Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

BÁO CÁO PHÂN TÍCH NGÀNH THÉP

Được đăng vào 9-10-2008

TỔNG HỢP NHỮNG ĐIỂM CHÍNH

Tiêu điểm về ngành:

Ngành thép Việt Nam còn khá non trẻ, được xây dựng từ đầu những năm 60, nhưng đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt kết quả ấn tượng trong một thập niên qua với tốc độ tăng trưởng trung bình từ 13- 15%/năm.

ƒ Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nên nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng tăng cao trong năm năm qua. Tuy nhiên, hiện đang có sự chuyển dịch cơ cấu tiêu thụ từ thép xây dựng sang thép dẹt do nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dẫn đến nhu cầu tiêu thụ thép dẹt ngày càng cao.

ƒ Thị trường thép trong nước chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thép thế giới. Hiện nay Việt Nam phải phụ thuộc 50% vào nguồn phôi nhập khẩu cho hoạt động cán thép xây dựng và 80% vào nguồn thép dẹt và thép đặc biệt nhập khẩu cho nhu cầu tiêu thụ trong nước.

ƒ Việc mất cân đối trong cơ cấu sản xuất giữa thép dài (thép xây dựng) và thép dẹt cùng với năng lực sản xuất phôi (nguyên vật liệu để sản xuất thép dài) chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất thép xây dựng, đã làm cho ngành thép gặp khó khăn trong việc tự điều tiết thị trường. Xu thế này đang được cải thiện dần khi có nhiều dự án đầu tư vào ngành thép, tập trung chủ yếu vào việc sản xuất phôi và các loại sản phẩm thép dẹt

Dự báo các tháng cuối năm 2008 và tiềm năng tăng trưởng dài hạn

Trong bảy tháng đầu năm 2008, giá thép trong nước tăng cao do sự biến động của giá phôi thép trên thế giới. Tuy nhiên thị trường bất động sản đóng băng, cùng với việc trì hoãn thi công các công trình xây dựng đã làm tiêu thụ thép và giá thép giảm mạnh. Tính đến tháng 8/2008, giá thép trong nước đã giảm 25% so với những tháng đầu năm 2008. Dự báo giá thép sẽ tiếp tục giảm trong các tháng tới và có thể chững lại vào cuối năm 2008, dao động ở mức 14,5 – 15,5 triệu đồng/tấn.

ƒ Giá phôi thép giảm mạnh đã làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, do lượng hàng tồn kho cuối quý II/2008 với giá cao trước đây còn khá lớn, trong khi tiêu thụ trong nước chậm lại. Đối với các doanh nghiệp lớn, khó khăn trong những tháng cuối năm hoàn toàn có thể được bù đắp bởi khoản lợi nhuận cao trong bảy tháng đầu năm 2008. Do vậy, năm 2008 vẫn là một năm phát triển tốt đối với ngành thép và đặc biệt là các công ty trong ngành, dự báo tốc độ tăng trưởng đạt 11%/năm.

ƒ Năm 2009, tốc độ tăng trưởng của ngành thép chậm lại, dự báo khoảng 9% do triển vọng phát triển kinh tế thế giới không còn thuận lợi như trước.

ƒ Với nhu cầu tiêu thụ thép trong nước tăng khoảng 1 triệu tấn/năm, ngành thép Việt Nam dự báo sẽ phát triển tốt với tốc độ tăng trưởng trung bình là 12%/năm trong vòng năm năm tới.

ƒ Về dài hạn, khi các dự án đầu tư lớn của nước ngoài vào ngành thép hoàn thành và đi vào hoạt động, cuộc khủng hoảng thừa trong ngành thép sẽ xảy ra. Khi đó sản phẩm thép có thể phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu. Tuy nhiên sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp cũ và mới. Đây sẽ là một khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ để có thể duy trì hoạt động và tồn tại.

