánh cứng của Trung Quốc.

 Ngân hàng Trung ương châu Âu cắt giảm một nửa quy mô mua lại tài sản hàng tháng và tuyên bố tạm dừng chương trình QE vào đầu tháng 1 năm nay.

 Đồng Đôla gây áp lực mạnh mẽ lên các NHTW tại các quốc gia mới nổi và đang phát triển, tạo sức ép khiến các NHTW này phải tăng lãi suất để giải cứu đồng nội tệ, bổ sung thêm vào việc thắt chặt toàn cầu.

 Chương trình thắt chặt kép của cục dự trữ liên bang Mỹ: điều chỉnh lãi suất và tăng/giảm tài sản nắm giữ.

Như mọi người biết, thị trường Mỹ đang trải qua chu kỳ tăng điểm dài nhất từ trước đến nay trong bối cảnh giai đoạn lãi suất cực thấp kéo dài và chương trình mua lại cổ phiếu của các doanh  nghiệp. Ngoài ra, nếu không có khủng hoảng vào tháng 6 tới, đây sẽ là chu kỳ tăng trưởng kinh tế dài nhất trong lịch sử. Robert Shiller chỉ ra rằng chúng ta đang chứng kiến chu kỳ tăng giá nhà dài thứ ba tại Mỹ kể từ năm 1890, mà không có sự hưng phấn. Mặc dù “thị trường con bò không chết đi vì tuổi già”, nhưng cần cẩn trọng với những gì diễn ra trong lịch sử.

3

Tỷ lệ vốn hóa trên GDP (hình 5), hay còn được gọi “chỉ số Buffett”, cho thấy chúng ta đã bơi trong vùng nước nguy hiểm trong một thời gian, định giá cao. Ngoài ra, biểu đồ PE điều chỉnh theo chu kỳ 10 năm (hình 4) được biết đến như “Shiller PE” chưa từng cao như vậy ngoại trừ trong những năm bong bóng công nghệ (dotcom) và những năm 1920s.

4

Có thể nói rằng, không giống lợi nhuận, doanh số hoặc doanh thu thuần là phần khó bị tác động bởi các phương pháp kế toán nhất. Biểu đồ bên dưới cho thấy tỷ lệ P/S của S&P 500 đang gần mức cao nhất trong lịch sử.

5

Cuối cùng, biểu đồ dưới đây cho thấy tỷ suất lợi nhuận đang ở mức cao nhất trong lịch sử. Vấn đề nằm ở chỗ tỷ suất lợi nhuận được cho là sẽ giảm về mức trung bình khi áp lực cạnh trang gia tăng. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thấy điều này xảy ra.

6

Rất khó dự đoán suy thoáI kinh tế sẽ xảy ra ở Mỹ nhưng không thể phủ nhận rằng điều này đang đến ngày càng gần hơn. Thị trường con gấu chỉ ra rằng chính sách kích thích tài khóa của Trump đã thúc đẩy lợi nhuận trong năm 2018 nhưng tác động sẽ sớm kết thúc. Chính quyền luôn có thể đưa ra các biện pháp kích thích mới nhưng điều này không nhận được ủng hộ từ một số nhà kinh tế do lo ngại thâm hụt ngân sách dự kiến đạt 4-5% GDP trong 10 năm tới.

Mặt khác, những người ủng hộ Lý thuyết tiền tệ hiện đại (MMT) lại không lo ngại vấn đề đó và họ tự tin vào các giải pháp đối với tình trạng đình trệ kéo dài. Theo lý thuyết này, chính phủ không còn phụ thuộc vào một ngân hàng trung ương độc lập – cơ quan quản lý nền kinh tế thông qua lãi suất và các công cụ khác, mà thay vào đó cho phép chính phủ chi tiêu mạnh tay. Khái niệm “tiền trực thăng” (helicopter money) sẽ ngày càng trở nên quen thuộc hơn. Điển hình như ở Nhật Bản, quốc gia có nợ công/GDP đạt 236%, mức cao nhất trên thế giới nhưng chưa bao giờ phải chịu một cuộc khủng hoảng nợ. NHTW Nhật (BOJ) luôn đã chắc chắn về điều đó. Tuy nhiên, cơ quan này cũng thất bại trong việc phục hồi nền kinh tế

Nếu cần thiết thực hiện các biện pháp mạnh thì sẽ thực hiện. Ngày nay dường như ít điều cấm kỵ hơn trước. Mười năm trước, thật khó có thể tưởng tượng được việc có một vài ứng cử viên tổng thống Mỹ tự xưng mình là những người xã hội chủ nghĩa (thực sự là những người dân chủ xã hội).

