Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam

Được đăng vào 19-12-2012

Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam -  Stress testing (*) các ngân hàng niêm yết

Do không có thông tin chi tiết về tình hình nợ xấu, chúng tôi đã thực hiện stress test các ngân hàng niêm yết theo bốn kịch bản nợ xấu. Các kịch bản đó là (i) nợ xấu theo báo cáo, (ii) nợ xấu cả hệ thống do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ước tính, (iii) nợ xấu dựa trên phân loại theo nhóm khách hàng, và (iv) tỷ lệ nợ xấu là 20%. Kết luận chính của chúng tôi là mức giá hiện nay của các cổ phiếu ngân hàng vẫn chưa tính đến chiết khấu cho nợ xấu thực tế có thể cao hơn, và rằng ngân hàng có thể duy trì giá trị tài sản ròng dương nếu tài sản thuế thu nhập hoãn lại được tính là vốn.

Thông tin chi tiết về nợ xấu vẫn là dấu hỏi lớn

Thực tế là khó có thể biết được nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam đang ở mức độ nào. Các ngân hàng niêm yết (gồm ACB, CTG, EIB, MBB, STB, VCB) báo cáo tỷ lệ nợ xấu trung bình là 2,2%, nhưng nếu tính cả các khoản vay nhóm 2 (ngoại trừ VCB), tỷ lệ này tăng lên 3,9%. NHNN báo cáo tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng là 4,9% tính đến tháng 09/2012, nhưng sau khi thanh tra các ngân hàng thì con số có thể lên đến 8,8%. Chúng tôi ước tính nợ xấu của ngành ngân hàng có thể lên đến 17% -19%, trong khi một vài cơ quan xếp hạng tín nhiệm cho rằng con số này có thể cao hơn

Stress testing các ngân hàng niêm yết

Chúng tôi đã thực hiện stress test các ngân hàng niêm yết theo bốn kịch bản nợ xấu. Chúng tôi giả định tỷ lệ thu hồi nợ thành công là 30% nếu các ngân hàng trích lập dự phòng đầy đủ, và sau đó tính toán vốn chủ sở hữu điều chỉnh của mỗi ngân hàng. Bất kỳ ngân hàng nào có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) dưới 9% phải phát hành thêm cổ phiếu mới tại mức giá trị sổ sách (BPS) điều chỉnh.

Một số kết luận

Một số kết luận chủ yếu của chúng tôi từ stress test như sau. Đầu tiên, theo tất cả các kịch bản, tất cả các ngân hàng vẫn duy trì giá trị tài sản ròng dương, mặc dù theo Kịch bản 3 và 4 thì phần nhiều trong đó là tài sản thuế thu nhập hoãn lại. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại này có thể không được các chuẩn mực kế toán cho phép hạch toán vào. Thứ hai, một số ngân hàng nhận thêm vốn từ đối tác Nhật Bản không cần phải phát hành cổ phiếu mới nếu mức nợ xấu chưa đến 20%. Thứ ba, các ngân hàng tốt nhất là MBB và EIB do họ có khả năng trích lập dự phòng lớn hơn (thể hiện qua doanh thu từ hoạt động cốt lõi/dư nợ) và mức thị giá/ giá trị sổ sách (PBR) thấp hơn các ngân hàng khác

Giá “thị trường” hiện nay chưa tính đến chiết khấu nợ xấu ngân hàng

Trong khi tất cả các nhà đầu tư chúng tôi đã gặp đồng ý rằng các ngân hàng đang gặp vấn đề với nợ xấu thực tế cao hơn mức báo cáo, cổ phiếu các ngân hàng vẫn giao dịch ở mức cao hơn giá trị sổ sách. Bởi vì các ngân hàng có vấn đề nợ xấu đáng nhẽ phải giao dịch tại BPS điều chỉnh tương ứng với nợ xấu thực tế dự kiến, mức PBR cao của các ngân hàng Việt Nam có nghĩa hoặc là ngành ngân hàng Việt Nam hiện không gặp vấn đề gì hoặc là CP vẫn có thể giảm giá trong dài hạn.

Stress testing các ngân hàng

Ngành ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề nợ xấu. Đây là điều gây lo ngại cho các nhà quản lý, ngân hàng, và nhà đầu tư. Hiện tại, vấn đề chính là không ai biết tỷ lệ nợ xấu thực tế của các ngân hàng như thế nào. Tỷ lệ này chỉ có thể được xác định một cách chính xác hơn nếu các ngân hàng trở nên cẩn trọng và khắt khe hơn trong việc phân loại nợ dựa vào khả năng trả nợ thực tế của người đi vay. Cho đến khi việc đó được thực hiện một cách nghiêm túc, các nhà đầu tư thật sự không biết khoản lỗ thực tế của ngân hàng có thể lên đến bao nhiêu.

