Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Ngành Ngân hàng - Liệu những khó khăn đã qua?

Được đăng vào 26-1-2011

Năm 2010 đánh dấu một năm đầy thử thách đối với ngành ngân hàng. Trong khi VNIndex chỉ giảm 2% thì giá các cổ phiếu ngân hàng đã giảm 18% do ảnh hưởng của hàng loạt đợt phát hành mới gây ra tình trạng pha loãng cổ phiếu cộng với những thay đổi trong quy định về hoạt động của ngành ngân hàng. Khi các quy định mới có hiệu lực, những ngân hàng lớn với nguồn vốn lớn và do đó chi phí vốn thấp hơn, khả năng quản lý nợ - tài sản hiệu quả hơn, chi phí hoạt động thấp hơn sẽ có nhiều cơ hội tăng trưởng cũng như khả năng sinh lợi cao hơn các ngân hàng khác.

Quy mô vốn nhỏ, tỷ lệ cho vay từ nguồn vốn huy động (LDR) cao, nguy cơ nợ xấu (NPL) tăng là những rủi ro chính của ngành ngân hàng. Trong năm 2011 vẫn còn 10 ngân hàng nhỏ cần phải tăng vốn ít nhất 12.000 tỷ đồng (tương đương 600 triệu USD) để đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu 3.000 tỷ đồng của Ngân hàng Nhà nước vào cuối năm. Tỷ lệ LDR cao cộng với việc phụ thuộc quá nhiều vào các khoản vay tại các tổ chức tín dụng khác trong khi tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động dẫn đến mất cân đối nguồn vốn tại các ngân hàng. Ngoài ra, việc cho vay các doanh nghiệp Nhà nước lớn như Vinashin có thể khiến tỷ lệ nợ xấu tăng và làm giảm lợi nhuận của hệ thống ngân hàng.

Các quy định mới sẽ là tiền đề giúp hệ thống ngân hàng nâng cao năng lực hoạt động trong dài hạn. Quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu của Nghị định 141 kết hợp với các yêu cầu của Thông tư 13 về nguồn vốn huy động, tỷ lệ an toàn vốn (CAR), hệ số rủi ro đối với các khoản vay đầu tư chứng khoán và bất động sản sẽ dẫn tới những thay đổi đáng kể trong hoạt động của các ngân hàng thương mại khi phải tiến hành tăng vốn và cơ cấu lại tài sản. Với tốc độ phục hồi ngày càng nhanh của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện và số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) tăng dần, các ngân hàng đang có tiềm năng rất lớn để phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng như các dịch vụ tài chính cho SMEs.

- Chúng tôi cho rằng thời điểm hiện tại là cơ hội thuận lợi để tích lũy cổ phiếu ngân hàng nhất là những ngân hàng đứng đầu về thị phần và có tiềm lực tài chính mạnh. Các chỉ số định giá của nhóm cổ phiếu ngân hàng đang ngày càng trở nên hấp dẫn với mức PE2010 dự kiến là 9,9x và PB bình quân là 1,8x, thấp hơn các chỉ số chung của thị trường. So với các ngân hàng khác trong khu vực, ngành ngân hàng Việt Nam có ROE 18% và ROA 1,5%, cao hơn so với ROE 15,7% và ROA 1,3% của các ngân hàng khác trong khu vực.

Chúng tôi thích các cổ phiếu ACB, STB và EIB vì (i) đây là những ngân hàng tiên phong trong các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam với thương hiệu đã được khẳng định, (ii) giai đoạn tái cơ cấu sẽ là cơ hội tốt cho các ngân hàng lớn có tiềm lực tài chính mạnh mua được những tài sản giá rẻ và mở rộng thị phần trong tương lai, (iii) các chỉ số định giá hấp dẫn và có khả năng nâng cao lợi nhuận. Chúng tôi cũng nhận thấy VCB và CTG có nhiều khả năng tăng giá vì đây là hai ngân hàng hàng đầu Việt Nam với tỷ lệ sở hữu dành cho nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn khá lớn.

Tiêu điểm đầu tư?

Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận vẫn được duy trì ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng

Hai năm qua là thời gian đầy thử thách đối với ngành ngân hàng thế giới. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tránh được những tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trung bình năm 2008 đạt 26% và năm 2009 là 47%

5

Trong ba quý đầu năm 2010, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do những quy định mới của ngành ngân hàng nhưng lợi nhuận sau thuế bình quân của các ngân hàng lớn vẫn tăng trưởng trên 23%.

