Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ DỰ BÁO BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH

Được đăng vào 27-07-2008

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ DỰ BÁO BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH

TỔNG HỢP NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

Tiêu điểm về ngành: 

• Ngân hàng là ngành có mối quan hệ mật thiết với các biến động của nền kinh tế. Đây là ngành chịu ảnh hưởng đầu tiên khi nền kinh tế gặp khó khăn nhưng cũng là ngành hồi phục trước tiên để tạo điều kiện cho nền kinh tế phục hồi và đi vào ổn định.

• Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hoạt động trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn do lạm phát tăng cao và giá dầu thế giới liên tục tăng.

• Tốc độ tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế trong những năm vừa qua đã dẫn đến lượng cung tiền tăng nhanh, kéo theo tăng trưởng tín dụng nóng, trong khi tiết kiệm sụt giảm.

• Hệ thống ngân hàng bị mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn – tài sản, lấy vốn ngắn hạn cho vay dài hạn đồng thời tận dụng quá nhiều nguồn vốn vay liên ngân hàng với chi phí huy động thấp để cho vay bất động sản và chứng khoán.

• Tăng trưởng nóng tín dụng và chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho rủi ro thanh khoản tăng cao.

Dự báo sáu tháng cuối năm 2008:

• Tình hình thanh khoản vẫn tiếp tục căng thẳng – việc mất cân đối kỳ hạn giữa huy động và cho vay, đồng thời lãi suất tăng cao sẽ gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế.

• Khó khăn tín dụng trong lĩnh vực bất động sản - Nguy cơ nợ quá hạn tăng cao, gây khủng hoảng cho hệ thống ngân hàng.

• Khả năng nới lỏng tốc độ tăng trưởng tín dụng hơn mức 30% để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế

. • Hiệu quả hoạt động của ngân hàng giảm sút nghiêm trọng do sự sụt giảm trong hoạt động tín dụng và chi phí dự phòng tăng.

• Khả năng sát nhập và tái cấu trúc hoạt động ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và vừa. Lãi suất giảm khi cuộc chạy đua lãi suất không còn.

So sánh một số chỉ tiêu tài chính:

3

BỐI CẢNH KINH TẾ VIỆT NAM

Thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam nổi lên là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 7%/năm, bước đầu hội nhập vào sân chơi của nền kinh tế toàn cầu khi trở thành thành viên chính thức của WTO vào cuối năm 2006. Năm 2007 trở thành năm thành công của Việt Nam khi tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5%, giải ngân vốn đầu tư trực tiếp (FDI) hơn 8 tỷ USD và lượng vốn đầu tư gián tiếp (FII) theo số liệu thống kê chưa chính thức vào khoảng 6 tỷ USD.

Tuy nhiên trong năm 2008 với những khó khăn nội tại của nền kinh tế từ việc phát triển nóng trong thời gian qua cộng với những diễn biến bất lợi của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với một số khó khăn trước mắt.

Tỷ lệ lạm phát trong sáu tháng đầu năm 2008 tăng cao so với cuối năm 2007, đạt 18,44%, thâm hụt cán cân thương mại vượt mức thâm hụt của cả năm 2007, bằng 49,7% kim ngạch xuất khẩu. Thị trường chứng khoán sụt giảm gần 60% so với tháng 11/2007 và tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

1

Tiêu dùng quá mức và yếu tố đầu cơ đã gây ra tình trạng lạm phát và làm thâm hụt cán cân thương mại Bong bóng chứng khoán và bất động sản trong năm 2006, 2007 cộng hưởng với chính sách tăng trưởng tín dụng quá nóng ở mức 37,8% năm 2007 đã khiến một bộ phận dân cư trở nên giàu có quá mức. Nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng xa xỉ như ô tô tăng đột biến góp phần làm thâm hụt cán cân thương mại trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt mức kỷ lục - 14,8 tỷ USD, bằng 49,8% kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, yếu tố đầu cơ đã dẫn đến lượng nhập khẩu vượt quá nhu cầu thực tế và giá cả hàng hóa tăng cao, thể hiện ở các mặt hàng như gạo, phân bón, thép và xi măng.