THỊ TRƯỜNG THÉP THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC

Theo số liệu từ Viện sắt thép thế giới (IISI), năm 2007 là năm thứ 5 liên tiếp ngành thép thế giới tăng trưởng mạnh với mức trên 7%/năm. Sản lượng thép thô thế giới đạt 1.343,5 triệu tấn trong năm 2007, tăng 7,5% so với năm 2006. Đây là mức sản lượng cao nhất đạt được trong lịch sử ngành. Ba quốc gia dẫn đầu về sản xuất thép trên thế giới là Trung Quốc, Nhật và Mỹ.

Trong đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của sản lượng toàn cầu. Nếu không có ngành sản xuất thép thô của Trung Quốc thì tốc độ tăng trưởng của sản lượng thép thô thế giới chỉ đạt 3,3%/năm.

2

Trong 6 tháng đầu năm 2008, tổng sản lượng thép thô thế giới đạt 696 triệu tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng sản xuất của Trung Quốc đạt 263,2 triệu tấn, tăng 9,6% so với 6 tháng đầu năm 2007.

Nhu cầu tiêu thụ thép thế giới dự kiến tăng trung bình từ 6 - 7%/năm trong những năm tới, trong đó xu hướng tiêu thụ mạnh tại các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Brazil sẽ là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng chung của toàn cầu.

Hiện nay giá thép thế giới đang giảm mạnh sau khi đã tăng gấp đôi trong sáu tháng đầu 2008, nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc giá dầu giảm mạnh trong tháng bảy và tháng tám. Dự báo giá thép thế giới chưa thể có xu hướng tăng trở lại trong năm 2009 do triển vọng phát triển kinh tế toàn cầu chậm lại. Bên cạnh đó, mặc dù Trung Quốc hạn chế xuất khẩu và cơ cấu lại sản xuất thép làm cho lượng xuất khẩu từ nước này giảm xuống - dự báo xuất khẩu thép của Trung Quốc trong năm 2008 sẽ giảm 23% so với năm 2007, tương đương khoảng 48 triệu tấn, nhưng giá thép vẫn chưa thể tăng trở lại trong thời gian tới do nhu cầu sụt giảm.

Thép không chỉ đơn thuần là vật liệu xây dựng mà còn là lương thực của các ngành công nghiệp nặng, xây dựng và quốc phòng. Bên cạnh đó, ngành thép còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, ngành thép luôn được Nhà nước xác định là ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển trong quá trình phát triển của đất nước. Sự tăng trưởng của ngành thép luôn đi đôi với sự tăng trưởng của ngành công nghiệp và nền kinh tế.

Quá trình phát triển

Ngành thép Việt Nam hiện nay còn khá non trẻ, được xây dựng từ đầu những năm 60, nhưng chỉ mới thực sự phát triển trong một thập niên qua với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 13%-15%/năm. Trong giai đoạn từ năm 1963 đến 1989, ngành thép hầu như không phát triển được. Nguồn thép tiêu thụ trong nước chủ yếu được nhập khẩu từ Nga (Liên Xô cũ) và các nước XHCN khác.

Năm 1990 sự ra đời của Tổng Công ty thép Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự bình ổn và phát triển của ngành. Năm 1996 là năm đánh dấu sự chuyển mình lớn của ngành thép Việt Nam khi có 5 Công ty thép ra đời: Công ty Liên doanh thép Việt Nhật (VinaKyoei), Công ty Liên doanh thép Việt Úc (Vinausteel), Công ty Liên doanh thép Việt Hàn (VPS), Công ty Liên doanh thép Việt Nam Singapore (Nasteel) và Công ty Liên doanh thép Việt Nam Đài Loan (Vinatafong), với tổng công suất khoảng 800.000 tấn/năm. Sự ra đời của các công ty thép liên doanh đã giảm bớt phần nào sự bảo hộ của Chính phủ đối với ngành thép, đồng thời thép không còn nằm trong danh mục hàng dự trữ quốc gia do khả năng tự sản xuất của những doanh nghiệp này.

