Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Nợ công và thâm hụt ngân sách tạo thêm áp lực đối với phát hành trái phiếu

Được đăng vào 15-10-2016

Nợ công và thâm hụt ngân sách tạo thêm áp lực đối với phát hành trái phiếu

Thị trường sơ cấp chuyển hướng tập trung từ trái phiếu ngắn hạn sang trái phiếu dài hạn với kỳ hạn 30 năm, chiếm hơn một nửa lượng chào thầu

 Nguồn cung trái phiếu sơ cấp giảm mạnh trong khi nhu cầu trái phiếu vẫn ở mức cao do thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng.  Trái phiếu kỳ hạn 5 năm trở lên ít hấp dẫn với NĐT hơn với lãi suất thắng thầu thấp hơn.

 Ngoại trừ kỳ hạn 15 và 30 năm, lợi suất giảm trong tất cả các kỳ hạn và dự kiến giảm sâu trong các phiên đấu thầu tới do nhu cầu cao và nguồn cung giảm.

 Áp lực từ nợ công gia tăng, với thâm thụt ngân sách 2016 có khả năng sẽ cao hơn dự kiến, khiến Chính phủ phải nâng kế hoạch phát hành trái phiếu cả năm thêm 31 nghìn tỷ đồng (1,4 tỷ USD). Tính đến ngày 14/10/2016, Kho bạc Nhà nước đã hoàn thành 94% kế hoạch phát hành trái phiếu điều chỉnh lần thứ hai.

Nguồn cung sụt giảm làm gia tăng nhu cầu của thị trường thứ cấp

 Hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp diễn ra rất sôi nổi với sự hiện hiện rõ ràng hơn của các trái phiếu kỳ hạn trên 10 năm.

 Lợi suất trái phiếu của tất cả kỳ hạn tiếp tục giảm do thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng, nhưng bắt đầu cho thấy tín hiệu hồi phục.

 Vị thế bán ròng của khối ngoại đã đạt 2,1 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất kể từ đầu năm nay.

Thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng khiến lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức rất thấp

 Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục biến động quanh mức 0,3%-0,4%, nhưng dự kiến sẽ phục hồi vào thời điểm cuối năm do lạm phát và tăng trưởng tín dụng cao hơn.

 Tính đến cuối tháng 09/2016, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 11,74% tính từ đầu năm, nhưng sẽ tăng tốc trong quý 4 và đạt 18% vào cuối năm.

 Ngày 26/09/2016, lãi suất huy động ngắn hạn của 4 ngân hàng lớn của Việt Nam, bao gồm Vietcombank, Vietinbank, BIDV and Agribank đều giảm.

 Trong 2 tuần đầu tiên của tháng 10, Vietcombank, HD Bank và Liên Việt Post Bank công bố giảm lãi suất cho vay.

 Tỷ giá liên ngân hàng vẫn ở mức ổn định dù tỷ giá tham chiếu tăng mạnh.

Thị trường Trái phiếu Thứ cấp

Các kỳ hạn dài, đặc biệt là 30 năm, thống lĩnh thị trường sơ cấp với cầu mạnh

Từ ngày 19/09 đến 16/10, Kho bạc Nhà nước đã phát hành thành công 17.500 tỷ đồng trái phiếu trên thị trường sơ cấp. Tổng giá trị đấu thầu trong bốn tuần qua 19.500 tỷ đồng cho thấy cung trái phiếu trên thị trường sơ cấp giảm mạnh. Cụ thể, giá trị giao dịch trong giai đoạn báo cáo trên chỉ đạt trung bình 4.900 tỷ đồng/tuần, thấp hơn nhiều so với 8.300 tỷ đồng/tuần từ giữa tháng tám đến giữa tháng chín, và 8.900 tỷ đồng/tuần từ đầu năm đến nay. Thanh khoản ngân hàng cao giúp cầu trái phiếu tiếp tục mạnh, khiến tỷ lệ trúng thầu đạt 89,7%, mức cao thứ ba trong tất cả các giai đoạn báo cáo từ đầu năm đến nay.