Chính phủ đang nỗ lực thực hiện thắt chặt tiền tệ và cắt giảm chi tiêu công để ổn định vĩ mô Để đối phó với tình hình lạm phát tăng đột biến và thâm hụt cán cân thương mại, Chính phủ đã áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lượng cung tiền trong lưu thông, đồng thời thực hiện cắt giảm chi tiêu công nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực công. Các biện pháp này đang có những tác động tích cực trong việc kiềm giữ lạm phát và hạn chế nhập siêu.

Khả năng Chính phủ nới lỏng trợ giá xăng dầu do giá dầu thế giới tăng cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các chỉ số vĩ mô Bên cạnh đó, để hạn chế tốc độ lạm phát, Chính phủ đã yêu cầu các doanh nghiệp không tăng giá bán các mặt hàng thiết yếu như điện, nước, dược phẩm, thép, xi măng ... đến hết tháng 6/2008. Đến thời điểm hiện nay, lộ trình tăng giá cho các mặt hàng này vẫn chưa được công bố; trong khi đó các doanh nghiệp đang chịu áp lực lỗ từ việc giá nguyên liệu đầu vào tăng cao nhưng không điều chỉnh được giá đầu ra.

Tuy nhiên hiện nay Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu nhập khẩu trong khi vẫn xuất khẩu dầu thô do các nhà máy lọc dầu chưa đi vào hoạt động. Giá dầu thế giới liên tục gia tăng gây áp lực đè nặng cho ngân sách do Chính phủ vẫn chủ trương bù lỗ để kiềm chế việc tăng giá. Nguồn ngân sách trợ giá xăng dầu trong 6 tháng đầu năm được công bố đã lên đến 11.000 tỷ đồng, chiếm 5,3% tổng chi ngân sách nhà nước, trong khi Chính phủ đã tăng giá xăng dầu trong tháng 2 vừa qua.

Việc tăng giá xăng dầu vào ngày 25/2/2008 đã cho thấy ảnh hưởng của yếu tố này đến việc gia tăng giá cả hàng hóa, góp phần làm chỉ số lạm phát tăng đột biến. Chỉ số lạm phát trong quý I/2008 tăng 16,38% so với cùng kỳ năm ngoái và tiếp tục tăng trong các tháng tiếp theo.

2

Với tình hình giá xăng dầu tiếp tục tăng hơn 130USD/thùng như hiện nay thì nhiều khả năng Chính phủ sẽ nới lỏng trợ cấp giá xăng dầu trong thời gian tới. Việc tăng giá xăng dầu có thể tạo thêm áp lực đối với các mặt hàng hiện đang kiềm chế tăng giá. Trong điều kiện Chính phủ cố gắng trợ cấp giá xăng dầu để kiềm chế lạm phát thì vấn đề thâm hụt ngân sách trong 6 tháng cuối năm sẽ trở nên nghiêm trọng hơn do giá nhập khẩu xăng dầu ngày càng có chiều hướng gia tăng. Do đó, vấn đề tăng giá xăng dầu trong thời gian tới sẽ có ảnh hưởng lớn đến các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế.

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG – THỰC TRẠNG HIỆN NAY

Những thành quả đạt được

Hệ thống ngân hàng – Huyết mạch của nền kinh tế Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã cung cấp thêm một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế, chiếm khoảng 16-18% GDP hàng năm và gần bằng 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Điều này chứng tỏ hệ thống ngân hàng đã có một sự phát triển vượt bậc, phát huy hiệu quả vai trò huyết mạch trong việc làm cầu nối giữa sản xuất, tiêu dùng và tiết kiệm.