Tỷ lệ chi phí/lợi nhuận thấp

Tỷ lệ chi phí/lợi nhuận của ngành ngân hàng Việt Nam trung bình khoảng 40%, thấp hơn nhiều so với các ngân hàng khác trong khu vực và chỉ cao hơn các ngân hàng của Trung Quốc và Sing

6

Các chỉ số hiệu quả hoạt động tốt

Quy mô vốn nhỏ kết hợp với khả năng quản lý chi phí tốt là những lợi thế giúp các ngân hàng Việt Nam đạt được tỷ suất lợi nhuận cao. Ngoại trừ EIB đã nhanh chóng tăng vốn trong năm 2007, các ngân hàng khác đều có ROE ở mức hai chữ số.

7

Tiềm năng phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và các dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) là lợi thế giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam nâng cao các tỷ số hiệu quả hoạt động Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt trên 100 tỷ USD với GDP bình quân đầu người đạt gần 1.200USD/người, tăng gấp đôi trong vòng 5 năm qua. Dân số trẻ cộng với thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ gia tăng. Đặc điểm dân số là yếu tố hỗ trợ tích cực cho tốc độ tăng trưởng của các dịch vụ thanh toán, thẻ tín dụng và các dịch vụ tài chính cá nhân.

8

Ngoài ra, khu vực kinh tế tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trong 10 năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 24%. Trong năm 2008, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân chi khu vực nhà nước. trợ hơn từ chính phủ góp vào tổng vốn đầu t trong năm 2010. S vụ đầu tư phát triển Hình 5: Tốc độ tăng tr Cơ cấu tổng vốn đầu tư .

9

Các chỉ số định giá hấp dẫn

10

Các chỉ số định giá của nhóm cổ phiếu ngân hàng đang ngày càng trở nên hấp dẫn với PE bình quân hiện nay là 8,9x và PB bình quân là 1,6x, thấp hơn các chỉ số chung của thị trường. Đặc biệt, cổ phiếu các ngân hàng thương mại lớn như ACB, STB và EIB còn được giao dịch ở mức thấp hơn vì đây là những cổ phiếu có tính thanh khoản cao và tỷ lệ sở hữu dành cho nhà đầu tư nước ngoài đã hết (tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với ngành ngân hang hiện nay là 30% vốn điều lệ).

11

So với các ngân hàng khác trong khu vực, ngành ngân hàng Việt Nam có ROE 18% và ROA 1,5%, cao hơn so với ROE 15,7% và ROA 1,3% của các ngân hàng trong khu vực.

12

Chúng tôi tin rằng thời điểm hiện tại rất thích hợp để tích lũy cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng lớn có thị phần đáng kể và năng lực tài chính mạnh. Chúng tôi thích các cổ phiếu ACB, STB, EIB vì (i) đây là những ngân hàng tiên phong trong phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam với thương hiệu đã được khẳng định, (ii) giai đoạn tái cơ cấu sẽ là cơ hội tốt cho các ngân hàng lớn có tiềm lực tài chính mạnh mua được nhiều tài sản giá rẻ và mở rộng thị phần trong tương lai, (iii) các chỉ số định giá hấp dẫn và có khả năng nâng cao lợi nhuận. Chúng tôi cũng nhận thấy VCB và CTG có nhiều khả năng tăng giá vì đây là hai ngân hàng hàng đầu Việt Nam với tỷ lệ sở hữu dành cho nhà đầu tư nước ngoài còn khá lớn.

12

Những thay đổi về quy chế hoạt động sẽ là nền tảng để nâng cao năng lực của ngành trong dài hạn

Để nâng cao năng lực hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi nhiều quy định mới tác động đến hoạt động của các ngân hàng thương mại trong năm 2010 và những năm sắp tới

14

15

Thông tư 13 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sẽ tạo ra những thay đổi cơ bản quan trọng mà các ngân hàng thương mại phải thực hiện và điều chỉnh trong quá trình hoạt động cũng như cần phải có chiến lược phát triển phù hợp

Ảnh hưởng của Nghị định 141 đối với hệ thống ngân hàng

Nghị định 141/2006/ND-CP ban hành ngày 22/11/2006 yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng (tương đương 150 triệu USD) vào cuối năm 2010.

Đầu năm 2010, hệ thống ngân hàng Việt Nam có 22 ngân hàng thương mại có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng và toàn ngành cần tăng ít nhất 33.000 tỷ đồng mới có thể đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu.