Thị trường sơ cấp chuyển sang tập trung vào các kỳ hạn dài. Đặc biệt, trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 30 năm chiếm đến 56,4% tổng giá trị chào bán và 62,9% tổng giá trị trúng thầu. Khác với các giai đoạn báo cáo trước, từ giữa tháng chín đến giữa tháng mười, cầu trái phiếu dài hạn mạnh hơn với tỷ lệ trúng thầu các kỳ hạn 20 năm và 30 năm đều đạt 100%. Kỳ hạn 10 năm cũng trở nên hấp dẫn nhà đầu tư hơn khi tỷ lệ trúng thầu lên đến 71,4%, trong khi các giai đoạn báo cáo trước đều chưa đến 25%. Trong số các kỳ hạn dài, kỳ hạn 15 năm có tỷ lệ trúng thầu thấp nhất, 52,4%, cho thấy cầu kỳ hạn này giảm. Nhà đầu tư không ưa chuộng kỳ hạn 5 năm như trước, nên tỷ lệ trúng thầu kỳ hạn này giảm xuống 80% từ 95% trong giai đoạn báo cáo trước. Trái phiếu Chính phủ, với 82% tổng giá trị đấu thầu trong giai đoạn này, vẫn tỏ ra là lựa chọn đầu tư tốt hơn so với trái phiếu Chính phủ bảo lãnh. Trừ kỳ hạn 15 năm, với lợi suất tăng 21 điểm cơ bản do cầu yếu và kỳ hạn 30 năm có lợi suất không đổi, lợi suất tất cả các kỳ hạn khác đều giảm so với các giai đoạn báo cáo gần đây, trong đó lợi suất kỳ hạn 5 năm và 7 năm giảm mạnh nhất, lần lượt 85 và 75 điểm cơ bản, vì cầu mạnh.

1

2

Kho bạc Nhà nước lần hai điều chỉnh kế hoạch phát hành cả năm, qua đó tăng mục tiêu phát hành thêm 31.000 tỷ đồng

Ngày 29/09/2016, Kho bạc Nhà nước đã ban hành kế hoạch điều chỉnh lần hai về việc phát hành trái phiếu năm 2016. Mục tiêu phát hành cả năm được điều chỉnh tăng từ 250.000 tỷ đồng lên 281.000 tỷ đồng. Trừ kỳ hạn 3 năm có mục tiêu phát hành được điều chỉnh giảm 15.000 tỷ đồng, mục tiêu phát hành các kỳ hạn khác đều được điều chỉnh tăng, trong đó điều chỉnh tăng mạnh nhất là kỳ hạn 5 năm (tăng 12.000 tỷ đồng) và 7 năm (tăng 10.000 tỷ đồng). Điều này cho thấy Chính phủ vẫn đang cần huy động vốn thông qua trái phiếu vì hai kỳ hạn này có cầu mạnh nhất. Vào cuối tháng chín, Kho bạc Nhà nước cũng công bố kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ Quý 4/2016. Theo đó, tổng giá trị phát hành là 31.000 tỷ đồng, trong đó kỳ hạn 30 năm có mục tiêu cao nhất 8.000 tỷ đồng, và kỳ hạn 5 năm có mục tiêu thấp nhất 3.000 tỷ đồng. Mục tiêu phát hành Quý 4 thấp hơn nhiều so với các quý trước cho thấy Chính phủ đang giảm dần tốc độ huy động vốn thông qua trái phiếu vì đã gần hoàn tất mục tiêu cả năm.

Tính đến ngày 16/10, Chính phủ đã hoàn tất 94% kế hoạch phát hành cả năm và 48% Quý 4

Trong Quý 3/2016, tổng giá trị phát hành trái phiếu đã vượt mục tiêu 25%, trong đó các kỳ hạn 5 năm, 7 năm, 15 năm, và 30 năm đều vượt mục tiêu. Trong Quý 3, nhà đầu tư ưa chuộng nhất kỳ hạn 7 năm và 30 năm vì các kỳ hạn này đều lần lượt hoàn tất 193% và 164% mục tiêu phát hành. Tính đến giữa tháng mười, Chính phủ đã hoàn tất mục tiêu điều chỉnh lần hai, trong đó các kỳ hạn 3 năm và 30 năm đều vượt mục tiêu. Tuy đến ngày 16/10, phát hành kỳ hạn 20 năm chỉ hoàn tất 45% kế hoạch, Chính phủ vẫn điều chỉnh tăng mục tiêu phát hành kỳ hạn này thêm 2.000 tỷ đồng, cho thấy tại các phiên đấu thầu tới, giá trị chào bán kỳ hạn này có thể sẽ tăng. Hiện kế hoạch phát hành trái phiếu Quý 4 đã hoàn tất 48%, trong đó kỳ hạn 30 năm đã vượt kế hoạch cả quý.