3

Trước đây các ngân hàng thương mại quốc doanh là đơn vị nòng cốt trong việc hỗ trợ khu vực kinh tế nhà nước do lợi thế về vốn và thị phần. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khối kinh tế tư nhân, trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại cổ phần đã có bước phát triển đáng kể trong tăng trưởng nguồn vốn và mở rộng mạng lưới hoạt động phục vụ cho khu vực dân cư và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tăng trưởng thu nhập của các ngân hàng thương mại cổ phần đạt khoảng 60% - 120% mỗi năm. Trong năm 2007, tốc độ tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần đạt khoảng 94% so với năm 2006. Trong khi đó các ngân hàng thương mại quốc doanh chỉ tập trung trong khu vực truyền thống là các doanh nghiệp Nhà nước nên tăng trưởng thu nhập đạt khoảng 20% mỗi năm.

Tỷ lệ nợ xấu giảm từ 20% trong những năm 90 xuống dưới 2% năm 2007. Hệ thống ngân hàng đã được cơ cấu lại tài chính và tiến hành xử lý những khoản nợ tồn tại từ những năm 90. Đến năm 2007, tỷ lệ nợ xấu chiếm dưới 2% trên tổng dư nợ tín dụng.

4

Tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tăng trưởng tiết kiệm

Trong năm 2006 và 2007 do sự phát triển quá nóng của nền kinh tế cùng với lượng tiền đưa vào lưu thông tăng quá nhanh so với khả năng hấp thụ của nền kinh tế đã dẫn đến lạm phát tăng nhanh và tạo ra bong bóng chứng khoán và bất động sản.

Ngân hàng Nhà nước với mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đưa ra các chính sách nhằm rút bớt lượng tiền trong lưu thông. Tuy nhiên, các biện pháp của Ngân hàng Nhà nước không đủ mạnh, kịp thời và đồng bộ nên việc kiểm soát tiền tệ còn nhiều hạn chế, dẫn đến sự lệch pha giữa tăng trưởng cung tiền, tiết kiệm và cho vay trong nền kinh tế.

5

Mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn – tài sản

Lấy vốn ngắn hạn cho vay dài hạn .Nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại chủ yếu từ 3 nguồn chính: tự huy động, vay trên thị trường liên ngân hàng và vay Ngân hàng Nhà nước thông qua việc cầm cố các giấy tờ có giá.

Tổng vốn dài hạn chiếm 35,12% trên tổng nguồn vốn, trong khi đó các ngân hàng đã cho vay trung và dài hạn (33,35%) cùng với đầu tư tài chính (13,59%) (chủ yếu là trái phiếu) là 47,09%. Như vậy phần chênh lệch 11,97% còn lại của nhu cầu cho vay dài hạn cộng với 44,4% cho vay ngắn hạn phải lấy từ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay.

6

Bên cạnh đó, các ngân hàng chưa quan tâm nhiều đến việc phát hành trái phiếu nhằm tăng nguồn vốn dài hạn, trong khi vốn chủ sở hữu không cao. Đây là một trong những lý do chính dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn và tài sản.

Tận dụng nguồn vốn vay từ thị trường liên ngân hàng với chi phí huy động thấp .Trong năm 2007 tốc độ tăng trưởng huy động từ dân cư (tăng trưởng tiết kiệm) giảm so với 2006, trong khi tăng trưởng tín dụng lại tăng cao đạt 37,8%. Điều này cho thấy các ngân hàng thương mại đã phải sử dụng nguồn vốn từ thị trường liên ngân hàng, nơi có lãi suất thấp, dưới 7%/năm để đáp ứng tốc độ tăng trưởng tín dụng này.

Tuy nhiên, theo quy định thì khoản vay liên ngân hàng chỉ được sử dụng trong trường hợp giải quyết các khó khăn thanh khoản trong ngắn hạn. Việc làm này đã dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu nguồn vốn và tiềm ẩn rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.

Từ trước năm 2007 đến nay, Ngân hàng TMCP dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn vay liên ngân hàng với lãi suất thấp để cho vay

7

Các ngân hàng đã quá chủ quan khi theo đuổi mục tiêu lợi nhuận trong ngắn hạn qua việc lấy nguồn vốn liên ngân hàng để cho vay dài hạn. Điều này đã góp phần làm tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng cao, đạt 37,8% so với năm 2006, trong đó tăng trưởng tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh là 56,8%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong gần một thập niên qua.

