Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo ngành bán lẻ 07-2019

Được đăng vào 10-7-2019

MBS nhận định rằng rằng ngành bán lẻ tại Việt Nam là một cơ hội đầu tư hấp dẫn cho nhà đầu tư nước ngoài cả về đầu tư tài chính hoặc đầu tư để kinh doanh. Việt Nam được hưởng lợi bởi những yếu tố lợi thế như: (1) Cơ cấu dân số vàng; (2) Đất nước đang phát triển với tốc độ tăng trưởng GDP cao và lạm phát ổn định. Những lợi thế này giúp cho ngành bán lẻ có tốc độ tăng trưởng tiêu thụ hơn 10%/năm.

Hơn nữa, Việt Nam còn được biết tới như là: (1) Đất nước có sự tăng trưởng nhanh của tầng lớp trung lưu; (2) tỉ lệ đô thị hóa cao; (3) 40% dân số Việt Nam dưới 24 tuổi. 3 yếu tố này sẽ hỗ trợ cho các chuỗi bán lẻ hiện đại tại VN như PNJ, MWG và FRT có được tốc độ tăng trưởng về lợi nhuận từ 20% - 40%/năm, cao hơn tương đối so với tăng trưởng trung bình ngành.

Tuy nhiên, những chuỗi bán lẻ hiện đại này đang gặp áp lực khi phải cạnh tranh với xu hướng mua hàng trực tuyến. Trong năm 2018, tổng doanh thu bán hàng trực tuyến đạt 6,2 tỷ đô, chiếm khoảng 3,4% tổng doanh thu bán lẻ tại Việt Nam. Cơ cấu dân số của Việt Nam có rất nhiều yếu tố để giúp mảng này có thể tăng trưởng hơn 20%/năm trong vòng tối thiểu 5 năm. Như là: trung bình 1 tháng tiêu dùng cho thương mại điện tử 1 người mới chỉ 700 nghìn đồng.

Yếu tố lo ngại về chất lượng, sự hiện diện của các cửa hàng thật và cơ sở hạ tầng cho vận chuyển còn kém là những rào cản lớn nhất cho thương mại điện tử thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Những trở ngại này sẽ giảm bớt khi đầu tư công của chính phủ khởi động trở lại và những doanh nghiệp lớn như lazada, alibaba, amazon gia nhập thị trường.

Tổng kết, các chuỗi bán lẻ được hưởng lợi từ cơ cấu dân số nhưng đồng thời cũng có rủi ro cạnh tranh từ hình thức kinh doanh thương mại điện tử nên khiến cho triển vọng của các chuỗi này đồng thời có cả tích cực và tiêu cực. Vì vậy, những công ty có cả chuỗi cửa hàng trên toàn quốc và cả kênh bán lẻ trực tuyến sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn tại Việt Nam - gọi là hình thức omni channel.

Khuyến nghị cổ phiếu và giá mục tiêu1

Tổng quan ngành bán lẻ 

Ngành kinh tế quan trọng nhất tại Việt Nam

• Nền kinh tế Việt Nam được định hướng là nền kinh tế xuất khẩu như tiêu thụ nội địa vẫn đóng một vai trò quan trọng. Quy mô toàn thị trường bán lẻ là 142 tỷ USD đóng góp vào 59% GDP cả nước.

• Tuy nhiên các doanh nghiệp niêm yết trên sàn mới chỉ tham gia 1 phần các mảng bán lẻ trị giá khoảng 71 tỷ đô (đóng góp 29.8% GDP cả nước).

• Với tốc độ tăng trưởng ngành bán lẻ luôn cao từ gấp rưỡi đến gấp đôi tăng trưởng GDP cả nước và tỷ trọng lớn trên tổng GDP. Thì đầu tư vào bán lẻ chính là đầu tư vào tương lai nền kinh tế tại Việt Nam.

• Là một trong những thị trường tiêu thụ tiềm năng nhất của thị trường. Các doanh nghiệp tại ngành này luôn có tỉ lệ sở hữu nước ngoài đạt tối đa.

2

4

Tăng trưởng thêm về tầng lớp trung lưu và dân số vàng

• Theo Economist Intelligent dự đoán, tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập hơn 10,000 đô/năm đã tăng từ 12% năm 2016 lên 17% năm 2021. Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng về tầng lớp trung lưu nhanh nhất khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

• Dân số vàng: Hơn 50% dân số Việt Nam đang ở độ tuổi lao động. Hơn 40% dân số có tuổi dưới 24. Là những độ tuổi có nhu cầu tiêu dùng lớn nhất, sẽ quyết định xu hướng tiêu dùng của người Việt.