Ngân sách Nhà nước

Hình 5: Ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm

3

Thu ngân sách 9 tháng đầu năm giảm do giá dầu giảm mạnh, khiến thâm hụt ngân sách lên đến 5,01% GDP.

Thu ngân sách tính chung 9 tháng đầu năm đạt 718.300 tỷ đồng, hay 70,8% kế hoạch cả năm và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn so với mức tăng trưởng 7,4% cùng kỳ năm ngoái. Thu trong nước, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng doanh thu, tăng trưởng chậm lại trong 9 tháng đầu năm 2015, trong khi thu ngân sách từ cả dầu thô và xuất nhập khẩu đều tăng trưởng âm. Giá dầu thế giới giảm mạnh đã tác động đáng kể đối với xuất khẩu dầu của Việt Nam, cũng như các doanh nghiệp dầu khí trong nước, khiến thu thuế từ các doanh nghiệp này cũng giảm mạnh

Chi ngân sách từ đầu năm đến nay là 870.500 tỷ đồng, tương đương 68,4% kế hoạch cả năm, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Chi ngân sách vào đầu tư và phát triển so với cùng kỳ năm ngoái tăng 9,1%, cao hơn mức tăng cùng kỳ năm ngoái. Trong 9 tháng đầu năm, Chính phủ đã chi 117.200 tỷ đồng để trả nợ gốc, tăng nhẹ 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái và tương đương 75,6% kế hoạch cả năm. Tuy nhiên, chỉ có 38,8% vốn huy động thông qua trái phiếu Chính phủ được giải ngân, so với 52,3% trong 9 tháng đầu năm 2015.

Thâm hụt tài khóa 3 quý đầu năm tương đương 5,01% GDP và được Chính phủ kiểm soát chặt chẽ. Con số này cao hơn một chút so với cùng kỳ năm 2015 (4,9%) nhưng thấp hơn nhiều so với cùng kỳ các năm 2012-2014 (lần lượt 6,2%, 5,8%, và 7,2%). Tuy nhiên, do khó khăn trong việc thu ngân sách, chi ngân sách dự kiến sẽ tăng trong Quý 4 và ước tính tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu 6,7% Chính phủ đề ra hồi đầu năm, thâm hụt tài khóa/GDP nhiều khả năng sẽ cao hơn so với mục tiêu cả năm của Chính phủ là 4,95%.

4

Nợ công

5

Nợ công Việt Nam dự kiến sẽ vượt mức trần 65% GDP do Chính phủ đề ra vào năm sau.

Nợ công của Việt Nam tăng mạnh từ 56,3% GDP năm 2010 lên 61,3% năm 2015 và dự kiến sẽ lên đến 64,5% năm 2016. Theo báo cáo mới nhất về nợ công của Bộ Tài chính, nợ công của Việt Nam đến cuối năm 2014 là 105,8 tỷ USD, tương đương 58% GDP. Nợ trong nước chiếm 54,6% tổng nợ công và tăng mạnh hơn so với nợ nước ngoài vì chi phí vay từ nước ngoài tăng từ năm 2010, khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình. Nói cách khác, Việt Nam dường như tiếp tục phụ thuộc vào nợ trong nước nhiều hơn so với nợ nước ngoài. Thông tin chi tiết về nợ công 2015 vẫn chưa được công bố, nhưng Bộ Tài chính ước tính nợ công năm ngoái tương đương 61,3% GDP và 94% nợ nước ngoài là vốn vay ODA.

