Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo Vĩ Mô tháng 02-2018

Được đăng vào 02-02-2018

Lợi tức trái phiếu tại các nền kinh tế lớn bắt đầu tăng trong năm 2018?

Đồ thị phía dưới đây nhắc nhở chúng ta về khả năng lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đang thoát đáy. Nếu thành sự thật, sự chuyển động này sẽ báo hiệu dấu chấm hết cho kỷ nguyên giảm phát, đây là tín hiệu tốt cho các tài sản tài chính toàn cầu. Chỉsố S&P 500 chạm đáy ở mức 102 điểm vào tháng 8/1932 (hiện tại quanh mức 2.800 điểm) và lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã đạt đỉnh 16% trong tháng 9/1981.

Lợi tức trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm

1

Chúng tôi cũng ghi nhận xu hướng tương tự tại các nền kinh tế lớn trên thế giới như Nhật Bản và Châu Âu khi lợi tức trái phiếu các kỳ hạn đã tiệm cận biên dưới của kênh xu hướng. Lợi tức trái phiếu chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm đã tăng từ -0,01% (tháng 9/2017) lên 0,08% (hiện tại), qua đó gợi những kỷ niệm về mức lợi tức 1,5% ghi nhận vào năm 2008. Lợi tức trái phiếu chính phủ Đức cũng đã tăng gấp đôi trong vài tháng qua và nhìn xa hơn số liệu này đã đạt 0,4% vào thời điểm hiện tại, cao hơn nhiều so với giai đoạn âm trong năm 2016.

Chỉ số đo lường lạm phát kỳ vọng 5 năm của Mỹ cũng đang phát đi tín hiệu rằng mặt bằng giá hàng hóa sẽ gia tăng và duy trì tốc độ quanh mức 2% trong năm 2018, khá khác biệt so với thay đổi trong giai đoạn 2015-2016 (xem đồ thị bên dưới).

 Lạm phát kỳ vọng 5 năm của Mỹ (%)

2

Giá nhập khẩu tại Mỹ đã tăng 3% trong năm 2017, sau khi đã tăng 2% năm trước đó. Đáng chú ý, bước giá tăng trong năm 2017 cũng là mức tăng lớn nhất kể từ năm 2011 (+8%). Rõ ràng, đồng Dollar là một nhân tố quan trọng trong bức tranh trên khi chỉ số US Dollar đã giảm gần 10% trong năm 2017.

Nếu lợi tức trái phiếu đang bắt đầu gia tăng, tác động lên thị trường cổ phiếu toàn cầu sẽ rất đáng báo động do mối tương quan chặt chẽ với phần bù rủi ro cổ phiếu. Mặc dù vấn đề lạm phát chưa quá nghiêm trọng trên quy mô toàn cầu nhưng chúng tôi cho rằng thị trường tài chính đang phản ảnh một phần diễn biến trên vào giá tài sản. Giá tài sản đã tăng trong 7-8 năm trở lại đây và được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng này. Xuyên suốt lịch sử, chúng ta đều biết rằng chu kỳ tăng của thị trường cổ phiếu thường kéo dài trong khoảng thời gian đó.

Chúng tôi không cho rằng lạm phát sẽ trở thành một vấn đề nóng trên quy mô toàn cầu trong năm 2018 nhưng dường như lạm phát đã tới điểm chuyển mình. Do đó, chúng tôi đánh giá cao khả năng xảy ra sự phân bổ một phần tài sản vào trái phiếu tại các nước trong nhóm G7. Nhà đầu tư nên ghi nhớ rằng các quỹ hưu trí tại Mỹ đã giảm tỷ lệ sở hữu trái phiếu kể từ năm 1990. Trung Quốc hiện đang là quốc gia nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ nhiều nhất (loại trừ Ngân hàng Trung Ương Mỹ) với giá trị khoảng 1,2 nghìn tỷ USD. Liệu họ sẽ chấm dứt việc mua trái phiếu kho bạc Mỹ? Thật khó để kết luận nhưng nếu điều đó thành sự thật, lợi tức các kỳ hạn chắc chắn sẽ gia tăng.

