Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Năng Suất Lao Động – TFP – ICOR: Các Yếu Tố Thúc Đẩy FDIs

Được đăng vào 27-11-2018

Năng Suất Lao Động – TFP – ICOR: Các Yếu Tố Thúc Đẩy FDIs

  • Việt Nam là một trong những nước có mức tăng năng suất lao động cao ở Đông Nam Á từ 2012 đến 2017
  • Mức lương tối thiểu tăng nhanh hơn năng suất lao động trong khu vực
  • Tỷ lệ người lao động cao trong nông nghiệp và tăng trưởng năng suất lao động trong công nghiệp không đáng kể đã tiết chế tăng trưởng năng suất lao động
  • TFP đóng góp 15,5% vào tăng trưởng GDP trong năm 2010 và 2015
  • Việt Nam có ICOR cao thứ hai trong số các nước trong khu vực
  •  Việt Nam có thế mạnh riêng để cạnh tranh FDI với các nước khác trong khu vực

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của năng suất lao động Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 là 3,4%. Con số này tăng lên 4,3% trong giai đoạn 2011-2015. Cải thiện năng suất lao động của Việt Nam có thể được giải thích bằng những thay đổi về cấu trúc. Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 52,3% tổng số lao động năm 2008 xuống còn 40,2% trong năm 2017, theo Tổng cục Thống kê. Ngoài ra, chúng tôi thấy tỷ lệ tăng trưởng lao động hàng năm là âm trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) từ năm 2008 và 2017 và tăng trưởng đáng kể hàng năm trong lao động của các tập đoàn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Con số này lần lượt là -0,7 và 11,5%.

Mặt khác, tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam luôn nằm trong số các quốc gia có tốc độ tăng trưởng năng suất lao động cao nhất trong khu vực Đông Nam Á từ năm 2012 đến năm 2017. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có mức tăng trưởng lương tối thiểu trung bình hàng năm cao trong khu vực. Đó là 13,4 phần trăm trong một khoảng thời gian năm năm, trong khi con số này cho Indonesia và Thái Lan lần lượt là 14,8 và 0,3 phần trăm. Mặc dù Đông Nam Á đã thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với lực lượng lao động có lương thấp, các nhà đầu tư nước ngoài đã chú ý hơn đến thực tế là mức lương tối thiểu tăng nhanh hơn năng suất lao động.  Chắc chắn, xu hướng làm giảm lợi thế cạnh tranh của khu vực.

2

Mặc dù tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam đã được cải thiện theo thời gian với tốc độ nhanh hơn so với hầu hết các nước ở Đông Nam Á, năng suất lao động nằm trong số thấp nhất trong khu vực vào năm 2017. Chúng tôi cho rằng có hai lý do chính.

Thứ nhất, mặc dù cơ cấu lao động của Việt Nam đã thay đổi theo thời gian, từ nông nghiệp sang sản xuất và dịch vụ, tỷ lệ lao động của đất nước trong nông nghiệp trên tổng lao động vẫn còn cao so với Thái Lan, Indonesia và Campuchia.

Thứ hai, đã có một sự cải thiện không đáng kể về năng suất lao động trong ngành sản xuất. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm về năng suất lao động trong ngành công nghiệp sản xuất từ năm 2011 đến năm 2017 là khoảng 3,6% so với 4,7%  của tăng trưởng năng suất lao động chung. Điều này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng năng suất lao động, chủ yếu là từ chuyển đổi lao động từ nông nghiệp sang ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ.

3

Ngoài ra, theo Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), tỷ lệ năng suất lao động đóng góp vàp tăng trưởng GDP của Việt Nam đã giảm từ 1,1% trong giai đoạn 2005-2010 xuống còn 0,1% trong giai đoạn 2010-2015, trong khi vốn (không bao gồm vốn trong công nghệ thông tin) đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng GDP của Việt Nam trong cả hai thời kỳ.