Cho vay chứng khoán, bất động sản - 2 nguyên nhân chính dẫn đến tăng trưởng nóng tín dụng năm 2007. Chín tháng đầu năm 2007, tốc độ tăng trưởng hoạt động cho vay của thành phố Hồ Chí Minh luôn duy trì ở mức trên 3,4%/tháng, tổng cộng tăng khoảng 30%. Nhưng sang quí 4/2007 tín dụng tăng đột biến, thêm 20,6%. Nguyên nhân là do các ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, trong đó chủ yếu là cho vay bất động sản do thị trường bất động sản phát triển quá nóng. Đồng thời, việc tăng trưởng tín dụng sẽ giúp ngân hàng đưa tỷ lệ dư nợ cho vay chứng khoán từ đầu năm về mức 3% trên tổng dư nợ theo Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm 31/12/2007.

Đầu tư tài chính – rủi ro bùng nổ trong năm 2008 Đầu tư tài chính tại các ngân hàng cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể, khoảng 13,59%. Đây là kết quả của sự bùng nổ thị trường chứng khoán trong năm 2007. Danh mục đầu tư của các ngân hàng tập trung rất nhiều vào cổ phiếu và trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu có thời hạn trung bình khoảng 3 năm.

8

Bên cạnh đó, khoản đầu tư trái phiếu từ năm 2007 về trước có lãi suất coupon khoảng 8%, trong khi giá trị giao dịch hiện tại của trái phiếu chính phủ chỉ khoảng 70 – 80% mệnh giá – tương đương lợi suất (yield) khoảng 18%. Do đó, chất lượng tài sản ngân hàng đối với giá trị trái phiếu sẽ bị sụt giảm. Đồng thời, với lãi suất huy động hiện nay ở mức trên 17,5%/năm thì khoản tiền lãi nhận được từ việc đầu tư vào trái phiếu với lãi suất cố định 8%/năm sẽ làm cho hệ số lãi ròng biên tế (NIM) năm 2008 bị giảm đáng kể.

Thay đổi cơ cấu thu nhập – Hệ quả của tăng trưởng nóng tín dụng và đầu tư tài chính Hệ quả của tăng trưởng nóng tín dụng và đầu tư tài chính quá nhiều đã làm cơ cấu thu nhập của các ngân hàng trong năm 2007 bị thay đổi. Tỷ trọng hoạt động tín dụng và đầu tư tài chính tăng, chiếm 81,68% so với tổng thu nhập (năm 2006 chiếm 70,21%), trong khi đó hoạt động dịch vụ lại bị thu hẹp, từ 22,36% năm 2006 xuống còn 11,78% năm 2007.

9

Sự phát triển quá nóng của thị trường chứng khoán trong năm 2007 cũng làm cho các doanh nghiệp tập trung vào hoạt động đầu tư tài chính, không tập trung phát triển sản xuất kinh doanh và một bộ phận dân cư cũng trở nên giàu có. Bong bóng chứng khoán và bất động sản đã đem lại cảm giác thịnh vượng cho cả nền kinh tế, từ đó dẫn đến những lệch lạc trong sản xuất, tiêu dùng và tiết kiệm, làm ngòi nổ cho những khó khăn của nền kinh tế vĩ mô trong năm 2008.

Chính sách thắt chặt tiền tệ và rủi ro thanh khoản

Chính sách siết chặt tiền tệ gây ra khó khăn thanh khoản của hệ thống ngân hàng Ngay từ những tháng đầu năm 2008, tình hình lạm phát và thâm hụt cán cân thương mại đã trở nên nghiêm trọng. Chính phủ đã ưu tiên mục tiêu chống lạm phát bằng việc áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lượng cung tiền trong lưu thông – nguyên nhân chính gây ra lạm phát cao. Hệ thống ngân hàng, cầu nối cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế, đã chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các biện pháp thắt chặt tiền tệ này.

Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% kể từ ngày 1/2/2008.

10

Yêu cầu các ngân hàng thương mại phải mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc với lãi suất cố định 7,8%, kỳ hạn 1 năm trước ngày 17/3/2008 và không được sử dụng trong giao dịch tái cấp vốn trên thị trường liên ngân hàng (lãi suất tín phiếu được điều chỉnh tăng lên 13% kể từ 1/7/2008).

Theo ước tính của chúng tôi trong vòng sáu tháng đầu năm 2008 Ngân hàng Nhà nước đã rút khoảng 60 ngàn tỷ đồng từ các ngân hàng thương mại và các biện pháp thắt chặt tiền tệ cũng như những biện pháp làm lành mạnh hóa hoạt động ngân hàng đã bắt đầu phát huy tác dụng.

Tuy nhiên, những biện pháp này đã làm cả hệ thống ngân hàng thương mại gặp khó khăn thanh khoản nghiêm trọng. Các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và vừa và cả những ngân hàng thương mại lớn, có uy tín đều bước vào cuộc chạy đua lãi suất nhằm giải quyết khó khăn thanh khoản, đồng thời giữ lượng khách hàng của mình.

Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục nâng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. Trong vòng 6 tháng đầu năm, lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh tăng 3 lần từ 8,25%/năm vào đầu năm và đến giữa tháng 6 đã là 14%/năm.

Các cột mốc trong thay đổi chính sách lãi suất

11

Với những khó khăn hiện hữu của hệ thống ngân hàng do mất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn và tài sản cộng với tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, chính sách thắt chặt tiền tệ đã làm các ngân hàng bộc lộ những khiếm khuyết trong hoạt động của mình. Theo chúng tôi, đây là những giải pháp bắt buộc để hệ thống ngân hàng chấn chỉnh hoạt động và có những điều chỉnh phù hợp. Do các chính sách thắt chặt tiền tệ chỉ mới ban hành và cần thời gian phát huy tác dụng, chúng tôi cho rằng thời gian tới sẽ là thời gian thử thách đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng và ngân hàng nào vượt qua được giai đoạn này sẽ có cơ hội phát triển bền vững trong dài hạn.

DỰ BÁO HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

Tình hình thanh khoản vẫn tiếp tục căng thẳng

Khả năng huy động thấp trong khi tăng trưởng tín dụng cao làm cho khó khăn thanh khoản trở nên nghiêm trọng hơn Sáu tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng trưởng cho vay của toàn hệ thống đạt 21%, trong khi tốc độ tăng trưởng huy động đạt khoảng 7% so với năm 2007. Vấn đề này cùng với chính sách siết chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, hệ thống. Ngân hàng càng bộc lộ những yếu kém trong việc giải quyết khó khăn thanh khoản trong thời gian qua. Trong sáu tháng cuối năm 2008, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chính sách siết chặt tiền tệ bằng cách rút 52 ngàn tỷ đồng gửi tại các ngân hàng thương mại quốc doanh ra khỏi lưu thông. Như vậy khả năng thanh khoản vốn dĩ đã rất yếu nay còn trở nên nghiêm trọng hơn.

Mất cân đối kỳ hạn sẽ làm căng thẳng về tính thanh khoản Những cuộc đua lãi suất đã làm cho các ngân hàng ở trong tình trạng “mất cân đối kỳ hạn” giữa huy động và cho vay. Ước tính khoảng 80% nguồn vốn huy động của một số ngân hàng thương mại có kỳ hạn dưới một năm, trong khi cơ cấu kỳ hạn cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại là khá cao, có ngân hàng lên đến 70%. Đây là một khó khăn cho ngân hàng khi phải vừa tìm kiếm nguồn huy động để bù đắp nguồn vốn thiếu hụt 52 ngàn tỷ đồng, vừa phải dự trữ một nguồn đủ lớn (quỹ thanh khoản) để đảm bảo khả năng thanh toán cho người gửi tiền khi có nhu cầu.