Chúng tôi có thể nói rằng, trong bối cảnh đồng US Dollar suy yếu và lợi tức trái phiếu toàn cầu, đặc biệt các nước G7, gia tăng, xu hướng dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán mới nổi tại khu vực Châu Á sẽ tiếp tục ổn định và quy mô vốn có thể tiếp tục gia tăng. Đây là dấu hiệu tích cực cho thị trường chứng khoán Việt Nam và các nước ASEAN đặc biệt khi các quốc gia này hướng tới phát triển quỹ hưu trí.

TRIỂN VỌNG VĨ MÔ VIỆT NAM - ĐỊNH HÌNH TƯƠNG LAI

Khép lại một năm kinh tế nhiều thăng trầm, Việt Nam bước sang năm 2018 với kỳ vọng vào một “Bước chuyển mình thần kỳ” sau kết quả tăng trưởng GDP ngoạn mục 6,8% trong năm 2017, vượt mục tiêu tăng trưởng 6,7%/năm do Quốc hội đề ra và đây cũng là mức tăng cao nhất trong khối ASEAN. Đứng dưới góc nhìn khách quan, chúng tôi đánh giá Chính phủ đã thể hiện những nỗ lực rất đáng ghi nhận nhằm cải cách và kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

Vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư ngay từ đầu năm là lãi suất. Nhìn lại diễn biến lãi suất 2017, chi phí vay ngân hàng của doanh nghiệp sản xuất thông thường nhìn chung duy trì ổn định ở mức thấp và chưa ghi nhận sự cắt giảm đáng kể nào ngay cả khi Ngân hàng nhà nước (SBV) quyết định cắt giảm 0,25% một số lãi suất điều hành và mặt bằng lợi tức trái phiếu Chính phủ giảm xuống mức thấp. Có chăng, đó chỉ là sự hỗ trợ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong 5 lĩnh vực ưu tiên theo quy định của Chính phủ khi lãi suất cho vay tối đa các kỳ hạn ngắn giảm 0,5%/năm.

Năm 2018 có thể đánh dấu những thay đổi lớn trong nỗ lực cắt giảm lãi suất trên thị trường, tốt hơn so với kỳ vọng trước đó của chúng tôi, khi Ngân hàng nhà nước (NHNN) chính thức giảm lãi suất cho vay trên thị trường mở (OMO) từ 5%/năm xuống 4,75%/năm sau 5 năm giữ nguyên. Đây chính là tín hiệu rõ ràng nhất từ NHNN về một chính sách tiền tệ nới lỏng do thị trường OMO được xem như “van nước” của nền kinh tế điều tiết lượng tiền ra vào trong lưu thông. Theo NHNN, việc sử dụng mạnh tay nghiệp vụ này sẽ giải quyết tình trạng một số Tổ chức tín dụng (TCTD) dư tiền trong hệ thống ngân hàng nhưng không đẩy vốn ra được mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn trong khi lại có nhiều Ngân hàng thương mại (NHTM) nhỏ thiếu thanh khoản. Do đó, thông qua việc phát hành tín phiếu với lãi suất hấp dẫn để hút lượng vốn khả dụng dư thừa tại các NHTM lớn, lượng tiền thu về có thể được NHNN điều hòa trở lại các NHTM nhỏ với mức chi phí vốn trên thị trường OMO thấp hơn, 4,75%/năm.

Bên cạnh nguồn vốn vay ngân hàng truyền thống, chúng tôi đánh giá các doanh nghiệp (DN) quy mô lớn vẫn có thể tiếp cận nguồn vốn vay mượn có chi phí hấp dẫn trên thị trường vốn, đặc biệt thị trường trái phiếu khi lợi tức trái phiếu chính phủ (TPCP) liên tục giảm và tạo nền tảng giảm lợi tức trái phiếu doanh nghiệp. Trong thời gian qua, mặt bằng lợi tức trái phiếu chính phủ đã liên tục giảm tại hầu hết các kỳ hạn và lãi suất phát hành TPCP bình quân đã giảm từ 6,28% năm 2016 xuống 6,21% năm 2017. Điều này đạt được do 1) Lạm phát được kiểm soát dưới ngưỡng 4%, 2) Chỉ số đo lường rủi ro của Việt Nam, 5Y CDS, kéo dài xu hướng giảm kể từ năm 2014 và 3) Dòng vốn từ khối ngoại với mục tiêu “săn lùng” tài sản có lợi tức cao. Như kết quả tất yếu, chúng tôi đánh giá các doanh nghiệp có nền tảng tốt sẽ tiếp cận được các nguồn vốn với chi phí hấp dẫn trên thị trường trái phiếu