• Dân số vàng cùng với sự tăng nhanh của tầng lớp trung lưu có nghĩa là sẽ có nhu cầu tiêu dùng nhiều hơn nữa những hàng hóa cơ bản và cao cấp. Cơ cấu dân số không chỉ tăng tiêu thụ các mặt hàng cơ bản mà nhu cầu về những mặt hàng cao cấp cũng sẽ được sử dụng nhiều hơn

5

6

Cơ cấu thu nhập Việt Nam

7

Thay đổi về dân số: tăng thêm số hộ gia đình độc thân, giảm bớt quy mô một gia đình

• Chi phí nuôi con ngày càng đắt đỏ và tỉ lệ phụ nữ phải đi làm để gia tăng thêm thu nhập đã khiến cho quy mô một hộ gia đình tại Việt Nam nhỏ đi. Mục đích chính là để tập trung nhiều điều kiện sống tốt hơn cho con cái mình, hưởng những thức ăn và nền giáo dục tiên tiến hơn.

• Cùng với đó, tỉ lệ người độc thân đã tăng mạnh từ 5.6% năm 2005 lên 11.2% năm 2015. Tỷ lệ người độc thân cao lên khiến nhu cầu tiêu dùng sẽ cao lên ví dụ như: cần nhiều phòng để ở hơn, cần nhiều dịch vụ vui chơi giải trí, nhu cầu làm đẹp tăng, nhu cầu trải nghiệm cuộc sống cũng tăng v..v..

• Không chỉ có người trẻ là nhu cầu tiêu dùng quan trọng của nền kinh tế mà những người cao tuổi cũng sẽ là một lực lượng tiêu dùng bổ sung cho ngành bán lẻ. Trong năm 2000 số người già trên 60 tuổi chỉ khoảng 6.9 triệu người thì đến 2015 đã tăng lên 9.6 triệu người và dự kiến sẽ tăng lên 12.3 triệu người năm 2020, chiếm 12.5% dân số. Người cao tuổi, tuổi thọ cao hơn sẽ làm tăng nhu cầu những mặt hàng gia tăng sức khỏe và có ích cho cuộc sống.

8

Xu hướng đô thị hóa

Mặc dù Việt Nam là nước trong top tỉ lệ đô thị hóa thấp nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, chỉ 35% trong khi ở Phillipines và Thái Lan thì tỉ lệ này lần lượt là 44% và 53%. Nhưng lại là nước có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất, dự đoán hơn 2.6%/năm cho giai đoạn từ 2015 đến 2020. Tốc độ độ thị hóa nhanh là mảnh đất màu mỡ cho ngành bán lẻ.

• Có sự khác biệt lớn trong thị phần ở khu vực nông thôn và thành thị, cụ thể: mô hình các cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống chiếm phần lớn ở nông thôn với thị phần hơn 65%. Chúng tôi dự đoán thị phần của cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống sẽ giảm dần những chỗ cho các loại hình bán lẻ tiên tiến như chuỗi, siêu thị, thương mại điện tử. Lý do đến từ thay đổi thói quen tiêu dùng của người khu vực nông thôn.

• Cụ thể hơn, người nông thôn ưu tiên các yếu tố về giá hơn là chất lượng và dịch vụ, họ tin răng giá bán tại các chuỗi cửa hàng hiện đại đắt hơn ở chợ và cửa hàng truyền thống. Các cửa hàng truyền thống sẽ không còn lợi thế cạnh tranh nữa khi mức sống của người dân tăng lên và họ sẽ quan trọng hơn các yếu tố về chất lượng và dịch vụ. Hơn nữa, giá cả của chuỗi bán lẻ hiện đại không đắt hơn so với các cửa hàng truyền thống. Điều này đã được thể hiện qua sự thành công của các chuỗi điện máy, di động và bách hóa khi mở về khu vực nông thôn.

• Mua sắm trực tuyến sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi thâm nhập vào thị trường nông thôn vì cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn yếu kém dẫn tới chi phí vận chuyển cao và giá cả sẽ không cạnh tranh.

• Các siêu thị vẫn chưa phổ biến ở khu vực nông thôn khi mà 1 tỉnh chỉ mới có 10 siêu thị và 1 big C.

9

Các doanh nghiệp bán lẻ, nội địa hay nước ngoài?