Trước đó, chúng tôi đã công bố một báo cáo về ngành ngân hàng với ước tính nợ xấu có thể lên đến 17-19% tổng dư nợ. Ở đây, chúng tôi stress test từng ngân hàng theo bốn kịch bản nợ xấu sau:

Nợ xấu theo báo cáo của các ngân hàng cộng với các khoản vay nhóm 2

Tỷ lệ nợ xấu được nhân đôi (tức là tỷ lệ 1,95 lần dựa trên 8,8% (ước tính của NHNN) chia cho 4,5% (con số báo cáo của NHNN) tính đến tháng 06/2012) cộng với các khoản vay nhóm 2

Nợ xấu dựa trên tỷ lệ nợ xấu giả định của chúng tôi áp dụng cho mỗi nhóm ngành

Tỷ lệ nợ xấu là 20%.

Sau khi tính nợ xấu, chúng tôi tính chi phí xử lý nợ xấu bằng cách giả định tỷ lệ thu hồi nợ xấu thành công là 30%. Rồi chúng tôi trừ đi quỹ dự phòng rủi ro, và tính chi phí xử lý nợ xấu ròng cả trước và sau thuế. Nghĩa là, chúng tôi giả định các ngân hàng được hưởng lợi về thuế từ việc ghi nhận nhận lỗ. Sau đó chúng tôi lấy vốn chủ sở hữu trừ đi chi phí xử lý nợ xấu sau thuế để tính tỷ lệ an toàn vốn mới cho các ngân hàng. Nếu tỷ lệ an toàn vốn của bất kỳ ngân hàng nào thấp hơn mức tối thiểu 9%, chúng tôi giả định rằng ngân hàng đó phát hành cổ phiếu mới tại mức BPS điều chỉnh mới để tăng tỷ lệ an toàn vốn lên 9%. Chúng tôi lấy số liệu cho stress test theo kết quả tài chính Quý 3/2012 của các ngân hàng niêm yết.

Giả định nợ xấu theo stress test

Bảng 1 cho thấy tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng theo bốn kịch bản của chúng tôi. Sự khác biệt giữa Kịch bản 1 và tỷ lệ nợ xấu mà ngân hàng báo cáo là chúng tôi đã tính cả các khoản vay nhóm 2 trong tổng nợ xấu của các ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Trường hợp ngoại lệ là VCB có các khoản vay nhóm 2 chiếm 12,6%, cao hơn đáng kể so với các ngân hàng khác do ngân hàng sử dụng cách phân loại nợ xấu gần với tiêu chuẩn quốc tế hơn. Để so sánh VCB với các ngân hàng khác trong Kịch bản 1 và 2, chúng tôi giả định rằng 20% các khoản vay nhóm 2 của VCB là nợ xấu thực tế.

1

Có thể thấy, theo Kịch bản 2 và Kịch bản 3, tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng niêm yết nhìn chung tốt hơn hơn tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành. Nghĩa là, trong Kịch bản 2 tỷ lệ nợ xấu của tất cả các ngân hàng thấp hơn tỷ lệ nợ xấu trung bình 8,8% của NHNN, và theo Kịch bản 3, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng dưới mức chúng tôi ước tính cho toàn ngành là 16,8% sử dụng phương pháp tương tự.

Đáng chú ý, đối với CTG, chúng tôi thêm một trường hợp khác (CTG *) giả định đối tác chiến lược (Ngân hàng Mitsubishi Nhật Bản) sẽ sớm mua 20% cổ phần tại mức giá 23.080 đồng/cổ phiếu. Nếu CTG có thể để huy động được nguồn vốn này, tình hình tài chính của ngân hàng sẽ cải thiện đáng kể.

Mức BPS giảm nhanh theo Kịch bản 3 và 4

Bảng 2 cho thấy mức BPS ước tính của mỗi ngân hàng niêm yết theo các kịch bản của stress test. BPS các ngân hàng không giảm nhiều theo Kịch bản 1, có nghĩa là các ngân hàng dự phòng khá tốt theo mức độ báo cáo hiện tại của nợ xấu. Tuy nhiên, BPS giảm nhanh theo Kịch bản 3 và Kịch bản 4. Ở khía cạnh tích cực, ngay cả trong trường hợp tỷ lệ nợ xấu 20%, tất cả các ngân hàng vẫn duy trì giá trị tài sản ròng dương

