Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Khó khăn nhưng chưa phải là bế tắc

Được đăng vào 12-12-2012

Khó khăn nhưng chưa phải là bế tắc

Chúng tôi cho rằng ngành ngân hàng Việt Nam đang gặp khó khăn, và khó tìm ra một giải pháp toàn diện mà không gây tổn thất cho một bên nào đó. Khi ngân hàng vướng phải nợ xấu, sẽ phải có một bên nào đó gánh chịu chi phí này: phía đi vay, ngân hàng, hoặc người nộp thuế. Chúng tôi ước tính chi phí để làm sạch nợ xấu của cả ngân hàng vào khoảng 15 tỷ USD. Chỉ có một câu hỏi là liệu Việt Nam có đủ dũng cảm hành động ngay bây giờ không hay sẽ không có biện pháp gì cụ thế, tất yếu dẫn đến bế tắc.

Trường hợp khả quan nhất: Học tập mô hình Hàn Quốc

Tất cả vấn đề mà ngành ngân hàng Việt Nam hiện gặp phải từng phổ biến ở các nước như Indonesia, Thái Lan và Hàn Quốc trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Những nước trên đã phải trải qua khủng hoảng ngân hàng và kinh tế nghiêm trọng trước khi tìm ra giải pháp và cải tổ lại các ngân hàng của họ. Biết được những gì đang chờ đợi, Việt Nam có thể ngăn chặn trước từ bây giờ, và tránh khỏi tác động của một cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn diện. Nếu được vậy thì tăng trưởng GDP sẽ được cải thiện trở lại.

Trường hợp xấu nhất: Theo chân Nhật Bản

Nhiều nước đã cố gắng để giải quyết vấn đề nợ xấu bằng cách buộc các ngân hàng âm thầm trích lập dự phòng, bằng cách tái cấp vốn cho các khách hàng đang gặp khó khăn, và hy vọng thị trường bất động sản phục hồi. Cách tiếp cận này cuối cùng luôn thất bại, và càng kéo dài thì nền kinh tế càng suy yếu. Do nợ xấu dai dẳng trên bảng cân đối kế toán, ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận, lãnh đạo phải tập trung giải quyết nhiều vấn đề, và niềm tin vào ngành ngân hàng bắt đầu sụp đổ. Chúng tôi đã thấy các ngân hàng Việt Nam trở nên dè dặt hơn khi cho vay ra, điều này đã đặc biệt ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhỏ.

Ước tính chi phí cải cách ngân hàng

Chúng tôi ước tính rằng nợ xấu của ngành ngân hàng Việt Nam vào khoảng 470.000 tỷ đồng, hoặc 18% tổng dư nợ. Chúng tôi kết luận như vậy dựa trên cơ cấu tín dụng theo ngành, cơ cấu tín dụng theo nhóm khách hàng cũng như tổng dư nợ/GDP của Việt Nam. Giả sử tỷ lệ thu hồi nợ thành công là 30%, tổng chi phí xử lý các khoản nợ xấu sẽ là 330.000 tỷ đồng, tương ứng 15 tỷ USD. Con số này có thể trong khả năng kiểm soát với đóng góp từ cổ đông của các ngân hàng, Chính phủ, và các nhà đầu tư nước ngoài.

Tín hiệu rõ ràng cho quyết định đầu tư

Những diễn biến của ngành ngân hàng trong năm 2013 sẽ phần nào xác định xu xu hướng của thị trường chứng khoán. Nếu khủng hoảng ngân hàng xảy ra trong năm tới, chắc chắn sẽ không còn ai nắm giữ cổ phiếu nữa do mức độ rủi ro của nó. Nếu Việt Nam tìm cách trì hoãn, CP ngân hàng và bất động sản sẽ là đồng tiền chết, thị trường tiếp tục gặp khó khăn. Tuy nhiên, nếu Việt Nam đưa ra được giải pháp rõ ràng hơn thì chỉ nhóm CP ngân hàng và bất động sản bị ảnh hưởng. Các ngành khác có thể khởi sắc hơn nhờ hy vọng kinh tế dần phục hồi.

Việt Nam hiện không có khủng hoảng ngân hàng

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay có vẻ khá ảm đạm. Điều này đáng ngạc nhiên vì thoạt nhìn thì Việt Nam đã thành công trong giải quyết một số vấn đề kinh tế như lạm phát đã được đưa xuống từ 23% hồi năm ngoái xuống mức 7% hiện nay, tăng trưởng GDP thực tế đạt trên 5%, cán cân thương mại thặng dư, kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến tăng, và đồng nội tệ ổn định.