 

Thị trường bán lẻ Việt Nam có sự tham gia của cả nguồn vốn nội và ngoại. 2 doanh nghiệp nội và ngoại sẽ không thực sự cạnh tranh với nhau mà hợp tác với nhau. Đây sẽ là một sự kết hợp hoàn hảo khi mà doanh nghiệp nội có lợi thế về hiểu biết tiêu dùng của người địa phương và giấy phép trong khi doanh nghiệp ngoại có lợi thế về công nghệ và nguồn vốn.

• MBS chia thị trường bán lẻ Việt Nam làm 2 khu vực: (1) khu vực nông thôn và (2) khu vực thành thị.

• Với khu vực nông thôn: cạnh tranh chủ yếu đến từ các cửa hàng nhỏ lẻ truyền thống và chuỗi cửa hàng hiện đại. Các doanh nghiệp nội địa chiếm thị phần chính ở đây, tuy nhiên doanh nghiệp nước ngoài sẽ cải thiện thị phần trong tương lai khi mô hình bán lẻ chuỗi và trực tuyến vươn tới được khu vực nông thôn.

• Với khu vực thành thị sẽ là cạnh tranh giữa các siêu thị, chuỗi bán lẻ hiện đại và thương mại điện tử.

9

Môi trường cạnh tranh

13

Tại sao doanh thu 1 cửa hàng khác nhau giữa các chuỗi ?

Doanh thu từng cửa hàng của các nhà bán lẻ thể hiện sự thành công của một chuỗi bán lẻ hiện đại. Sự khác nhau của doanh thu từng cửa hàng đến từ 4 yếu tố: (1) Giá thành sản phẩm

(2) Chất lượng sản phẩm

(3) Sự đa dạng của sản phẩm

(4) Sự tiện lợi (số cửa hàng, vị trí)

Đối với chuỗi bán lẻ trang sức, các chuỗi này có bao gồm cả doanh thu bán vàng miếng và khó có thể tách riêng doanh thu vàng trang sức ra được. Vì vậy chúng tôi tạm so sánh về lợi nhuận và số cửa hàng để thấy được sự hiệu quả của các chuỗi. Và có thể thấy, số cửa hàng càng lớn thì lợi nhuận của chuỗi càng cao.

15

17

18Sự khác biệt chủ yếu đến từ số lượng cửa hàng

Các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ đều có các tiêu chí chọn vị trí giống nhau (số dân cư, số lượng giao thông đi lại, mức độ giàu có v..v..).

Tuy nhiên công ty có đội ngũ tìm mặt bằng tốt hơn sẽ tìm được nhiều vị trí đẹp trước, dẫn tới nhiều hơn về số lượng cửa hàng. Đội ngũ tìm mặt bằng của MWG và Vinmart đều vượt trội so với các doanh nghiệp bán lẻ khác. Những đội ngũ tìm mặt bằng của satra foods, PNJ, Doji ... ở mức trung bình. Điều này được thể hiện qua bảng số cửa hàng các chuỗi bán lẻ bên cạnh.

20

21

Thương mại điện tử gia tăng với tốc độ tăng trưởng hơn 24%/năm

Tỷ trọng doanh thu thương mại điện tỷ trong tổng doanh thu bán lẻ đã tăng mạnh từ 2.9% năm 2015 lên 4.4% năm 2018 với tốc độ tăng trưởng hơn 24%/năm nhờ có:

• Tăng trưởng số người dùng internet từ 33 triệu người dùng lên 50 triệu người dùng với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 27.3%/năm.

• Tăng trưởng đột biến số người dùng di động từ năm 2005 đến năm 2010. Tao cơ hội cho smart phone bùng nổ và xu hướng sử dụng di động để mua hàng online.

25

26

Công nghệ hỗ trợ cho thương mại điện tử

• Nhưng trang web bán hàng online và mạng xã hội điện tử như Facebook, Lazada đã tiếp cận người dùng nhanh hơn nữa nhờ sự bùng nổ của smart phone. Theo International Data Corporation, số lượng smart phone đã tăng từ 15 nghìn chiếc/năm năm 2015 lên 28 nghìn chiếc/năm năm 2019.

• Hơn nữa, số người dùng Internet của Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh, với hơn 44 nghìn người dùng năm 2016. Theo Economist Intelligence đoán thì số người dùng sẽ đạt 56 nghìn người vào năm 2021, với tốc độ tăng trưởng trung bình 5%/năm.