2

Ở đây chúng tôi phải đề cập đến khái niệm về tài sản thuế thu nhập hoãn lại trong vốn chủ sở hữu. Trong trường hợp phát sinh lỗ do chi phí xử lý nợ xấu, các ngân hàng sẽ có được tài sản thuế thu nhập hoãn lại bằng 25% số tiền lỗ. Nếu khoản lỗ lớn thì tài sản thuế thu nhập hoãn lại sẽ khá lớn, thậm chí chiếm phần lớn vốn chủ sở hữu. Kế toán nhận ra rằng tài sản thuế thu nhập hoãn lại chỉ có giá trị nếu ngân hàng có thể tạo ra thu nhập chịu thuế trong tương lai, và do đó đôi khi kế toán giới hạn khoản tài sản thuế thu nhập hoãn lại trong tương quan với dự tính thuế sẽ đóng của ngân hàng trong vòng năm năm tới. Hơn nữa, các nhà quản lý ngân hàng nhận ra rằng tài sản thuế thu nhập hoãn lại không phải là vốn thực tế, mà chỉ đóng vai trò như lá chắn thuế trong tương lai, và đôi khi giới hạn tỷ lệ tài sản thuế thu nhập hoãn lại có thể được tính là vốn (ví dụ 10% tổng số vốn). Vấn đề tài sản thuế thu nhập hoãn lại quan trọng do trong Kịch bản 4, tài sản thuế thu nhập hoãn gần như bằng vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng.

3

Giá CP ngân hàng hiện chưa tính tới chiết khấu do nợ xấu tăng

Chúng tôi cho rằng giá hiện nay của CP ngân hàng vẫn chưa có mức chiết khấu cho việc tỷ lệ nợ xấu trên thực tế có thể cao hơn đáng kể so với con số báo cáo hiện tại. Chúng tôi đi đến kết luận này dựa trên PBRs của các ngân hàng được niêm yết trong bốn kịch bản như trong Hình 3. Trừ MBB trong Kịch bản 1, tất cả cổ phiếu ngân hàng hiện đều giao dịch cao hơn giá trị sổ sách.

Thông thường, khi nhà đầu tư lo ngại về nợ xấu, cổ phiếu các ngân hàng có xu hướng được giao dịch tại ngưỡng “BPS điều chỉnh”, tức BPS của ngân hàng điều chỉnh cho tất cả các khoản nợ xấu không được dự phòng. Điểm bất đồng giữa các chuyên viên phân tích nằm ở chỗ mức điều chỉnh bao nhiêu thì hợp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp của Việt Nam, các ngân hàng hiện nay đều giao dịch cao hơn BPS chưa điều chỉnh (dựa theo nợ xấu theo báo cáo), điều này có nghĩa là quá trình điều chỉnh giá theo nợ xấu thực tế vẫn chưa bắt đầu.

4

Vai trò của lợi nhuận cốt lõi trong việc trích lập dự phòng

Lợi nhuận cốt lõi của một ngân hàng, tức thu nhập từ hoạt động cho vay & dịch vụ trừ đi chi phí hoạt động, cho thấy khả năng trích lập dự phòng hàng năm của ngân hàng mà không dẫn đến ghi nhận lỗ. Vì vậy, các ngân hàng với tỷ lệ lợi nhuận cốt lõi/ dư nợ cao hơn có thể xử lý vấn đề nợ xấu nhanh hơn so với các ngân hàng khác. Do quy mô nợ xấu vẫn chưa được xác định một cách chính xác, tỷ lệ lợi nhuận cốt lõi/tín dụng là một thước đo đáng tin cậy trong việc đánh giá độ hấp dẫn của một ngân hàng.

Các ngân hàng có tỷ lệ lợi nhuận cốt lõi/dư nợ cao nhất là MBB và EIB, cũng là các CP đang giao dịch rẻ nhất dựa trên PBR trong cả bốn kịch bản stress test của chúng tôi. Vì vậy, đối với các nhà đầu tư, có lẽ nắm giữ cổ phiếu các ngân hàng này ít rủi ro nhất, dù các mã này vẫn đối mặt với nguy cơ giảm giá.

5

Rủi ro pha loãng

Khi thực hiện stress test, chúng tôi giả định bất kỳ ngân hàng nào có tỷ lệ CAR dưới 9% sẽ phải phát hành thêm cổ phiếu tại mức giá trị sổ sách điều chỉnh. Một số điểm đáng chú ý như sau

Trong cả bốn kịch bản của stress test, EIB và VCB được xem là không cần huy động thêm vốn.

Trong kịch bản xấu nhất, MBB chỉ cần phát hành thêm 83 triệu cổ phiếu, tương đương 20% nợ xấu.

Nếu thương vụ với đối tác chiến lược nước ngoài thành công, CTG cũng không cần huy động thêm vốn ngay cả trong kịch bản nợ xấu lên đến 20%.