Những kích thích kinh tế nhỏ tại Trung Quốc

Bên cạnh sự thay đổi chính sách của FED, niềm tin vào việc Chính phủ Trung Quốc sẽ đưa ra chương trình kích thích kinh tế góp phần quan trọng vào kết quả hồi phục của giá tài sản trong Q1/2019. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các biện pháp kích thích kinh tế được công bố lần này, có vẻ khá khiêm tốn về mặt tín dụng (thị trường có thể đã bắt đầu nhận ra điều này). Dường như, việc đề cập đến kích thích kinh tế cũng như các dấu hiệu khích lệ trong các cuộc đàm phán với Mỹ đã cải thiện tình hình trong 3 tháng đầu năm nay. Chương trình kích thích của Trung Quốc nhắm tới thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng trong nước (cắt giảm thuế) thay cách cũ, tăng chi tiêu cơ sở hạ tầng. Lưu ý là Trung Quốc đang trong quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế ổn định hơn, dựa vào tiêu dùng trong nước và giảm phụ thuộc các ngành công nghiệp nặng

Hơn nữa, Bắc Kinh đang lo ngại quá trình giảm đòn bẩy tài chính trong nền kinh tế bị trì hoãn quá lâu. Sau hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Trung Quốc đã bạo tay trong chi tiêu và đẩy tổng nợ trong nền kinh tế lên tới trên 250% GDP.

Đáng chú ý, các khoản nợ xấu chủ yếu đến từ nợ doanh nghiệp (150% GDP), không phải hộ gia đình (50% GDP), và chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước với các khoản vay được tài trợ bởi các ngân hàng do Chính phủ kiểm soát. Điều này cho phép Nhà nước quản lý nợ xấu. Về cơ bản, Chính phủ có thể phân tán gánh nặng này ra trong nhiều năm.

Triển vọng

Chúng tôi tin rằng chính sách tiền tệ có thể sẽ được nới lỏng khi nền kinh tế ngày càng suy yếu. Điều này có thể giúp thị trường Mỹ tăng thêm một thời gian nữa. Tuy nhiên, một nền kinh tế yếu dần dự kiến sẽ cần sự nới lỏng chính sách tiền tệ. Điều này có thể giúp TTCK của Mỹ có thể tăng thêm một thời gian nữa. Tuy nhiên theo một số nhà kinh tế, bao gồm FT’s Martin Wolf, tin rằng tác động của chính sách tiền tệ đã kết thúc.

Tóm lại, các nhà đầu tư có thể gia tăng tỷ trọng phân bổ vào thị trường mới nổi do chúng tôi tin rằng thời kỳ tăng trưởng vượt bậc của thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế Mỹ không thể kéo dài mãi và đã đi vào giai đoạn cuối. 2018 là năm không mấy tốt đẹp đối với cổ phiếu châu Á do chiến tranh thương mại và chính sách tiền tệ thắt chặt hơn tại châu Á (bao gồm cả ở Trung Quốc) và Mỹ. Như đã đề cập trước đó, thị trường đang nhìn thấy cơ hội từ sự đảo chiều của chính sách tiền tệ và giải pháp cho vấn đề thương mại.

Đó là khởi đầu tốt nhưng nên lưu ý đây vẫn chỉ là những ngôn từ đồn thổi và thị trường cần một hành động rõ ràng. Tuy nhiên, với việc lao dốc trong năm ngoái, chúng tôi nhận thấy cơ hội đang hiện ra tại thị trường Châu Á, lớn hơn bất kể khu vực nào khác trên thế giới. Yếu tố định giá, mặc dù tăng so với cuối năm trước, nhưng vẫn tương đối rẻ.