Tiếp nối là sự ra đời của các công ty thép liên doanh và tư nhân khác như Thép Việt, Hòa Phát, Việt Ý.... đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành thép trong nước trong những năm gần đây

3

Cung và Cầu

Sản phẩm thép rất đa dạng, chủ yếu được chia thành hai nhóm chính là thép dài (hay còn gọi là thép xây dựng như thép hình, thép thanh và thép cây) và thép dẹt (bao gồm các loại thép tấm, lá, cán nóng và cán nguội).

Hiện nay ở Việt Nam nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng chiếm hơn 50% tổng tiêu thụ toàn ngành, còn lại thuộc về thép dẹt. Trong đó Việt Nam chủ yếu chỉ mới sản xuất được thép xây dựng để phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa, các sản phẩm thép dẹt hầu hết đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. Theo thống kê của Hiệp hội thép Việt Nam, trong năm 2007 sản lượng sản xuất phôi trong nước đạt 2.022.000 tấn, tăng 44,3% so với năm 2006.

Thép xây dựng đạt 3.828.137 tấn, tăng 14% so với năm 2006. Trong khi đó, lượng thép tiêu thụ của cả nước đạt 10,3 triệu tấn, tăng 42% so với năm trước và là mức cao nhất ở khu vực Đông Nam Á. Trong 6 tháng đầu năm 2008, sản lượng thép xây dựng toàn ngành đạt 1.966.416 tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm ngoái (số liệu chưa bao gồm sản xuất của các doanh nghiệp ngoài hiệp hội).

Tiêu thụ thép trong 6 tháng đầu năm nay đạt 1.850.395 tấn, tăng 8% so với 6 tháng đầu năm 2007. Sản xuất phôi thép đạt khoảng 930.000 tấn. Tồn kho toàn ngành khoảng 205.600 tấn thép thành phẩm và 300.000 tấn phôi.

4

Việt Nam hiện đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nên nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng cũng tăng cao, chiếm 63% trong năm 2006 và 54% trong năm 2007 trên tổng sản lượng tiêu thụ thép toàn quốc. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có sự dịch chuyển cơ cấu tiêu thụ sản phẩm thép giữa thép dài và thép dẹt do nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp nặng tăng cao. Dự báo trong vòng 10 năm tới, thị phần tiêu thụ thép dẹt sẽ chiếm 60% so với tổng sản lượng thép tiêu thụ toàn ngành.

Trong những năm qua, ngành thép Việt Nam tuy đã được đầu tư đáng kể và đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng hiện vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức. Trên thực tế, ngành thép Việt Nam vẫn trong tình trạng kém phát triển so với các nước trong khu vực và so với trình độ chung của thế giới.

Giá thép Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thép thế giới

Việt Nam hiện chỉ mới sản xuất được sản phẩm thép dài (thép xây dựng), còn thép dẹt và những sản phẩm thép cao cấp khác vẫn phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước.

Ngành thép hiện phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu chính là phôi thép, do ngành thép nội địa mới chỉ chủ động sản xuất khoảng 50% lượng phôi phục vụ cho cán thép xây dựng, còn lại vẫn phải phụ thuộc vào thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.

Trong những tháng đầu năm 2008, ngành thép đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhập khẩu phôi thép do nguồn nguyên liệu nhập khẩu chính từ Trung Quốc liên tục biến động. Đặc biệt với việc Trung Quốc nâng thuế xuất khẩu phôi thép từ 15% lên 25% và từ 10% lên 15% đối với thép thành phẩm đã làm cho giá thành cũng như giá bán sản phẩm thép trong nước tăng mạnh trong thời gian qua.

5

Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2008, giá phôi thép trên thị trường thế giới đã tăng liên tục và chạm mức cao nhất 1.150 – 1.200 USD/tấn trong tháng sáu, tăng gần 70% so với cuối năm 2007. Chính việc giá phôi tăng đã dẫn đến sự tăng giá của các mặt hàng thép thành phẩm trong nước.