Ngoài ra, với chúng tôi, năm 2018 chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn khi chứng kiến hàng hoạt các sự kiện sẽ định hình bức tranh tăng trưởng dài hạn của Việt Nam. Cụ thể:

1. Năm 2018 ghi nhận quy mô thoái vốn lớn nhất lịch sử khi có tới 181 DN sẽ thoái vốn, chiếm trên 70% tổng số DN trong kế hoạch thoái vốn của Chính phủ giai đoạn 2018-2020. Trong bối cảnh tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các DN hậu cổ phần hóa vẫn rất cao và gần 60% trái phiếu trong nước sẽ đáo hạn trong 4 năm tới, chúng tôi ghi nhận những nỗ lực đáng ghi nhận của Chính phủ nhằm tháo gỡ các khó khăn về chính sách nhằm tận dụng môi trường kinh tế thuận lợi trên quy mô toàn cầu. Bức tranh kinh tế thế giới được dự báo sẽ tiếp tục tích cực trong năm 2018 và chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ chỉ bước vào giai đoạn đầu với mặt bằng lãi suất vẫn thấp.

2. Các nhà lập pháp Việt Nam sẽ có một năm bận rộn với kế hoạch cải cách thuế trên diện rộng. Đáng chú ý nhất là đề xuất tăng thuế tiêu dùng (gồm thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt) và điều chỉnh thuế thu nhập (thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân) do áp lực nợ công tăng cao. Mới đây, Bộ Tài Chính tái đề xuất tăng thuế VAT từ 10% lên 11% trong năm 2019 thay cho mức tăng lên 12% trước đó. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, việc tăng thuế tiêu dùng có thể sẽ tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế khi tiêu dùng đóng góp trên 70% vào GDP Việt Nam. Bên cạnh đó, hoạt động của nền kinh tế ngầm, ước đạt 15,1% GDP, có thể sẽ sôi động hơn. Dưới góc nhìn vi mô, các ngành chủ đạo như tiêu dùng – bán lẻ và bất động sản là những ngành chịu tác động tiêu cực rõ nét nhất.

3. Thông qua đề án phát triển các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, gồm Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Nhìn lại lịch sử 30 năm phát triển của Việt Nam, tăng trưởng GDP trung bình 10 năm liên tục giảm từ 7,4%/năm (1990-1999); 7,0% (2000-2009) và 6,2% (2010-nay) khi hiệu quả từ các mô hình như Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế mở,…. yếu đi và đà tăng trưởng của nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào một số DN FDI lớn. Các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt chứa đựng những hi vọng về một động lực tăng trưởng mới của Việt Nam. Tại đây, các ngành nghề được ưu tiên tập trung vào một số lợi thế so sánh tương đối của Việt Nam, gồm logistics và du lịch. Dựa trên lộ trình phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, du lịch nghỉ dưỡng, trung tâm thương mại, cảng biển và các dịch vụ hậu cần,…sẽ là các lĩnh vực được hưởng lợi.