• Sự bùng nổ của smartphone và mạng xã hội là tiền đề cho thương mại điện tử lên ngôi.

30

Người ta mua gì trên mạng?

Giá trị tiêu dùng thương mại điện tử một người một tháng chỉ dưới 700,000 đồng – một giá trị rất thấp. Cho thấy rằng

(1) Người tiêu dùng thường mua đồ thời trang, đồ ăn, đồ công nghệ online.

(2) Những đồ có giá trị cao vẫn được mua trực tiếp.

• Đồ tươi sống và đồ tạp hóa cũng được mua trực tiếp nhiều hơn

31

32

Điều gì khiến người tiêu dùng không shopping online?

Lo ngại về chất lượng và cảm thấy yên tâm hơn khi có cửa hàng thật (để có thể đổi trả, bảo hành) là 2 yếu tố người tiêu dùng lo ngại nhất khi sử dụng dịch vụ thương mại điện tử. Điều này khiến cho mô hình omni channel là giải pháp vận hành và kinh doanh tốt nhất cho các doanh nghiệp bán lẻ là do: họ vừa có sự tiện lợi của việc mua hàng online nhưng lại đồng thời có sự tin tưởng của khách hàng khi có sự hiện diện của chuỗi cửa hàng tại nhiều nơi.

36

40

Phân tích mô hình 5 forces Micheal Porter

1. Rủi ro người mới gia nhập ngành: Thấp (2) Rất khó cho người mới gia nhập ngành vì 2 lý do: (1) các chuỗi bán lẻ cần sở hữu nội địa 50% vì vậy chuỗi bán lẻ nước ngoài không thể kinh doanh ngành này 1 mình tại Việt Nam. (2) các nhà bán lẻ cần số lượng cửa hàng lớn để có được lợi thế thương mại. Vì vậy người đến trước sẽ có lợi thế hơn nhờ lấy được hết các vị trí đẹp để kinh doanh. Hơn nữa, biên lợi nhuận ròng của nhà bán lẻ là thấp nên họ cần hiểu biết về ngành và người dùng để vận hành trơn tru nếu không sẽ dễ dàng bị lỗ.

2. Khả năng mặc cả của người bán, nhà cung cấp: Thấp (2) Các nhà bán lẻ đồ di động và điện máy có khả năng mặc cả thấp nhất khi làm việc với các nhà cung cấp do những hãng cung cấp đều có thương hiệu rất tốt và được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, nếu như các chuỗi bán lẻ có quy mô đủ lớn thì họ vẫn có thể cải thiện được biên lợi nhuận gộp. Có thể thấy, FRT và MWG là những doanh nghiệp đã từng được hưởng biên lợi nhuận gộp cao lên khi quy mô doanh thu của họ tăng. Đối với nhóm bán lẻ trang sức thì khả năng mặc cả của người bán, nhà cung cấp là thấp vì nhà bán lẻ trang sức chủ yếu nhập vàng miếng và đá quý. Đối với nhóm bán lẻ tạp hóa, khả năng mặc cả của người bán cũng thấp vì các nhà bán lẻ thường làm việc với các nhóm nông dân nhỏ lẻ và rời rạc.

3. Khả năng mặc cả của người mua: Cao (4) Đối với các nhà bán lẻ thì khách hàng là nhóm đối tượng tạo ra nhiều sức ép nhất. Vì chi phí chuyển đổi để thay đổi thói quen mua bán từ MWG sang Coop mart hay Vinmart gần như bằng không. Vì vậy nên giá bán và chăm sóc khách hàng là những diều quan trọng nhất để một doanh nghiệp bán lẻ tồn tại. Càng có nhiều khách hàng thì các nhà bán lẻ mới càng hoạt động tốt.

4. Cạnh tranh giữa các công ty trong ngành: Trung bình (3) Cạnh tranh các công ty trong ngành là tương đối nhiều do có rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ tham gia vào thị trường. Các nhà bán lẻ không chỉ cạnh tranh để giành lấy khách hàng mà còn phải cạnh tranh cả vị trí để bán hàng.

5. Rủi ro thay thế bởi sản phẩm khác: Cao (4) Sản phẩm thay thế khác của chuỗi bán lẻ hiện đại là kênh bán hàng trực tuyến vốn tiện lợi hơn và phù hợp với giới trẻ. Bán hàng trực tuyến sẽ là rủi ro lớn nhất với các công ty bán lẻ thời điểm hiện tại

50

( mbs ) 

hotline