7

Tất cả các yếu tố cần thiết cho sự tăng trưởng bền vững dài hạn đều hiện hữu ở châu Á và các nhà đầu tư có thể tìm thấy cơ hội tại nhiều quốc gia khác nhau và ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Nền tảng vĩ mô vượt trội so với mức bình quân thế giới và chắc chắn các nước phương tây bắt đầu hiểu rằng lục địa này đang mở cửa hơn và trở thành một phần của quá trình toàn cầu hóa vào thời điểm Châu Âu và Mỹ đang đối mặt với “khủng hoảng bản sắc”

Chúng tôi đặc biệt hào hứng với triển vọng dịch chuyển sản xuất từ Bắc Á sang Đông Nam Á và đặc biệt là đến Việt Nam, một nền kinh tế sẵn sàng cho sự tăng trưởng cao

CHỈ SỐ VĨ MÔ THẾ GIỚI THÁNG 4

8

9

10

KINH TẾ VIỆT NAM

Hoạt động sản xuất nhìn chung vẫn tích cực

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4 tăng 9,3% YoY, trong đó khai khoáng tăng 2% YoY, chế biến chế tạo tăng 10,5% YoY và sản xuất, phân phối điện tăng 9,4% YoY. Tính chúng 4 tháng đầu năm, chỉ số này tăng 9,2% YoY, thấp hơn cùng kỳ 2018 (10,7% YoY) nhưng cao hơn các năm trước đó.

Nhìn chung, hoạt động sản xuất toàn ngành công nghiệp vẫn tăng trưởng khá tốt. Hai trụ cột chính, gồm 1) Sự dịch chuyển đơn hàng xuất khẩu từ Trung Quốc đang thúc đẩy hoạt động sản xuất sản phẩm đồ gỗ, dệt may và máy móc, thiết bị, 2) Các đại dự án lọc dầu Nghi Sơn và sản xuất gang thép Formosa vận hành từ giữa năm trước nên sẽ đóng góp tích cực vào kết quả tăng trưởng, ít nhất về mặt số liệu cho tới hết quý 2/2019

Bên cạnh đó, chúng tôi ghi nhận những đóng góp tích cực từ hoạt động khai khoáng, gồm khai thác than; khai thác quặng và khoáng sản. Đối với mặt hàng than, nhu cầu than cho sản xuất điện, xi măng, phân bón hoá chất cùng với sự chênh lệch giá than trong nước và giá than nhập khẩu ở mức cao góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất của ngành này. Theo báo cáo từ Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), sản lượng than khai thác trong quý 1/2019 đạt gần 10,8 triệu tấn, tăng hơn 11% YoY. Bên cạnh đẩy mạnh sản xuất trong nước, các nhà cung cấp vẫn phải nhập khẩu than, đặc biệt từ Indonesia, để pha trộn nhằm đảm bảo nguồn cung than đạt chất lượng cho ngành điện

Ngoài ra, hoạt động khai thác quặng và khoáng sản, đặc biệt sản phẩm quặng sắt từ Mỏ Quý Sa, Lào Cai, được đẩy mạnh trong thời gian gần đây khi Bộ Công Thương cho phép xuất khẩu hơn 300 nghìn tấn quặng sắt sang thị trường Trung Quốc. Đáng chú ý, công ty khai thác là Công ty TNHH Khoáng sản và luyện kim Việt Trung (VTM), một trong 12 đại dự án thua lỗ của ngành này. Trong bối cảnh mặt bằng giá quặng sắt thế giới tăng cao, đây cũng là một trong những giải pháp của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn và vực dậy doanh nghiệp này.

Về ngành sản xuất sản phẩm điện tử và linh kiện, kết quả cũng chưa khả quan hơn khi chỉ số sản xuất công nghiệp tại Bắc Ninh giảm 11,9% YoY còn Thái Nguyên tăng khiêm tốn 7,3% YoY trong 4 tháng đầu năm. Xét riêng sản phẩm điện thoại, điện thoại có giá dưới 3 triệu và trên 6 triệu tăng khá trong khi điện thoại giá trong khoảng 3-6 triệu giảm.