4. Năm 2018 sẽ chứng kiến quá trình đàm phán hàng loạt các hiệp định thương mại song và đa phương. Ngay từ đầu năm, dự kiến các quốc gia thành viên của CPTPP sẽ nhóm họp tại Nhật Bản nhằm tiếp tục xử lý các vấn đề chưa đạt được đồng thuận cũng như tiến hành rà soát pháp lý để sớm kết thúc đàm phán. Trường hợp tích cực nhất, chúng tôi cho rằng CPTPP có thể sẽ được ký kết trong năm 2018. Trái ngược, hiệp định đa phương RCEP khả năng tiếp tục trì hoãn khá lớn khi bất đồng giữa các nước vẫn khá lớn, đặc biệt liên quan đến yêu cầu mở cửa lĩnh vực đầu tư của Trung Quốc. Trong khi đó, dù đã kết thúc đàm phán nhưng hiệp định FTA Việt Nam – EU (EVFTA) vẫn chưa thể đi vào thực thi. Mới đây, phía EU đề xuất tách riêng nội dung về bảo hộ đầu tư thành một hiệp định riêng, được gọi là Hiệp định bảo hộ đầu tư. Nội dung hiệp định mới này bao gồm bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư, sẽ được phê chuẩn của Nghị viện châu Âu và Nghị viện các nước thành viên Việt Nam. Nhìn rộng ra bức tranh thương mại toàn cầu, đàm phán Brexit, tái đàm phán NAFTA, FTA Nhật Bản – EU, FTA Hàn Quốc – Mỹ,…là những điểm nhấn trong năm nay.

Về rủi ro, chúng tôi đưa ra một số cảnh báo:

• Dòng vốn tín dụng chảy sang các khu vực rủi ro cao như thị trường nhà đất. Theo khảo sát của chúng tôi, tại Hồ Chí Minh, giá nhà đất tăng khá mạnh tại một số điểm nóng như Quận 9, Thủ Đức, Gò Vấp,…do thông tin xây dựng cơ sở hạ tầng. Đây cũng là diễn biến chung tại các quận, huyện xung quanh Hà Nội. Ngoài ra, diễn biến giá đất tại thành phố loại I và II hay các khu vực được quy hoạch như quanh sân bay Long Thành, các đơn vị hành chính – kinh tế,…cũng được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo báo cáo từ Ban Kinh Tế Trung Ương, dư nợ cho vay mua nhà đã tăng 75% YoY trong năm 2017, tương ứng khoảng trên 12 tỷ USD. Tuy nhiên, do quy mô tiêu thụ căn hộ tại Hà Nội và Hồ Chí Minh chỉ đạt 60.000-70.000 căn hộ/năm, tương đương 8-9 tỷ USD. Với tỷ lệ vay vốn ngân hàng phổ biến ở mức 50%-70% tổng giá trị căn hộ thì một lượng lớn tín dụng chảy sang khu vực bất động sản nhà đất. Đáng chú ý, bong bóng đầu cơ trên thị trường bất động sản nhà đất sẽ rất kho để dập tắt nếu đã hình thành và khả năng can thiệp của cơ quan nhà nước cũng tương đối hạn chế.

• Chủ nghĩa bảo hộ chuyển sang giai đoạn mới khi hàng loạt các hiệp định thương mại song phương và đa phương phải tái đàm phán. Là một nền kinh tế có độ mở cao và chịu tác động mạnh từ hoạt động xuất-nhập khẩu của khối DN FDI, Việt Nam được dự báo là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng mạnh nếu quan hệ thương mại toàn cầu trở nên tiêu cực. Hiện tại, hai đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, Hàn Quốc và Mỹ đang tiến hành tái đàm phán hiệp định thương mại song phương KORUS FTA. Chúng tôi nhấn mạnh Hàn Quốc lần đầu tiên vượt qua Trung Quốc để trở thành quốc gia cung cấp nhiều hàng hóa, máy móc thiết bị nhất cho Việt Nam. Trong khi đó, Mỹ vẫn đang là quốc gia nhập khẩu nhiều hàng hóa từ Việt Nam nhất trong số các đối tác thương mại.

Tóm lại, môi trường kinh doanh trong nước sẽ tiếp tục được cải thiện dựa trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định. Sự chuyển động của nền kinh tế gắn với 1) Đa dạng hóa nguồn huy động vốn của các doanh nghiệp thông qua thị trường vốn, 2) Đẩy mạnh quá trình thoái vốn và thúc đẩy các doanh nghiệp quy mô lớn niêm yết/đăng ký giao dịch để tăng quy mô có thể đầu tư khi dòng vốn lớn từ bên ngoài chảy vào, 3) Mở cửa thị trường bán lẻ và phân phối sản phẩm, đặc biệt lĩnh vực xăng dầu và 4) Kiểm soát chặt chẽ giá cả hàng hóa nhằm kiềm chế lạm phát và hướng tới mặt bằng lãi suất cạnh tranh với các nước ASEAN.