26

Kịch bản 1: Sử dụng số liệu nợ xấu theo báo cáo

Trong kịch bản thứ nhất, chúng tôi thuần túy sử dụng tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các ngân hàng và giả định tỷ lệ thu hồi nợ xấu thành công là 30% để tính BPS của các ngân hàng. Trừ trường hợp của VCB, chúng tôi xem các khoản nợ cần chú ý (nhóm 2) là nợ xấu. Chúng tôi chỉ xem 20% nợ nhóm 2 của VCB là nợ xấu vì chúng tôi cho rằng VCB luôn áp dụng phương pháp thận trọng hơn các ngân hàng khác trong việc đánh giá chất lượng tài sản và các khoản vay được cơ cấu lại không chiếm tỷ lệ đáng kể. (Cụ thể, VCB phân loại nợ của EVN là nợ nhóm 2, trong khi một số ngân hàng khác xem nợ của EVN là nhóm 1). Trong kịch bản này, các ngân hàng dường như đã trích lập dự phòng đầy đủ cho nợ xấu và không ngân hàng nào cần thêm vốn.

7

Kịch bản 2: Sử dụng tỷ lệ nợ xấu điều chỉnh theo NHNN

Trong Kịch bản 2, chúng tôi lấy tỷ lệ nợ xấu do NHNN ước tính là 8,8% chia cho mức nợ xấu trung bình theo báo cáo của các ngân hàng là 4,5% để ước tính tỷ lệ nợ xấu của từng ngân hàng, công với tỷ lệ nợ nhóm 2 (riêng đối với VCB, chúng tôi chỉ áp dụng tỷ lệ nợ nhóm 2 là 20% như trong Kịch bản 1). Điều này có nghĩa là, chúng tôi giả định tỷ lệ nợ xấu theo ước tính lên đến 1,95 lần so với báo cáo, trừ VCB và MBB. Đối với hai ngân hàng này, chúng tôi giả định tỷ lệ nợ xấu chỉ là 1,5 lần so với báo cáo vì VCB và MBB áp dụng các tiêu chuẩn định tính lẫn định lượng khi phân loại nợ. Kịch bản 2 cũng cho thấy không ngân hàng nào trong số các ngân hàng được niêm yết cần được tái cấp vốn.

8

Kịch bản 3: Nợ xấu tính theo nhóm ngành

Trong kịch bản này, chúng tôi áp dụng tỷ lệ nợ xấu đối với từng ngành nghề như đã thực hiện đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng trong báo cáo “Khó khăn nhưng chưa phải là bế tắc”. Lập luận của chúng tôi cho các tỷ lệ này như sau:

Bất động sản là tác nhân chính khiến nợ xấu tăng cao, do giá trị bất động sản tồn kho rất lớn và khó xác định (ví dụ: bất động sản tồn kho của các công ty được niêm yết lên tới 84.000 tỷ đồng, tương đương 32,3% tổng dư nợ cho bất động sản);

(ii) Ngành xây dựng là một trong 6 ngành có tỷ lệ nợ xấu cao nhất, chiếm tới 9,5% tổng nợ xấu theo báo cáo. Hiện ngành xây dựng có 93.000 tỷ đồng hàng tồn kho, tương đương 33% tổng dư nợ toàn ngành.

(iii) Sản xuất và giao thông vận tải cũng nằm trong số 6 ngành có tỷ lệ nợ xấu cao nhất hệ thống, lần lượt chiếm 22,5% và 11%. Ngành sản xuất chịu tác động tiêu cực trong bối cảnh môi trường kinh doanh gặp khó khăn do cầu giảm và lượng hàng tồn kho cao.

Trong kịch bản này, thiệt hại của từng ngân hàng sẽ khác nhau, tùy theo sự khác biệt phân loại tín dụng theo nhóm ngành: các ngân hàng cho các lĩnh vực rủi ro cao vay nhiều hơn sẽ có tỷ lệ nợ xấu lớn hơn. Tỷ trọng cho từng ngành được dựa trên báo cáo gần đây nhất của các ngân hàng được niêm yết. Trong kịch bản 3, EIB, MBB và VCB vẫn đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 9%. Nếu thương vụ của CTG với đối tác chiến lược Nhật Bản thành công, ngân hàng này sẽ không cần phát hành thêm 1,76 tỷ cổ phiếu tại mức giá trị sổ sách điều chỉnh.

10

11

12

Kịch bản 4: Tỷ lệ nợ xấu là 20%

Trong kịch bản thứ tư, chúng tôi áp dụng tỷ lệ nợ xấu 20% cho các ngân hàng. VCB, với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 14,5%, và EIB với 15,2%, vẫn không cần thêm vốn. CTG, nhờ triển vọng hợp tác của Mitsubishi, cũng không cần phát hành thêm cổ phiếu. MBB, trong kịch bản xấu nhất này, cần phát hành 83 triệu cổ phiếu, một con số không đáng kể.

13

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

 

 

 

 

hotline