6

Chính phủ dự kiến năm 2016 sẽ vay 20 tỷ USD nợ trong nước và nước ngoài, trong đó gần một nửa thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Trong 9 tháng đầu năm, Chính phủ đã huy động được 16 tỷ USD, trong đó 11 tỷ USD thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ và 4,88 tỷ USD từ nhà đầu tư nước ngoài. Vì thị trường trái phiếu Chính phủ trong nước từ đầu năm đến nay sôi động, kế hoạch phát hành 0,76 tỷ trái phiếu quốc tế và trái phiếu ngoại tệ có thể sẽ không được thực hiện. Chính phủ dự kiến sẽ thanh toán 12 tỷ USD nợ trong năm 2016. Trong 9 tháng đầu năm, Chính phủ đã sử dụng 176.800 tỷ đồng để thanh toán nợ, trong đó 140.200 tỷ đồng nợ trong nước và 36.400 tỷ đồng nợ nước ngoài. Sẽ có khoảng 4 tỷ USD nợ đáo hạn vào 3 tháng cuối năm, khiến Chính phủ lần thứ hai điều chỉnh tăng mục tiêu phát hành trái phiếu cả năm.

Thị trường Trái phiếu Sơ cấp

Thanh khoản hệ thống ngân hàng cao giúp cầu trái phiếu tiếp tục mạnh trên thị trường thứ cấp

Giai đoạn từ giữa tháng chín đến giữa tháng mười, thị trường thứ cấp đặc biệt sôi động với tổng giá trị giao dịch lên đến 148.600 tỷ đồng và giá trị giao dịch trung bình 31.100 tỷ đồng/tuần, cao nhất kể từ đầu năm đến nay. Trong đó, 73% tổng giá trị giao dịch là giao dịch outright. Đáng chú ý, tuy các kỳ hạn 3 năm và 5 năm có thanh khoản cao nhất trên thị trường thứ cấp trong bốn tuần qua với 58,2% tổng giá trị giao dịch nhưng các kỳ hạn trên 10 năm đã trở nên được ưa chuộng hơn với 13,4% tổng giá trị giao dịch, là kết quả của việc chuyển dịch từ các kỳ hạn ngắn sang các kỳ hạn dài trên thị trường sơ cấp trong các tuần qua. Lợi suất tất cả các kỳ hạn giảm mạnh (25 điểm cơ bản đến 79 điểm cơ bản) từ ngày 16/09 đến ngày 14/10, trong đó kỳ hạn 2 năm và 10 năm giảm mạnh nhất do cầu các kỳ hạn này tăng. Thanh khoản ngân hàng cao vẫn là yếu tố chính khiến lợi suất trái phiếu giảm. Lợi suất kỳ hạn 5 năm, sau khi chạm đáy 5% ngày 06/10, tăng dần lên 5,11% vào giữa tháng mười một, là tín hiệu ban đầu cho thấy lợi suất trái phiếu sẽ tăng trở lại trong Quý 4.

Khối ngoại bán ròng trở lại sau một thời gian dài. Khối ngoại tuy chủ yếu mua ròng từ đầu năm đến nay nhưng bán ròng mạnh trên thị trường thứ cấp bốn tuần qua, khiến tổng giá trị bán ròng của khối này là 2.100 tỷ đồng, mức cao nhất trong các giai đoạn báo cáo năm nay. Trong 9 tháng rưỡi qua, khối ngoại đã mua ròng 19.300 tỷ đồng, so với 105 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái.

7

10

Dự báo Thị trường Trái phiếu

Cầu trái phiếu dự báo sẽ mạnh trong ngắn hạn nhưng lợi suất trái phiếu trên thị trường sơ cấp dự kiến sẽ tăng trở lại trong Quý 4/2016