Dự báo một số chỉ tiêu vĩ mô năm 2018

3

TRIỂN VỌNG TTCK 2018 - CHỚ THẤY SÓNG CẢ MÀ NGÃ TAY CHÈO

Nhìn lại năm 2017

Ngay cả những nhà đầu tư lạc quan nhất cũng không thể nghĩ đến kịch bản cả 2 chỉ số chứng khoán liên tục bứt phá với mức tăng lần lượt 48% và 46% cho VNIndex và HNXIndex. Tăng trưởng EPS của VNIndex rất tốt ở mức 19,6% song song với việc mức PE của thị trường tăng 17%.

4

Nhìn lại năm 2017

Ngay cả những nhà đầu tư lạc quan nhất cũng không thể nghĩ đến kịch bản cả 2 chỉ số chứng khoán liên tục bứt phá với mức tăng lần lượt 48% và 46% cho VNIndex và HNXIndex. Tăng trưởng EPS của VNIndex rất tốt ở mức 19,6% song song với việc mức PE của thị trường tăng 17%.

Một số đặc điểm của thị trường năm 2017 có thể nhận thấy đó là:

5

Thứ nhất, các cổ phiếu vốn hóa lớn đóng góp chính vào mức tăng của VNIndex. Điều này thể hiện qua góc nhìn ở nhóm các chỉ số, VN30 – đại diện cho các cổ phiếu vốn hóa lớn tăng điểm tốt nhất, vượt trội so với chỉ số VNIndex. Top 20 cổ phiếu vốn hóa lớn nhất có mức tăng trung bình 73% đóng góp 45% vào mức tăng cho chỉ số VNIndex.

Thứ hai, quy mô vốn hóa thị trường có sự thay đổi đáng kể. Tống vốn hóa của 3 sàn đạt hơn 70% GDP. Ngoài việc một số cổ phiếu vốn hóa lớn niêm yết năm 2017 tác động thì các cổ phiếu sẵn có vẫn giữ vai trò chủ yếu, đóng góp nhiều vào mức gia tăng vốn hóa. Một số cổ phiếu như VNM, VCB, SAB… có sự tăng trưởng vốn hóa đáng kể. Cụ thể như trên sàn HSX, 12,7% vốn hóa đến từ số mã niêm yết mới và 87,3% đến từ các mã đã có sẵn. Đáng chú ý, vốn hóa sàn Upcom tăng mạnh nhất, gấp 6 lần so với năm 2016 nhờ vào việc sàn này ghi nhận thêm 324 trường hợp niêm yết mới, rất chênh lệch so với con số 26 của sàn HSX và 17 của HNX. Nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn niêm yết trên UPCOM như HVN, ACV, LPB, VIB.

2

Thứ ba, thanh khoản bình quân một phiên tăng mạnh 63% trên 2 sàn chính. Trên HSX, nhóm VN30 và VNMid nhận thấy sự cải thiện thanh khoản rõ rệt với mức tăng lần lượt là 55% và 82%. Nhóm VNSML ngược lại ghi nhận mức sụt giảm về thanh khoản. Điều này phần nào phản ánh dòng tiền của nhà đầu tư nhỏ lẻ đã có sự quan tâm hơn đến các cổ phiếu vốn hóa lớn thay vì chỉ tìm kiếm lợi nhuận ở nhóm cổ phiếu vốn hóa vừa như giai đoạn 2015 và 2016. Thanh khoản tăng ngoài dòng tiền nội cũng phải kể đến dòng vốn ngoại. Khối ngoại đã tích lũy ròng hơn 23.000 tỷ đồng trong năm 2017 (chưa tính thương vụ 4,8 tỷ USD từ SAB). Năm 2017 khá đặc biệt khi khối ngoại mua ròng trong cả bốn quý trong khi các năm trước đây thì 7 tháng đầu năm là giai đoạn tích lũy ròng trong khi 5 tháng tiếp theo sẽ là giao dịch mua/bán ròng đan xen.