Song song đó, các ngân hàng thương mại lớn cũng lập kế hoạch tăng vốn để đáp ứng yêu cầu về hệ số an toàn vốn (CAR) mới. Do vậy, nguy cơ thừa cung đã khiến cổ phiếu ngành ngân hàng trải qua một năm 2010 ảm đạm. Tính đến tháng 12/2010, vẫn còn 10 ngân hàng thương mại nhỏ không thể tăng vốn theo yêu cầu.

( Mở tài khoản chứng khoán miễn phí tại đây ) 

Trong năm 2010, các ngân hàng này chỉ thu hút được khoảng 3.507 tỷ đồng, tương ứng chỉ bằng khoảng ¼ tổng nhu cầu vốn. Tuy nhiên, ngày 14/12/2010, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép kéo dài thời hạn tăng vốn đến cuối năm 2011.

Quyết định này đã làm dịu bớt áp lực tăng vốn gấp rút tại các ngân hàng trong năm 2010 và giúp cổ phiếu ngành ngân hàng phục hồi trở lại, tạo cơ sở để kế hoạch tăng vốn trong năm 2011 thành công hơn.

16

1

Tác động của Thông tư 13 đối với hệ thống ngân hàng Thông tư 13 đề ra một loạt quy định bắt buộc đối với ngành ngân hàng, gồm có:

- Nâng tỷ lệ CAR từ 8% lên 9%.

- Tỷ lệ cho vay từ nguồn vốn huy động không được vượt quá 80%.

- Cho vay đầu tư chứng khoán và cho vay bất động sản có hệ số rủi ro là 250% (trước đây là 100%).

- Các khoản góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng khác và của công ty con bị loại trừ ra khỏi nguồn vốn cấp 1.

- Tổng vốn đầu tư vào các công ty con, công ty trực thuộc không được vượt quá 25% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng.

- Tổng các khoản đầu tư, góp vốn vào tất cả các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư hay các tổ chức tín dụng khác và công ty trực thuộc không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng.

- Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là công ty chứng khoán và không được cho vay không có đảm bảo để đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Tổng dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của ngân hàng.

Để đáp ứng những quy định mới của Ngân hàng nhà nước, các ngân hàng sẽ phải thực hiện cơ cấu lại tài sản và hoạt động, kéo theo chi phí vốn tăng và biên thu nhập lãi ròng giảm.

Nâng cao năng lực tài chính

Hiện tại chỉ có 10 trong số 40 ngân hàng có vốn điều lệ trên 5.000 tỷ đồng, trong đó chỉ có 3 ngân hàng có vốn điều lệ trên 10.000 tỷ đồng là VCB, CTG và EIB (trừ 2 ngân hàng thương mại nhà nước lớn là BIDV và Agribank).

Vốn điều lệ trung bình hiện nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam là 3.666 tỷ đồng (tương đương 183 triệu USD), thấp hơn nhiều so với các ngân hàng trong khu vực.

Do đó, áp lực tăng vốn của hệ thống ngân hàng là một sức ép rất lớn đối với ngành không chỉ trong năm 2010 mà có thể còn kéo dài trong 2-3 năm tới. 10 ngân hàng nhỏ hiện có vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng sẽ phải hoàn thành kế hoạch tăng vốn vào năm 2011.

Ngoài ra, các ngân hàng lớn như CTG cũng có kế hoạch tăng vốn từ 15.172 tỷ lên khoảng 30.000 tỷ đồng trong năm này.

Mở rộng nguồn huy động vốn

Trước khi có Thông tư 22, các ngân hàng được phép chuyển đổi tiền gửi bằng vàng thành đồng VND để cho vay. Tuy nhiên, khi quy định này không còn, các ngân hàng buộc phải tăng huy động bằng VND, chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa vốn huy động và vốn cho vay.

Chúng tôi còn nhận thấy các ngân hàng đang tiến hành thoái vốn tại các tổ chức tín dụng khác và giảm đầu tư vào các lĩnh vực ngoài hoạt động kinh doanh chính để tăng cường vốn chủ sở hữu do các khoản đầu tư này đều bị loại trừ khỏi vốn cấp 1. Điển hình như VCB đã bán một phần sở hữu tại EIB và PVD.

Phát hành trái phiếu dài hạn

Do được phép đưa trái phiếu có kỳ hạn trên 5 năm vào vốn cấp 2 nên nhiều ngân hàng đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu dài hạn có hoặc không có quyền chuyển đổi nhằm giúp các ngân hàng tăng cường khả năng quản lý nợ-tài sản và giảm rủi ro thanh khoản. ACB và Techcombank đã phát hành khoảng 3.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm để tăng vốn

Giảm cho vay đầu tư chứng khoán và bất động sản, tăng cho vay tiêu dùng

Các ngân hàng thường tính lãi suất cao hơn cho các khoản vay đầu tư chứng khoán và bất động sản. Tuy nhiên, các khoản vay này hiện có hệ số rủi ro cao 250% nên sẽ tác động đến chi phí vốn và giảm thu nhập từ lãi.