Giá thị trường của các sản phẩm thép trong nước có thời điểm tăng đến 20-21 triệu đồng/tấn trong những tháng đầu năm 2008. Tuy nhiên, từ đầu tháng 8/2008, giá thép trên thị trường thế giới và nội địa bắt đầu đảo chiều và giảm mạnh. Giá phôi trên thị trường thế giới đã giảm gần 30% so với lúc cao điểm, xuống còn 750 USD/tấn như hiện nay. Thị trường trong nước cũng bị tác động mạnh và trực tiếp, dẫn đến giá thép nội địa giảm gần 25% xuống còn khoảng 16 triệu đồng/tấn.

Việc giá phôi thép giảm mạnh gây ra nhiều khó khăn cho hầu hết các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, do lượng hàng tồn kho cuối quý II/2008 với giá cao còn khá nhiều trong khi cầu trong nước đang giảm dần. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp lớn, khó khăn trong những tháng cuối năm hoàn toàn có thể được bù đắp bởi khoản lợi nhuận cao trong bảy tháng đầu năm 2008.

Mất cân đối trong cơ cấu sản xuất

Việc mất cân đối trong cơ cấu sản xuất giữa thép dài (thép xây dựng) và thép dẹt cùng với năng lực sản xuất phôi (nguyên vật liệu để sản xuất thép dài) chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, đã làm cho ngành thép gặp khó khăn trong việc tự điều tiết thị trường

Mất cân đối trong cơ cấu sản xuất giữa thép dài và thép dẹt

Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thép tại Việt Nam chỉ sản xuất các loại thép dài do quy trình và công nghệ sản xuất đơn giản hơn so với thép dẹt. Các sản phẩm thép dài còn có lợi thế về nhu cầu tiêu thụ cao, vốn đầu tư ít, thời gian xây dựng nhà máy ngắn, quản lý dễ dàng, hiệu quả đầu tư tương đối cao và quan trọng là mặt hàng này không chịu sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Năng lực sản xuất thép xây dựng của các công ty thép trong nước đã đạt và vượt so với nhu cầu trong nước, công suất sử dụng chỉ đạt hơn 70% tổng công suất.

Đối với các sản phẩm thép dẹt, thị trường trong nước hiện nay cung không đáp ứng đủ cầu. Mặc dù thị trường tiêu thụ các sản phẩm này còn rất lớn nhưng hiện tại các doanh nghiệp trong ngành chưa đủ nguồn lực để tập trung phát triển thị trường này. Năng lực sản xuất trong nước chỉ có thể đáp ứng từ 15%-25% nhu cầu tiêu thụ cả nước, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép dẹt ngày càng tăng cao trong năm năm gần đây, chiếm khoảng 45% tổng nhu cầu hàng năm.

Năm 2007, trong khi tiêu thụ thép xây dựng chỉ tăng 17,1% so với năm trước thì nhu cầu tiêu thụ thép dẹt các loại tăng 69,8% và nhu cầu tiêu thụ tấm lá cán nguội tăng đến 83,1% so với năm 2006.

6

Ngoại trừ một số nhà máy thép cán nóng, cán nguội như nhà máy thép tấm lá Phú Mỹ, Tôn Hoa Sen, nhà máy cán tấm nóng Cửu Long Vinashin, Hải Phòng và công ty sản xuất thép cán nguội Sunsco, còn lại tất cả các sản phẩm cán nóng, cán nguội và tấm lá khác đều phải nhập khẩu. Ngay cả đối với nhà máy cán nguội như Phú Mỹ thì nguyên liệu chính là cuộn cán nóng cũng phải nhập khẩu 100%.

Điều này cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu sản xuất sản phẩm thép giữa thép dài và thép dẹt. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay đã có khoảng 9 dự án lớn của nhà đầu tư nước ngoài cũng như trong nước nhằm xây dựng các nhà máy sản xuất thép dẹt với tổng công suất khoảng 55,2triệu tấn/năm trong vòng 10 năm tới. Như vậy dự báo trong tương lai sẽ có một lượng cung lớn không chỉ đáp ứng cho thị trường trong nước mà còn có thể xuất khẩu ra các nước trong khu vực.