Tăng trưởng huy động Lãi suất tăng cao – Một số doanh nghiệp không thể trả lãi và nợ vay Lãi suất cho vay cao như hiện nay cũng sẽ gây khó khăn cho một số doanh nghiệp có cán cân nợ quá nhiều do hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp trong tình hình hiện nay khó có thể cao hơn chi phí vay vốn. Khả năng không trả được nợ và nguy cơ phá sản, là điều có thể xảy ra đối với các doanh nghiệp này. Như vậy các khó khăn của nền kinh tế và vấn đề thanh khoản sẽ tiếp tục là một thách thức đối với toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Tín dụng bất động sản – Nguy cơ gây khủng hoảng cho hệ thống ngân hàng

Khó khăn tín dụng trong lĩnh vực bất động sản - Nguy cơ nợ quá hạn tăng cao trong 6 tháng cuối năm Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước tính đến cuối tháng 4 năm 2008, dư nợ cho vay để kinh doanh bất động sản là 135.000 tỷ đồng, chiếm 13% trong tổng dư nợ. Theo chúng tôi tỷ lệ này có thể cao hơn tỷ lệ được công bố, lên đến khoảng 20% trên tổng dư nợ cho vay. Khoản chênh lệch này nằm trong dư nợ cho vay tiêu dùng do các ngân hàng thương mại không kiểm soát hết mục đích sử dụng của những khoản vay này.

Dư nợ cho vay bất động sản trên tổng dư nợ cho vay

12

Mất khả năng thanh toán đối với các khoản vay bất động sản tăng cao Hầu hết các hợp đồng cho vay bất động sản đều được ký kết và giải ngân vào thời kỳ cao điểm nhất của thị trường bất động sản, là quý 4/2007. Bên cạnh đó, các ngân hàng không cố định mức lãi suất ban đầu trong suốt thời hạn vay mà lãi suất cho vay được điều chỉnh theo lãi suất thị trường, quy định rõ trong từng hợp đồng cho vay. Như vậy lãi suất tăng cùng lúc với thị trường bất động sản sụt giảm sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán tăng cao đối với các khoản vay bất động sản trong sáu tháng cuối năm 2008.

Chi phí dự phòng nợ xấu tăng đột biến - Ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Để thanh toán nợ, người đi vay buộc phải bán tháo tài sản hoặc ngân hàng phải thanh lý tài sản thế chấp. Điều lo ngại là tài sản đảm bảo cho những khoản vay này thường được các ngân hàng định giá ở mức 70% giá trị thị trường tại lúc cao điểm, trong khi thị trường bất động sản đã mất giá đến 50% - 60%. Tác động dây chuyền này sẽ tạo ra khủng hoảng tín dụng và thanh khoản trong hệ thống ngân hàng cũng như chi phí dự phòng nợ xấu sẽ tăng đột biến trong sáu tháng cuối năm 2008.

Khả năng nới lỏng tăng trưởng tín dụng

Sáu tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống là 21%, chủ yếu tăng mạnh trong ba tháng đầu năm. Tuy nhiên, trong quí II/2008, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bị chậm lại; dư nợ cho vay tháng 05 của toàn hệ thống chỉ tăng 0,1% so với tháng 04 (riêng khối ngân hàng thương mại quốc doanh giảm 0,4%). Mức tăng như vậy ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp trong một nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn ngân hàng.

Sở dĩ có tình hình như trên là do trong tháng 2/2008, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức không quá 30% so với năm 2007. Điều này khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu vốn hoạt động, trong khi đó ngân hàng không thể cho vay vì vướng quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Việc hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng đã dẫn đến tình trạng khó khăn thanh khoản của các đối tượng trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp nên nguy cơ đổ vỡ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cao. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ bị chậm lại và một số ngành như thủy sản, công nghiệp nặng, vật liệu xây dựng là những ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất do cơ cấu nợ vay lớn.