7

2 quỹ ETF ngoại diễn biến trái chiều. Nếu như quỹ VanEck Vectors Vietnam ETF hút ròng 2,2 triệu USD thì quỹ db x-trackers FTSE Vietnam UCITS ETF lại bị rút ròng 38,9 triệu USD. So với năm 2016, diễn biến của 2 quỹ ETFs rõ ràng đã có sự cải thiện tích cực hơn rất nhiều.

CHIẾN LƯỢC VÀ Ý TƯỞNG ĐẦU TƯ 2018

Năm 2018 là năm thứ ba mà Chính phủ nhiệm kỳ mới thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 5 năm (2016 – 2020), trong đó cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh là những trọng điểm được ưu tiên. Trong giai đoạn đặc trưng như trên, chúng tôi cho rằng thị trường chứng khoán, với vai trò là phong vũ biểu của nền kinh tế, sẽ là kênh đầu tiên phản ánh những chuyển động tích cực trên:

Niềm tin của Nhà đầu tư được củng cố bởi nỗ lực thực hiện cam kết của Chính phủ và sự cải thiện của các biến số vĩ mô. Môi trường kinh doanh tiếp tục được chú trọng cải thiện thông qua các chủ trương bãi bỏ điều kiện kinh doanh của Chính phủ và các bộ ngành. Cụ thể, Nghị định 08/2018/NĐ-CP bãi bỏ khoảng 600/1.200 điều kiện kinh doanh trong ngành công thương. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị bãi bỏ 34% điều kiện kinh doanh và đơn giản hoá phần lớn các điều kiện khá.c Bộ Xây dựng cũng chỉ đạo quyết liệt, không những bãi bỏ điều kiện mà bãi bỏ cả ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Về tăng trưởng kinh tế, RongViet Research dự báo tăng trưởng GDP năm 2018 sẽ đạt 6,7% đối với kịch bản cơ sở, và đạt 7,0% đối với kịch bản tích cực. Các nhân tố đóng góp tích cực bao gồm sự phục hồi mạnh hơn của lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất công nghiệp dự báo tăng trưởng hơn 12% nhờ đóng góp của khu vực FDI (Samsung, Formosa...), khu vực dịch vụ (gồm bán buôn, bán lẻ, tài chính, bảo hiểm, vận tải,...) dự báo sẽ đóng góp trên 50% vào tăng trưởng GDP.

Môi trường lãi suất thấp và tỷ giá ổn định sẽ làm tăng sự hấp dẫn cho các kênh đầu tư có mức sinh lời cao hơn như chứng khoán và bất động sản. Định hướng giảm lãi suất được nhà điều hành thể hiện khá rõ thông qua đợt cắt giảm 0,25 điểm phần trăm lãi suất OMO, cộng với nguồn tiền gửi dồi dào từ Ngân sách Nhà nước và môi trường lạm phát thấp (dự báo khoảng 3,8 – 4% cho năm 2018), chúng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất năm 2018 sẽ chưa có nhiều biến động so với năm 2017. Bên cạnh đó, dự báo Việt Nam sẽ có năm thứ ba liên tiếp ghi nhận thặng dư thương mại, cộng với nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào (~54,5 tỷ USD tính đến giữa tháng 1/2018), NHNN sẽ chủ động hơn trong can thiệp thị trường ngoại hối, giúp tỷ giá USD/VND chỉ dao động nhẹ trong khoảng 1 – 2%. So với kênh đầu tư bất động sản cần có vốn đầu tư cao và hạn chế về thanh khoản thì chứng khoán sẽ là kênh thu hút dòng tiền gửi tiết kiệm tốt hơn