Năng lực sản xuất phôi chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất thép xây dựng

Với sự phát triển nhanh chóng của ngành thép trong thời gian qua, năng lực cán thép hiện nay đạt hơn 6 triệu tấn/năm, tăng gấp 3 lần so với năm 2001. Tổng sản lượng thép cán năm 2007 đạt gần 4 triệu tấn. Tuy nhiên, tình trạng mất cân đối giữa phát triển sản xuất phôi thép và cán thép vẫn chưa được khắc phục. Khả năng tự cung cấp phôi cho cán thép xây dựng trong nước mặc dù đã được cải thiện nhưng mức độ đáp ứng vẫn còn thấp.

Năm 2007, nguồn phôi sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 52% nhu cầu cán. Do vậy, ngành thép vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu nên bị động trong việc cung cấp sản phẩm và điều tiết thị trường khi có những biến động lớn về giá và cung cầu thép trên thị trường thế giới.

7

Năng lực cạnh tranh thấp và thiếu bền vững

Hiện tại, quy mô sản xuất thép của các doanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn, với công suất trung bình khoảng 200.000 tấn/năm. Trình độ công nghệ, mức tự động hóa và trang thiết bị của các công ty trong ngành còn ở mức trung bình và thiếu đồng bộ, năng lực cạnh tranh thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Bên cạnh đó hệ thống phân phối và kinh doanh các sản phẩm thép còn nhiều bất cập và nhiều tầng lớp trung gian. Do đó các công ty chưa phát huy tối ưu hiệu quả hoạt động kinh doanh do chi phí sản xuất cao.

8

Mặc dù Nhà nước đã tạo nhiều điều kiện, quy hoạch và định hướng cho sự phát triển của ngành thép nhưng vẫn còn những bất cập và thiếu đồng bộ trong công tác quản lý. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành khi xử lý các vấn đề về thuế, bình ổn thị trường, xuất nhập khẩu và các giải pháp bảo hộ sản xuất trong nước vẫn còn chưa chặt chẽ và đồng nhất. Đặc biệt, đối với những trường hợp như xuất khẩu phôi thép trong những tháng đầu năm 2008, đã cho thấy những bất cập còn tồn tại trong việc xử lý những vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành.

Sau giai đoạn giá phôi trên thị trường thế giới liên tục tăng cao trong những tháng đầu năm 2008, các doanh nghiệp thép trong nước đã nhập khẩu một lượng phôi lớn vừa đẩ đáp ứng nhu cầu trong nước vừa để dự trữ. Trong quý II/2008, một số doanh nghiệp thép trong nước đã bắt đầu xuất khẩu phôi thép ra ngoài, đặc biệt là trong tháng năm và tháng sáu đã có hơn 300.000/380.000 tấn phôi thép xuất khẩu, trong đó có khoảng 200.000 tấn là phôi tái xuất.

Lý do của hiện tượng này là do tác động của các chính sách vĩ mô, tín dụng bị thắt chặt và lãi suất tăng cao khiến cho các doanh nghiệp không chỉ gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng mà còn phải đối mặt với chi phí vốn tăng cao, nhất là đối với các doanh nghiệp trong ngành thép khi nhu cầu vốn lưu động khá lớn, nhưng lại chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xoay vòng vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Giá phôi thép đầu vào không ngừng tăng cao trong khi giá thép trong nước bị kiềm hãm không được tăng giá nhằm thực hiện biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Do đó, nếu lấy nguồn phôi nhập khẩu với giá cao để cán ra thành phẩm bán thì giá thành sẽ cao hơn giá bán. Vì vậy, xuất khẩu phôi được xem như giải pháp tối ưu để giải quyết các khó khăn về tài chính của nhiều doanh nghiệp thép trong nước.

Trong tình hình đó, trước đề xuất của Bộ Công Thương và Hiệp hội thép, Chính phủ đã ra quyết định tăng thuế xuất khẩu phôi nhằm đề phòng tình trạng thiếu phôi và thép trong các tháng cuối năm. ƒ Lần đầu, tăng thuế xuất khẩu phôi từ 2% lên 10%, có hiệu lực kể từ ngày 28/06/2008. ƒ Lần hai, tăng tiếp thuế xuất khẩu phôi từ 10% lên 20% và có hiệu lực kể từ ngày 10/08/2008.