Tổng năng suất nhân tố tông hợp (TFP), đo lường sản lượng không được sản xuất bằng lao động và vốn, là một thước đo khác để đánh giá tăng trưởng năng suất của một quốc gia. Mặc dù TFP đóng góp cao thứ hai vào tăng trưởng GDP, năng suất lao động đóng góp không đáng kể vào sự tăng trưởng của nền kinh tế ở các nước đông dân ở châu Á như Việt Nam, Indonesia và Trung Quốc từ năm 2010 đến năm 2015. Hơn nữa, các nước này chủ yếu dựa vào cơ sở hạ tầng để thúc đẩy nền kinh tế. Trong khi đó, TFP đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng GDP của Thái Lan và Nhật Bản.

4

Bên cạnh đánh giá về năng suất, các nhà đầu tư cũng tính đến hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) của một quốc gia khi họ xem xét đầu tư. ICOR, đo lường số tiền cần thiết để tạo thêm một đồng, được tính bằng cách chia tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP cho tốc độ tăng trưởng GDP. Như chúng ta có thể thấy, ICOR của Việt Nam đã tăng lên theo thời gian, cho thấy rằng các nhà đầu tư đã trả nhiều tiền hơn để tạo thêm một đồng. Ngoài ra, ADB cho biết Việt Nam là một trong những nước có ICOR cao nhất, có nghĩa là Việt Nam kém hấp dẫn hơn các nước khác trong khu vực cho các nhà đầu tư nước ngoài.

5

Các kết quả như năng suất lao động, TFP và ICOR không phải là một lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam có thế mạnh riêng về lực lượng lao động để cạnh tranh với các nước khác. Thứ nhất, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam đã tăng lên theo thời gian. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động có trình độ đào tạo nghề trở lên đã tăng từ 14,9% tổng lực lượng lao động năm 2009 lên 21,4% năm 2017.

Mặt khác, chính phủ nhận ra rằng để thúc đẩy nền kinh tế, những thay đổi về năng suất lao động là cần thiết. Tổ tư vấn kinh tế cho Thủ tướng Chính phủ (EACPM) dự kiến rằng năng suất lao động cần tăng trưởng 6,3% mỗi năm trong giai đoạn 2018-2020 để thúc đẩy tăng trưởng GDP lên 6,85% mỗi năm. EACPM cũng tin rằng Việt Nam có các điều kiện thích hợp để cải thiện năng suất lao động đáng kể. Họ cũng đề nghị chính phủ cần thiết lập một Hội đồng Năng suất Quốc gia. Chính phủ, thực sự, đã nỗ lực cải thiện năng suất như giảm thủ tục hành chính công, tăng cường cơ sở hạ tầng, thúc đẩy hệ thống giáo dục và thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ đặt mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh và cạnh tranh trong nền kinh tế, và đặt mục tiêu đạt một triệu doanh nghiệp vào cuối năm 2020 từ hơn 700.000 doanh nghiệp hiện nay. Ngoài ra, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam (VNC) đã gợi ý rằng năm 2019 sẽ là năm của năng suất lao động. Họ cũng đề cập đến đất nước cần phải có phong trào năng suất lao động như Nhật Bản sau Thế chiến II và Singapore vào những năm 1960. VNC cho rằng việc thiết lập một Hội đồng Năng suất Quốc gia là điều cần thiết đối với chính phủ.

Chúng tôi nghĩ Việt Nam đang ở trong tình trạng tương tự như Nhật Bản sau Thế chiến II và Trung Quốc gần đây. Chúng tôi cũng cho rằng Việt Nam có nhiều yếu tố để đạt được những mục tiêu này dựa trên tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao, số lượng lao động có trình độ cao và lao động chuyển sang các ngành có giá trị cao hơn từ nông nghiệp. Ngoài ra, các tập đoàn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động khi họ tạo việc làm, mang đén máy móc, thiết bị, công nghệ và khả năng quản lý cho Việt Nam. Các hiệp định thương mại tự do như CPTPP và EVFTA, dự kiến sẽ có hiệu lực vào năm 2019, sẽ giúp thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vai trò lãnh đạo của chính phủ là cần thiết để xây dựng phong trào năng suất lao động.

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds

hotline