8

Cuộc đua để TTCK Việt Nam được thăng hạng từ cận biên lên mới nổi là cơ hội để tăng sự minh bạch và chất lượng “hàng hóa” trên thị trường và tăng lựa chọn cho nhà đầu tư. Mặc dù không cho rằng Việt Nam sẽ được đưa vào danh sách xem xét thăng hạng trong năm 2018 do còn hạn chế về các tiêu chí định tính, chúng tôi nhìn thấy những nỗ lực hoàn thiện hạ tầng thị trường của nhà điều hành: (1) Hàng hóa cho NĐT đã có thêm chứng khoán phái sinh vào năm 2017 và dự kiến là chứng quyền có bảo đảm vào năm 2018, và (2) Nghiên cứu thực hiện giao dịch trong ngày (T+0), dịch vụ cho quỹ mở, quỹ hưu trí cũng sẽ được đẩy nhanh trong năm 2018. Đây là những chuyển động tích cực và sẽ tăng tính hấp dẫn cho TTCK Việt Nam.

Với những lập luận trên, chúng tôi cho rằng 2018 vẫn là năm khả quan cho TTCK Việt Nam. Không chỉ dựa vào dòng vốn từ NĐT nước ngoài, tỷ suất sinh lợi khoảng 48% của VNIndex trong năm 2017 khiến TTCK trở nên hấp dẫn để lôi kéo kênh tiền gửi tiết kiệm gia nhập thị trường. Đây sẽ là lực cầu đối ứng hấp thụ nguồn cung cổ phiếu vào TTCK, dự báo cũng tăng mạnh không kém trong năm 2018, bao gồm nhóm doanh nghiệp Nhà nước IPO, niêm yết mới, và phát hành thêm

Doanh nghiệp nhà nước dự kiến IPO năm 2018

9

Cẩn trọng với dòng vốn đầu tư từ các quỹ mở và ETF. Cuối năm 2017 đến đầu năm 2018, dòng vốn nước ngoài gián tiếp gia nhập TTCK Việt Nam khá mạnh mẽ thông qua các quỹ đầu tư ETF và quỹ mở. Chính vì vậy, mức độ tham gia của NĐT nước ngoài trên sàn chứng khoán Việt Nam đã tăng từ mức 10 – 11% trong các năm trước lên khoảng 15% vào nửa cuối năm 2017. Chỉ riêng một tháng đầu năm 2018, NĐT nước ngoài đã mua ròng khoảng 8.000 tỷ đồng, tương đương 35% giá trị mua ròng cả năm 2017 (không tính giá trị thoái vốn Nhà nước tại SAB). Do đặc điểm đầu tư riêng biệt của quỹ ETF và quỹ mở là phân bổ danh mục đầu tư tập trung vào nhóm cổ phiếu có tỷ trọng vốn hóa lớn trong rổ VN30, dẫn đến mức định giá PE ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn đã tăng rất mạnh trong những tuần đầu năm 2018. PE nhóm VN30 tại thời điểm cuối tháng 1/2018 vào khoảng 19,4 lần, cao hơn 56% so với PE của nhóm vốn hóa trung bình.

Nhờ hấp lực tốt với dòng tiền, chúng tôi cho rằng phân bổ một phần danh mục đầu tư vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao cho NĐT trong năm 2018. Tuy nhiên, ở mức PE khá cao hiện tại, rủi ro đi cùng ở nhóm này cũng cao tương ứng nếu các quỹ mở đột ngột bị rút vốn. Thay vào đó, NĐT có thể sàng lọc các cơ hội đầu tư tại nhóm cổ phiếu vốn hóa trung bình đang có định giá PE thấp và triển vọng kinh doanh tích cực cho mục tiêu trung – dài hạn. Trong danh mục 46 cổ phiếu (không tính nhóm ngân hàng) mà RongViet Research quan sát thì tổng LNST của nhóm này trong năm 2018 dự báo tăng trưởng khoảng 17%, gần bằng mức tăng trưởng của năm 2017. Riêng nhóm 16 cổ phiếu thuộc nhóm vốn hóa trung bình (tổng vốn hóa hơn 77 ngàn tỷ, gần bằng 50% mức tổng vốn hóa nhóm cổ phiếu vốn hóa trung bình) có LNST tăng trưởng hơn 23%, cao hơn mức tăng trưởng 19% của năm 2017.

10

( vds ) 

 

 

 

hotline