Tuy nhiên với đợt giảm giá mạnh trong một tháng gần đây, các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất phôi trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn. Lượng hàng tồn kho còn khá lớn trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước chậm. Nếu xuất khẩu với mức thuế 20% các doanh nghiệp sẽ tiếp tục chịu lỗ. Một lần nữa Bộ công thương và Hiệp hội thép có đề xuất yêu cầu Chính phủ giảm thuế xuất khẩu phôi để giải quyết bớt khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất phôi trong nước.

Ngày 22/9, Bộ Tài Chính chính thức ký quyết định hạ thuế xuất khẩu phôi thép từ mức 20% xuống trở lại 10%. Qua đó có thể thấy hệ thống quản lý và điều hành của các cơ quan có chức năng trong ngành còn nhiều hạn chế. Việc đề xuất tăng thuế xuất khẩu lần thứ 2 và sau đó không lâu lại đề xuất giảm thuế cho thấy sự lúng túng và bất cập trong việc xử lý, chỉ hướng tới bảo hộ và vì quyền lợi của một số doanh nghiệp trong ngành, không có cái nhìn và dự báo dài hạn nên chưa thể đưa các giải pháp phù hợp nhằm bình ổn thị trường và tạo điều kiện cho thị trường được phát triển tự do và bền vững.

Nhìn chung, do ngành thép Việt Nam có mức xuất phát điểm tương đối thấp và phải chia sẻ nhiều khó khăn chung của nền kinh tế nên một số tồn tại và yếu kém của ngành phần nào đó mang tính tất yếu và khó tránh khỏi. Tuy nhiên ngành thép đã có nhiều chuyển biến tích cực và tăng trưởng đạt kết quả ấn tượng trong thời gian qua. Để ngành thép có thể phát triển bền vững, Nhà nước cũng cần có chính sách tập trung nguồn lực về người, tài nguyên và tài chính để tránh tình trạng phát triển ồ ạt nhưng lại phân tán và thiếu hiệu quả.

Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP cũng như tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp và xây dựng luôn được duy trì ở mức cao trong khu vực và trên thế giới. Như vậy có thể thấy tiềm năng của nền kinh tế, ngành công nghiệp và xây dựng nói chung và ngành sản xuất, kinh doanh thép nói riêng là rất lớn. Do vậy nhu cầu thép sẽ không ngừng gia tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Dự báo ngành trong ngắn hạn: những tháng cuối năm 2008 và 2009

Theo IISI, hiện nay giá phôi và thép thế giới đang giảm mạnh và có nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm trong những tháng cuối năm. Giá thép trong nước bị ảnh hưởng trực tiếp bởi giá thế giới, nên cũng sẽ tiếp tục giảm trong các tháng tới do tiêu thụ thép đang giảm mạnh vì mùa mưa đến. Các biện pháp kiềm chế lạm phát, thắt chặt tín dụng, giảm bớt đầu tư công và đình hoãn các công trình không hiệu quả hoặc chưa cấp thiết làm cho thị trường thép trầm lắng, không còn sôi động như những tháng đầu năm. Bên cạnh đó, giá thép đã tăng quá cao, dẫn đến tiêu thụ thép giảm và giá giảm. Dự kiến giá thép cuối năm sẽ tiếp tục giảm và dao động trong khoảng 14,5 – 15,5 triệu đồng/tấn.

Nếu như trong những tháng đầu năm các doanh nghiệp trong ngành tận dụng nhiều cơ hội để tạo lợi nhuận lớn khi giá tăng cao thì hiện nay việc giá thép đang giảm nhanh cũng làm cho không ít các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp chỉ sản xuất cầm chừng do nhu cầu tiêu thụ giảm. Việc dư thừa phôi và thép hiện nay chỉ là tạm thời, và việc giá giảm cũng là tất yếu sau khi đã tăng quá cao.