Cuối cùng, tốc độ tăng trường ngành sản xuất và lắp ráp xe có động cơ đạt 18,6% YoY có phần sụt giảm so với 2H2018 trong bối cảnh lượng ô tô nhập khẩu tăng cao đột biến. Trong 4 tháng đầu năm, giá trị nhập khẩu ô tô nguyên chiếc đạt 2,4 tỷ USD, tăng 95,6% YoY. Đáng chú ý, lượng ô tô nhập khẩu từ thị trường ASEAN và EU lần lượt tăng 620% YoY và 715%.

11

Lạm phát: Cẩn trọng điều tiết

Chỉ số CPI tháng 4 tăng 0,3% MoM và 2,9% YoY. Trong đó, nhóm giao thông tăng mạnh nhất do 2 đợt điều chỉnh giá xăng và nhu cầu đi lại trong dịp lễ. Việc tăng giá điện vào cuối tháng 3 cũng đẩy nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,6% MoM. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉsố giá tiêu dùng chỉ tăng 2,7% YoY, mức thấp nhất trong 3 năm gần đây.

Mặc dù lạm phát nhìn chung vẫn nằm trong tầm kiểm soát sau 4 tháng đầu năm nhưng chúng tôi đánh giá áp lực tăng lạm phát trong các tháng tiếp theo vẫn còn rất rõ nét đến từ 3 mặt hàng thiết yếu, giá xăng dầu; viện phí; và giá thịt heo.

Cụ thể, giá xăng dầu bán lẻ trong nước đang có xu hướng tăng nhanh trong các đợt điều chỉnh gần đây. Kể từ sau kỳ nghỉ lễ, giá xăng RON 95 đã tăng trên 25% YTD. Mặc dù bình quân giá dầu thô thế giới đang thấp hơn so với cùng kỳ 2018, giá nguyên liệu này vẫn đang trong xu hướng hồi phục mạnh do nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC và lệnh trừng phạt từ Mỹ lên Iran, Venezuela. Đáng chú ý hơn là việc Quỹ bình ổn xăng dầu của Việt Nam đang dần cạn kiệt. Theo ghi nhận, số dư quỹ tại 2 doanh nghiệp phân phối xăng dầu lớn, Petrolimex và PVOil đang bị âm. Do đó, áp lực tăng giá bán lẻ trong nước trong các tháng tới sẽ rất lớn.

Bên cạnh đó, chúng tôi nhấn mạnh nỗ lực kiểm soát lạm phát kỳ vọng của Chính phủ khi trong 4 tháng đầu năm, viện phí gần như ít thay đổi. Đây cũng là nguyên nhân chính giúp lạm phát bình quân 4 tháng đầu năm giữ ở mức thấp. Nhìn lại số liệu, chi phí y tế đã đóng góp gần 50% tổng mức tăng giá tiêu dùng nói chung trong 4 tháng đầu năm 2017-2018. Con số này trong năm 2019 chỉ trên 1%. Tuy nhiên, lộ trình tăng viện phí chưa kết thúc.

Cuối cùng, giá thịt heo dần ổn định và hồi phục sau giai đoạn lao đao trước đó do ảnh hưởng từ dịch tả lợn Châu Phi. Như đã đề cập trong 2 tháng trước, giá heo sẽ giảm khi dịch bệnh bùng phát do lo ngại của người dân và hồi phục, tăng mạnh trở lại khi nguồn cung sụt giảm. Theo Tổng cục thống kê, đàn lợn cả nước giảm 0,8% YoY. Tuy nhiên, vấn đề nguồn cung có thể phức tạp hơn do trong 2 năm gần đây, ngành chăn nuôi heo liên tục chao đảo do dịch bệnh và giá giảm sâu. Người nông dân cẩn trọng hơn khi tái chuồng. Nhìn sang Trung Quốc, theo dự báo của Rabobank, dịch tả lợn Châu Phi khiến tổng nguồn cung heo nước này giảm 25-35% và giá heo tại đây cũng tăng vọt.