Kế hoạch phát hành trái phiếu sửa đổi lần hai cho phép Kho bạc Nhà nước phát hành nhiều trái phiếu hơn trong Quý 4. Tuy nhiên, việc hoàn tất 94% mục tiêu phát hành cả năm vào giữa tháng mười, và kế hoạch Quý 4 giảm cho thấy cung trái phiếu sẽ tiếp tục giảm trong các tháng tới. Vì phát hành trái phiếu Chính phủ đạt mức cao kỷ lục trong năm nay và vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu đã vượt kế hoạch vay của Chính phủ thông qua kênh này, chúng tôi cho rằng Chính phủ sẽ không tăng mục tiêu phát hành lần thứ ba cho năm nay. Thị trường sơ cấp sẽ tiếp tục tập trung vào các kỳ hạn dài, đặc biệt là 20 năm và 10 năm vì Kho bạc Nhà nước đã chỉ hoàn tất 45% và 68% mục tiêu phát hành các kỳ hạn này. Cầu mạnh đối với các kỳ hạn ngắn 5 và 7 năm sẽ duy trì tỷ lệ trúng thầu các kỳ hạn này ở mức cao. Cầu trái phiếu trên thị trường thứ cấp sẽ tiếp tục mạnh trong các tuần tới nhờ thanh khoản ngân hàng cao. Cầu các kỳ hạn dài trên thị trường thứ cấp có thể sẽ mạnh hơn so với các giai đoạn trước. Tuy nhiên, lợi suất trái phiếu dự kiến sẽ thấp trong ngắn hạn và bắt đầu dần phục hồi vào cuối năm do lạm phát cao và tăng trưởng tín dụng Quý 4 tăng. Chúng tôi tiếp tục dự báo lợi suất kỳ hạn 5 năm vào cuối năm là 6%.

Thị trường Tiền tệ

Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục thấp nhưng dự báo sẽ tăng trở lại khi tăng trưởng tín dụng phục hồi

Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm nhẹ 0,1 điểm % từ 0,4% giữa tháng chín xuống 0,3% giữa tháng mười. Hệ thống ngân hàng tiếp tục duy trì lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp 0,3%-0,4% trong một tháng rưỡi qua do thanh khoản dồi dào. Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng nhẹ lên 0,6%-0,8% vào đầu tháng mười do nhu cầu vốn mạnh để đạt yêu cầu dự trữ vào đầu tháng, nhưng sau đó nhanh chóng giảm trở lại xuống 0,3%. Chúng tôi dự báo lãi suất liên ngân hàng sẽ dao động ở mức thấp 0,3%-0,4% trong ngắn hạn, sau đó tăng vào cuối năm vì sẽ có thêm áp lực do tăng trưởng tín dụng tăng và lạm phát trong Quý 4/2016. Do thanh khoản thị trường dồi dào, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh phát hành tín phiếu để hấp thu vốn dư thừa trên thị trường. Trong tháng chín, có 168.000 tỷ đồng tín phiếu được phát hành. Tổng giá trị tín phiếu lưu hành tính đến ngày 14/10 là 72.000 tỷ đồng. Kênh OMO vẫn trầm lắng vì không có bơm và rút tiền mặt trong bốn tuần qua.

Chúng tôi cho rằng có ba lý do chính khiến thanh khoản ngân hàng cao trong 9 tháng đầu năm. Thứ nhất, NHNN mua lại 11 tỷ USD để tăng cường dự trữ ngoại hối, hiện ước đạt 40 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay, và bơm khoảng 250.000 tỷ đồng vào thị trường. Thứ hai, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng huy động (+12,02%) mạnh hơn so với tăng trưởng tín dụng (+10,46%) trong 9 tháng đầu năm cũng khiến hệ thống dư thừa thanh khoản. Ngoài ra, chỉ có 38,8% vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu năm nay đã được giải ngân, cho thấy một tỷ lệ lớn trong số 265.000 tỷ đồng huy động thông qua kênh này đã trở lại các ngân hàng thương mại. Tại cuộc họp gần đây nhất với Ủy ban Kinh tế Quốc hội ngày 07/10, Phó Thống đốc NHNN cho biết tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm đạt 11,74%, thấp hơn so với mức 12,12% cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn dự báo tăng trưởng tín dụng cả năm sẽ đạt 18%. Vietcombank đi đầu trong việc đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, là ngân hàng đầu tiên giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với năm lĩnh vực được ưu tiên, sau khi bốn ngân hàng lớn Vietcombank, Vietinbank, BIDV, và Agribank cùng giảm lãi suất tiết kiệm ngày 26/09. Tuy nhiên, vẫn chưa thể kết luận lãi suất cho vay ngắn hạn sẽ giảm toàn hệ thống vì các ngân hàng nhỏ vẫn gặp khó khăn do nợ xấu và dự phòng theo quy định