Nhìn chung, năm 2008 vẫn là một năm phát triển tốt cho ngành. Khó khăn trong vài tháng cuối năm hoàn toàn có thể được bù đắp bởi nguồn lợi nhuận cao trong bảy tháng đầu năm, đảm bảo kết quả kinh doanh của cả năm đạt được kế hoạch đề ra. Nếu nói năm 2007 là một năm thành công của các doanh nghiệp trong ngành thép thì năm 2008, nếu không vì ảnh hưởng bởi khó khăn chung của nền kinh tế, sẽ là một năm thành công hơn nữa.

Năm 2009 – Tốc độ tăng trưởng của ngành thép chậm lại, dự báo khoảng 9% do triển vọng phát triển kinh tế thế giới không còn thuận lợi như trước. Trong năm 2009 về cơ bản ngành thép sẽ tăng trưởng chậm do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, triển vọng phát triển kinh tế toàn cầu chậm lại dẫn đến nhu cầu tiêu thụ nguyên vật liệu cơ bản sụt giảm. Nguy cơ giảm phát trên toàn cầu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiềm năng tăng trưởng của các ngành trong nền kinh tế, đặc biệt là ngành thép khi đây là ngành có mối tương quan chặt chẽ với các biến động của nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam, các chỉ số vĩ mô đang dần được cải thiện, mức lạm phát trong nước đang dần được kiềm chế, trong khi đó các ngân hàng thương mại cổ phần đang dư thừa vốn do việc thắt chặt tín dụng trong những tháng đầu năm. Với tình hình đóng băng của thị trường bất động sản trong gần một năm trở lại đây, chính sách tiết giảm đầu tư công và tình hình các dự án bất động sản đang thiếu vốn, không thể tiếp tục xây dựng làm cho nhu cầu thép sụt giảm đáng kể. Trong thời gian tới, khi chính sách tiền tệ linh hoạt hơn và áp lực lạm phát được giải tỏa, thị trường tín dụng đi vào hoạt động ổn định trở lại thì việc phục hồi của thị trường bất động sản và nhu cầu phục vụ cho phát triển kinh tế sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu thụ thép trở lại mức ổn định. Dự báo nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng trong năm 2009 đạt khoảng 9%

Tiềm năng phát triển dài hạn

Dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình vào khoảng 12%/năm trong vòng năm năm tới. Về cơ bản, ngành thép sẽ vẫn tăng trưởng tốt cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong những năm tiếp theo. Bên cạnh đó với nhu cầu tiêu thụ thép trong nước hiện nay tăng khoảng 1 triệu tấn/năm trong khi thị trường nội địa vẫn còn bị bỏ ngỏ thì ngành thép Việt Nam vẫn phát triển tốt, dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình vào khoảng 12%/năm trong vòng năm năm tới.

Hiện nay Việt Nam phải nhập gần 50% lượng phôi cho hoạt động cán thép trong nước và nhập hơn 80% các loại thép dẹt thì tiềm năng cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào ngành thép ở Việt Nam là rất lớn.

Trong những năm gần đây, có rất nhiều dự án thép của các nhà đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh đầu tư vào Việt Nam. Đây là cơ hội tốt cho ngành thép trong nước khi các dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và quy trình nhà máy liên hợp khép kín sẽ giúp các doanh nghiệp sử dụng chi phí một cách hiệu quả nhất. Các dự án đầu tư này nếu khả thi sẽ đóng góp rất lớn cho sự phát triển của ngành, là nền tảng cho ngành thép phát triển sang một giai đoạn mới. Khi đó, các nhu cầu về phôi, thép xây dựng, và các sản phẩm dẹt không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn có khả năng xuất khẩu và cạnh tranh với các nước trong khu vực.