Việc mở rộng nguồn huy động vốn sẽ làm tăng chi phí vốn của các ngân hàng. Trong khi đó, nếu giảm cho vay vào các lĩnh vực có khả năng chịu lãi suất cao như chứng khoán, bất động sản sẽ khiến thu nhập từ lãi của các ngân hàng giảm. Do đó, chúng tôi tin rằng các ngân hàng sẽ tập trung hơn vào các khoản vay tiêu dùng, lĩnh vực có thể chấp nhận lãi suất cao hơn nhưng hệ số rủi ro thì thấp hơn.

Các quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 đối với hoạt động ngân hàng

Luật Các tổ chức tín dụng quy định các ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán, cho thuê tài chính và bảo hiểm. Trong khi đó, theo quy định tại Thông tư 13 thì các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con bị loại trừ khỏi nguồn vốn cấp 1. Theo quy định mới, chỉ các tổ chức tín dụng mới được phép thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng bao gồm huy động vốn, cho vay và các dịch vụ thanh toán qua tài khoản đối với các tổ chức và cá nhân.

Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính sẽ không được nhận tiền gửi của cá nhân và thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản cho khách hàng. Do đó, các công ty tài chính như PVF sẽ gặp nhiều khó khăn khi chỉ được phục vụ các khách hàng tổ chức, không được mở rộng đến các khách hàng cá nhân trong khi phân khúc bán lẻ đang ngày càng trở nên quan trọng đối với các ngân hàng thương mại. Các tổ chức tín dụng không được cho vay:

- đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát.

- nếu tài sản đảm bảo là cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng.

- để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác nếu tài sản đảm bảo là cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp

Ngoài ra, theo luật mới, các ngân hàng còn phải tuân thủ các yêu cầu sau:

Tổng dư nợ tín dụng đối với một công ty con, công ty liên kết hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền chi phối không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng và không được vượt quá 20% vốn tự có đối với dư nợ cho tất cả các công ty con, công ty liên kết hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền chi phối.

- Tổng mức dư nợ tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng và tổng mức dư nợ đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Các rủi ro trong ngành ngân hàng

Rất nhiều ngân hàng Việt Nam có quy mô vốn nhỏ so với tổng tài sản

Cuối năm 2009, theo The Asian Banker, tổng tài sản trung bình của 10 ngân hàng lớn nhất Việt Nam là 8.363 triệu USD hay 6.694 triệu USD nếu không tính ngân hàng Agribank. Quy mô vốn nhỏ đã tạo nhiều áp lực cho các ngân hàng Việt Nam khi phải tăng vốn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Vì CAR của mỗi quốc gia khác nhau nên chúng tôi sử dụng tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản để so sánh các ngân hàng Việt Nam với khu vực.

2

Ngay cả các ngân hàng lớn như VCB hay CTG cũng chỉ có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản dưới 8% tính đến hết quý 3/2010. Như vậy, đối với nhiều ngân hàng trong nước, tỷ lệ CAR tối thiểu 9% mà Thông tư 13 yêu cầu thực hiện từ ngày 01/10/2010 sẽ khó có thể đạt được.

3

Tỷ lệ LDR cao Đến cuối quý 3/2010 có 4 trong số 5 ngân hàng trong danh sách nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ cho vay từ nguồn vốn huy động (LDR) trên 80%. Thông tư 19 mở rộng khái niệm tổng nguồn vốn huy động để cho vay khi tính toán LDR đã giúp giảm bớt khó khăn cho các ngân hàng trong việc huy động vốn. Các nguồn vốn ngân hàng có thể sử dụng để cho vay bao gồm:

 Tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của cá nhân.

 Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức bao gồm cả các tổ chức tín dụng khác.

 25% tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng). Điều này có nghĩa là khoản tiền gửi khoảng 52.000 tỷ của Kho bạc nhà nước bao gồm 20.000 tỷ tại Agribank, BIDV, VCB, CTG sẽ giúp các ngân hàng thương mại lớn giảm chi phí vốn, tiếp tục là một phần lợi thế của những ngân hàng này.

 Tiền vay của tổ chức trong nước, của tổ chức tín dụng khác có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên.

 Vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá.

4

Rủi ro thanh khoản cao

5

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc

 

hotline