2

Thị trường Ngoại hối

Tỷ giá ngoại hối trên thị trường liên ngân hàng ổn định từ giữa tháng chín đến giữa tháng mười dù tỷ giá tham chiếu tăng mạnh

Tỷ giá VND/USD trong bốn tuần qua biến động trong phạm vi hẹp 22.296-22.324VND/USD. Tỷ giá tham chiếu tăng đáng kể trong giai đoạn báo cáo, từ 21.956VND/USD vào giữa tháng chín lên 22.012 vào giữa tháng mười, mức cao nhất kể từ khi áp dụng cơ chế tỷ giá ngoại hối mới hồi đầu tháng 01/2016, do đồng USD tăng giá. Tuy nhiên, tỷ giá trung tâm tăng mạnh không có tác động đáng kể đối với tỷ giá liên ngân hàng vì tỷ giá liên ngân hàng ổn định xung quanh mức 22.300VND/USD. Chúng tôi xin lưu ý rằng tỷ giá tham chiếu do NHNN duy trì đối chiếu với một danh sách các đơn vị tiền tệ. Vì vậy, nếu các đơn vị này trượt giá so với đồng USD thì điều này có thể dẫn đến việc điều chỉnh tỷ giá, trong khi tỷ giá liên ngân hàng do các bên tham gia thị trường quyết định. Tỷ giá liên ngân hàng tăng lên 22.323VND-22.324/USD trong hai ngày diễn ra cuộc họp của Fed do chưa rõ ràng Fed sẽ quyết định sẽ tăng lãi suất hay không, nhưng nhanh chóng hạ xuống 22.308VND/USD vào một ngày sau khi Fed cho biết sẽ không tăng lãi suất. Kể từ đầu năm 2016, tiền đồng Việt Nam đã tăng giá 0,8% và ổn định trong 9 tháng rưỡi nhờ thặng dư thương mại cao, FDI mạnh, cơ chế tỷ giá mới, và NHNN quản lý cung cầu USD thông qua phát hành tín phiếu.

2

Thị trường CDS

Phí CDS 5 năm của Việt Nam tăng mạnh sau khi giảm trong tháng 07/2016

Phí CDS các kỳ hạn 1 năm, 5 năm, và 10 năm của Việt Nam tăng lần lượt 8,1, 12,8, và 12,9 điểm cơ bản từ giữa tháng chín đến giữa tháng mười. Diễn biến CDS của Việt Nam tương tự với các nước khác trong khu vực. Phí CDS 5 năm của Philippines, Thái Lan, và Indonesia tăng lần lượt 22, 18,2 và 7,5 điểm cơ bản trong giai đoạn báo cáo. Nhà đầu tư thế giới lo ngại rủi ro về Philippines nhiều nhất do các phát biểu của tổng thống mới của nước này về Mỹ, EU, và Liên Hợp Quốc, kéo theo việc rút vốn tức thì khỏi nước này. Vua Thái Lan qua đời ngày 13/10, kéo theo một năm quốc tang, cũng ảnh hưởng lớn đến CDS nước này.

24

Lạm phát

Học phí tăng khiến lạm phát tháng chín cao thứ hai từ đầu năm đến nay.

CPI tháng chín tăng 0,54% so với tháng tám, 3,34% so với cùng kỳ năm ngoái, và 3,14% so với đầu năm. Giá cả các nhóm hàng giáo dục và giao thông vận tải tăng lần lượt 7,19% và 0,55% so với tháng trước là các nguyên ngân chính khiến lạm phát cao. CPI tháng mười dự báo sẽ tăng 0,4%-0,5% chủ yếu do giá dịch vụ khám chữa bệnh, giao thông vận tải, và khí đốt. CPI cơ bản ổn định ở mức 1,81% ba tháng qua và lạm phát từ đầu năm đến nay 3,14% củng cố quan điểm của chúng tôi là lạm phát cả năm có thể được khống chế xung quanh mức 4%.

60

( vcsc ) 

 

hotline