9

Hiện nay có 9 dự án lớn đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam với tổng công suất vào khoảng 55 triệu tấn/năm, tổng vốn đầu tư là 38,9 tỷ USD, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà tĩnh (3 dự án – 13,1 tỷ USD), Bà rịa Vũng tàu (3 dự án – 2,3 tỷ USD), 3 dự án còn lại ở các tỉnh miền Trung như Ninh Phước, Quảng Ngãi và Khánh Hòa. Đối với những dự án này, cần xem xét, thẩm định kỹ về năng lực tài chính của nhà đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, khả năng xử lý môi trường để đảm bảo tính hiệu quả cho sự phát triển của ngành. Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng trong nước phải được nâng cấp nhằm đảm bảo hoạt động của những nhà máy này không ảnh hưởng đến an ninh năng lượng của quốc gia và gây ô nhiễm môi trường đối với địa phương.

Nhìn nhận một cách khách quan, việc đầu tư vào những dự án này sẽ giúp nội tại ngành phát triển tốt hơn, tuy nhiên sẽ có một sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp cũ và mới (chủ yếu là nước ngoài) trong ngành. Các nhà máy liên hợp thép mới được đầu tư tốt hơn với quy mô vốn lớn, công nghệ cao, công suất lớn nên chất lượng sản phẩm cao và có lợi thế về chi phí thấp khi hoạt động theo một dây chuyền sản xuất khép kín. Trong khi đó, các doanh nghiệp cũ trong ngành chỉ có lợi thế cạnh tranh ở thương hiệu và mối quan hệ lâu năm với khách hàng. Tuy nhiên chỉ có các doanh nghiệp lớn mới có lợi thế này và các doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ sẽ gặp nhiều khó khăn để duy trì và tồn tại. Tuy vậy, đây là một sự đào thải theo quy luật tự nhiên để đảm bảo cho sự phát triển của ngành tập trung hơn, tốt hơn và vững chắc hơn.

10

11

Chỉ số tài chính ngành thép Việt Nam khá hấp dẫn so những quốc gia khác. Hiện tại với mức P/E trung bình là 5,75 và ROE là 24,85% có thể nhận thấy hiệu quả hoạt động của các công ty trong ngành thép Việt Nam tốt hơn những công ty thép khác trong khu vực.

12

Ghi chú: Momentum: mức tăng trưởng tích lũy giá cổ phiếu trong một thời kỳ được tính bằng tỷ lệ tăng trưởng tích lũy của thu nhập nếu đầu tư vào cổ phiếu ấy (cumulative monthly return) trong kỳ đó.

P/E & P/BV trung bình ngành thấp hơn so trung bình thị trường. Những chỉ số tài chính của ngành thép đều tốt hơn so với trung bình thị trường. Chỉ số P/E trung bình ngành (5,75) thấp hơn P/E trung bình thị trường (11,93) và P/BV ngành là 1,56 thấp hơn P/BV thị trường (2,61). Ngoài ra, cổ phiếu ngành thép được xem là ngành có mức tăng trưởng tích lũy thu nhập qua 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng cao hơn so với trung bình thị trường. Nhưng do nhu cầu vốn lưu động lớn, chủ yếu để mua nguyên vật liệu (đối với doanh nghiệp sản xuất) hoặc dự trữ hàng tồn kho (đối với các doanh nghiệp thương mại) nên ngành thép là ngành có cơ cấu nợ cao hơn so với trung bình thị trường. 

Tuy nhiên hiện nay, cổ phiếu ngành thép chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư do tính thanh khoản thấp, ngoại trừ Hòa Phát (HPG) là cổ phiếu blue chip.Trong những tháng cuối năm 2008, các doanh nghiệp trong ngành sẽ gặp nhiều khó khăn do việc giá phôi thế giới giảm cũng như giá bán thép trong nước giảm mạnh. Nhưng với kết quả kinh doanh khả quan đạt được trong bảy tháng đầu năm, chúng tôi vẫn nghĩ năm 2008 là năm kinh doanh tốt của ngành và các chỉ số cơ bản của ngành hiện tại vẫn tốt hơn so với những ngành khác cũng như so với trung bình thị trường.

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc

 

 

 

 

hotline