12

Tỷ giá: NHNN mua ròng 8,5 tỷ USD

Kể từ đầu năm, áp lực lên các đồng tiền mới nổi và đang phát triển nhìn chung không lớn. Tỷ giá giao dịch USDVND gần như ít thay đổi trong khi một số đồng tiền khác như CNY tăng giá trở lại so với đồng USD.

Nhìn chung, chúng tôi ghi nhận “sự yên bình” lạ thường trên thị trường ngoại hối. Tuy nhiên, sự yên bình đó không đồng nghĩa với sự an toàn. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang nỗ lực mua vào ngoại tệ để gia tăng dự trữ ngoại hối sau giai đoạn “xả quỹ” cuối năm trước. Theo công bố, NHNN đã mua được 8,5 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm và đưa dự trữ ngoại hối lên trên 65 tỷ USD. Đây có thể là con số mua ròng ấn tượng nhất đã từng được thực hiện chỉ trong một thời gian ngắn. Do nhà điều hành hiểu rõ quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam thấp hơn tương đối so với các nước trong khu vực. Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997/1998, các nước Đông Nam Á hiểu được vai trò và đẩy mạnh tích luỹ dự trữ ngoại hối. Họ coi đó như tấm khiêng giúp duy trì ổn định vĩ mô khi hội nhập với thế giới. Và rõ ràng Việt Nam mới chỉ thực hiện tốt điều đó trong các năm gần đây.

Chúng tôi cho rằng sự thận trọng là điều cần thiết khi trạng thái tĩnh hiện tại vẫn khá mỏng manh. Có 3 con số mang ý nghĩa cảnh báo cần được quan tâm. Đầu tiên, chỉ số USD, đo lường sức mạnh đồng bạc xanh, đang ở quanh mức đỉnh do số liệu kinh tế Mỹ tốt hơn tương đối so với kỳ vọng và phần còn lại của thế giới. Thứ hai, Chính quyền Tổng thống Trump mới đây công bố có thể tăng thuế từ 10% lên 25% đối với 200 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Đàm phán thương mại vẫn đang diễn ra và bất cứ rạn nứt nào cũng có thể khiến thị trường biến động hơn. Cuối cùng, thặng dư thương mại của Việt Nam đang giảm mạnh khi nhu cầu nhập khẩu tăng nhanh hơn nguồn thu từ xuất khẩu. Bên cạnh mặt hàng máy móc thiết bị để phục vụ các dự án lớn, nhập khẩu hàng tiêu dùng, đặc biệt ô tô và linh kiện, tăng đột biến. Bên cạnh đó là dầu thô, than đá.

Trong bối cảnh một lượng tiền đồng lớn được đưa ra nền kinh tế, việc NHNN liên tục hút ròng qua kênh Thị trường mở (OMO) và Kho bạc Nhà nước (KBNN) đẩy mạnh phát hành trái phiếu ngay trong thời điểm đầu năm góp phần vào việc kiểm soát dòng tiền trong hệ thống. Với kế hoạch huy động 80 nghìn tỷ trong quý 2, khả năng KBNN sẽ hút về gần 150 nghìn tỷ đồng thông qua công cụ Trái phiếu Chính phủ (TPCP) trong nửa đầu năm 2019

Từ đây, câu chuyện huy động nhiều nhưng giải ngân thấp vẫn là vấn đề nhức nhối. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công vẫn chậm chạp, chỉ đạt trên 15% kế hoạch trong quý I/2019. Lượng tiền gửi của KBNN tại hệ thống ngân hàng thương mại tiếp tục được sử dụng như một công cụ điều tiết thanh khoản thị trường. Tăng trong quý 4/2018 và giảm đột ngột trong quý 1/2019. Vấn đề giải ngân vốn đầu tư công có thể sẽ tăng từ quý 3 khi các dự án cơ sở hạ tầng lớn đi vào xây dựng và Quốc hội thông qua Luật đầu tư công sửa đổi trong kỳ họp cuối tháng 5 này

13

( vds ) 

 

 

hotline