Khả năng nới lỏng tốc Do đó, chúng tôi cho rằng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sẽ phải xem xét đến khả độ tăng trưởng tín dụng hơn mức 30% để duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh của nền kinh tế năng tăng tính thanh khoản cho nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng dư nợ sẽ được nới lỏng và duy trì ở mức phù hợp hơn, không gây trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Việc nới lỏng tăng trưởng tín dụng có thể gián tiếp làm tăng lạm phát trong ngắn hạn. Tuy nhiên, để duy trì hoạt động bình thường của nền kinh tế thì phải chấp nhận một mức lạm phát vừa phải.

Dự báo tốc độ tăng trưởng tín dụng của một số ngân hàng sẽ cao hơn 30% so với năm 2007 nhưng tốc độ tăng trưởng của toàn hệ thống ngân hàng sẽ thấp hơn mức 30% so với năm 2007.

Hiệu quả hoạt động ngân hàng sụt giảm

13

Chi phí dự phòng chiếm 7% trong tổng đầu tư tài chính Năm 2007 là năm thành công của các ngân hàng thương mại với tốc độ tăng trưởng thu nhập trên 100% trong đó có sự đóng góp lớn từ nguồn thu của hoạt động kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên với tình hình như hiện nay thì thu nhập từ kinh doanh chứng khoán sẽ không còn và thậm chí còn bị lỗ do phải trích dự phòng trong năm 2008. Dự phòng nợ xấu chiếm 1,56% trên tổng dư nợ cho vay Trong năm 2007 tỷ lệ nợ xấu bình quân của các ngân hàng thương mại cổ phần khoảng 0,49% trên tổng dư nợ cho vay.

Chúng tôi dự báo tỷ lệ nợ xấu trong năm 2008 sẽ tăng cao, khoảng 1,56%. Nguyên nhân chủ yếu là do các khoản cho vay bất động sản, chứng khoán khó có khả năng thu hồi vì sự sụt giảm của thị trường chứng khoán cũng như thị trường bất động sản trong thời gian qua. Tuy nhiên, tỷ lệ dự phòng nợ xấu trong năm 2008 có thể sẽ giảm so với dự báo của chúng tôi. Lý do là một số ngân hàng có thể chuyển những khoản nợ quá hạn sang đầu tư tài chính dài hạn thông qua việc mua trái phiếu do chính các doanh nghiệp đi vay phát hành. Như vậy các doanh nghiệp đi vay vừa giảm được áp lực trả nợ và các ngân hàng giảm được chi phí dự phòng nợ xấu làm ảnh hưởng đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong năm 2008.

Hệ số lãi ròng biên tế (NIM) sụt giảm Theo Ngân hàng Nhà nước, với lãi suất trần cho vay là 21%/năm thì mức lãi suất huy động đủ bù đắp chi phí kinh doanh phải dưới 17,5%/năm. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngân hàng phải nâng lãi suất huy động lên trên 18%/năm để giữ khách hàng do một số ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và vừa tăng lãi suất, vượt mức 19%/năm. Như vậy, trong năm 2008, hệ số lãi ròng biên tế sẽ giảm, dự báo đạt khoảng 1,79%

Lợi nhuận ngân hàng giảm mạnh trong năm 2008 Do chi phí dự phòng tăng cao cùng với khó khăn của hoạt động tín dụng, trong khi tăng trưởng từ dịch vụ chưa bù đắp nổi sự sụt giảm từ tín dụng và đầu tư tài chính. Chúng tôi dự báo lợi nhuận của ngành ngân hàng bị sụt giảm mạnh trong năm 2008, dự báo đạt tốc độ tăng trưởng âm là 24,35% so với năm 2007.

Sáp nhập và tái cấu trúc nguồn vốn của hệ thống ngân hàng

Trong bối cảnh thị trường còn nhiều thử thách và ngày càng trở nên cạnh tranh hơn, khả năng lợi nhuận giảm sút trong năm 2008 cùng với các khó khăn về tín dụng và thanh khoản sẽ làm cho cả nền kinh tế và hệ thống ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và vừa không đủ khả năng chống chọi với những khó khăn của nền kinh tế sẽ có khả năng rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong sáu tháng cuối năm 2008.

Để giải quyết bài toán về vốn, các ngân hàng sẽ phải tích cực tận dụng các nguồn lực nội tại và nguồn lực bên ngoài. Khi ngân hàng trở nên kém hiệu quả và tự thân khó vượt qua các thách thức ngày càng lớn thì sáp nhập lại sẽ trở thành nhu cầu khách quan. Đồng thời, hệ thống ngân hàng sẽ phải tái cấu trúc nguồn vốn thông qua việc tăng vốn điều lệ và phát hành trái phiếu nhằm tăng cơ cấu vốn dài hạn của ngân hàng.

14

Do đó, nhiều khả năng ngân hàng nhỏ sẽ sáp nhập vào ngân hàng lớn và trở thành một phần của ngân hàng lớn để nhận được sự hỗ trợ về vốn, nhân lực và công nghệ. Bên cạnh đó, sự đảm bảo về uy tín từ một định chế tài chính lớn sẽ là một nguồn lực cần thiết để các ngân hàng nhỏ vững tin hơn trong cạnh tranh. Như vậy, sáu tháng cuối năm 2008 và năm 2009 sẽ là khoảng thời gian để tái cơ cấu hoạt động ngân hàng, chuẩn bị cho giai đoạn hoàn thiện và tăng trưởng bền vững.

Lãi suất giảm khi việc chạy đua lãi suất không còn Thời gian qua việc thiếu thanh khoản nghiêm trọng ở các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và vừa đã tạo nên cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng để huy động lượng tiền nhàn rỗi từ dân cư. Các ngân hàng thương mại lớn buộc phải tăng lãi suất nhằm giữ lượng khách hàng của mình. Do vậy khi các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ và vừa bị khủng hoảng thanh khoản và rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt thì việc chạy đua lãi suất sẽ không còn. Lúc đó lãi suất sẽ giảm và giữ ở mức phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.

QUAN ĐIỂM ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH NGÂN HÀNG

ó khả năng vượt qua khó khăn trong năm 2009 Những chỉ tiêu cần thiết để các ngân hàng vượt qua khó khăn trong thời gian tới.

ƒ Hệ số an toàn vốn (CAR) trong giai đoạn hiện nay khoảng 10% (bình thường là 8%).

ƒ Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) ở mức an toàn, dưới 60%. Khi nền kinh tế đi vào ổn định thì tỷ lệ này dưới 80%.

ƒ Tỷ lệ huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng chiếm khoảng 5% trên tổng tài sản. ƒ Cơ cấu thu nhập đa dạng đến từ nhiều nguồn khác nhau, tỷ trọng thu từ dịch vụ chiếm ưu thế trong cơ cấu thu nhập.

ƒ Tỷ trọng cho vay chứng khoán, bất động sản thấp trong cơ cấu dư nợ. Giá trị tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên phải cao hơn số dư nợ và luôn được đánh giá lại theo giá trị thị trường, đồng thời phải tuân thủ việc trích lập dự phòng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

chiến lược phát triển đúng hướng

Các ngân hàng phải xây dựng những kế hoạch chiến lược nhằm phát triển và cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài:

ƒ Tập trung phát triển và mở rộng dịch vụ, nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm tiện ích ngoài những sản phẩm truyền thống.

ƒ Xem xét đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong đánh giá tín dụng.

ƒ Chủ động trong kế hoạch tăng vốn nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính cũng như đảm bảo những chỉ tiêu hoạt động khác.

ƒ Phát triển cơ sở khách hàng thông qua khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa và khách hàng cá nhân.

ƒ Định hướng phát triển ngân hàng doanh nghiệp, ngân hàng bán lẻ và ngân hàng cá nhân. Những ngân hàng nào đáp ứng được hai tiêu chí trên sẽ là những ngân hàng có khả năng vượt qua cơn sóng lớn để tồn tại và phát triển.

14

16

17

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

 

 

 

 

 

 

hotline