Lý do cho sự ảm đạm này dường như đến từ suy nghĩ rằng Việt Nam đang có khủng hoảng ngân hàng. Đây là quan niệm sai lầm. Dựa trên kinh nghiệm cá nhân của tôi qua cuộc khủng hoảng ngân hàng ở Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia, và Hàn Quốc, tôi chắc chắn rằng hiện nay Việt Nam không có khủng hoảng ngân hàng toàn diện. Nếu có khủng hoảng ngân hàng thì chúng ta có thể nhận biết ngay. Nợ xấu tăng, thị trường chứng khoán sụp đổ, kinh tế suy giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng và lạm phát tăng mạnh. Hãy xem các ví dụ số liệu kinh tế từ cuộc khủng hoảng trước đây. Đó mới là những gì tôi gọi là một cuộc khủng hoảng ngân hàng!

1

2

3

4

5

Nhưng vẫn có khả năng xảy ra khủng hoảng ngân hàng

Dù khủng hoảng ngân hàng chưa xảy ra ở Việt Nam nhưng dấu hiệu khó khăn vẫn còn phía trước. Một là tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 5% so với cùng kỳ năm ngoái, mặc dù trong thực tế nền kinh tế tăng trưởng đạt trên 5%, tỷ lệ lạm phát ở mức 7% và tăng trưởng huy động đạt 16%. Ngân hàng lo ngại mở rộng tín dụng? Các công ty và cá nhân đang giảm tỷ lệ vay nợ?

Dấu hiệu khác là tỷ giá liên ngân hàng đã giảm mạnh, thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Các ngân hàng đang giảm hoạt động huy động và tín dụng liên ngân hàng. Bản thân các ngân hàng lo ngại khi giao dịch với các ngân hàng khác?

6

7

Áp dụng lý thuyết Mosaic đối với ngân hàng Việt Nam

Trái ngược với những gì các nhà đầu tư và môi giới nghĩ, chuyên viên phân tích không thể dự đoán trước tương lai. Các chuyên viên phân tích tốt chỉ có thể gắn kết các dữ kiện có liên quan và sau đó cố gắng đưa ra một giả thiết về những gì có thể diễn ra. Dưới đây là một số các dữ kiện giúp chúng tôi kết luận rằng các ngân hàng Việt Nam đang gặp khó khăn.

Tăng trưởng tín dụng cao từ năm 2008

Tăng trưởng tín dụng cao luôn luôn là một tín hiệu cảnh báo do tăng trưởng tín dụng quá nóng thường dẫn đến đổ vỡ tín dụng sau đó. Các ngân hàng chỉ có thể tăng trưởng tín dụng đến một mức độ nào đó vì số lượng khách hàng vay đáng tin cậy không nhiều. Ở Việt Nam, tổng dư nợ tín dụng đã tăng từ 1.068.000 tỷ đồng vào cuối năm 2007 lên 2.655.000 tỷ đồng vào cuối năm 2011. Đây là giai đoạn nền kinh tế không tăng trưởng mạnh mẽ. Vậy thì tất cả số tiền đó đã đi đâu?

8

Tỷ lệ dư nợ/GDP rất cao

Việt Nam cũng có tỷ lệ dư nợ so với quy mô GDP và GDP bình quân đầu người rất cao. Khi bong bóng kinh tế Nhật Bản nổ ra vào năm 1989, tổng dư nợ đạt 114% GDP, được coi là một mức rất cao thời kỳ đó. Việt Nam đã chạm tỷ lệ này dù tỷ lệ dư nợ/GDP bình quân đầu người thấp hơn nhiều.

Nếu chúng ta so sánh tín dụng của nền kinh tế Việt Nam với tín dụng của hai nền kinh tế gần nhất trong khu vực - Indonesia và Philippines - chúng ta thấy rằng dư nợ của Việt Nam rất cao. Ngay cả khi tín dụng tăng trưởng cao nhất vào năm 1997, tỷ lệ dư nợ/GDP ở hai nước này chỉ đạt 60%, và hiện nay ở mức an toàn 32%.

9

Chúng tôi thấy rằng quá trình tích lũy dư nợ/GDP của Việt Nam có vẻ rất giống với Thái Lan và Malaysia trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cách 13 năm so với Việt Nam. Việt Nam đang lặp lại cùng một mô hình tăng trưởng tín dụng như các nước Đông Nam Á khác, chỉ khác là xảy ra sau đó 13 năm. Tỷ lệ dư nợ/GDP lúc cao điểm nhất ở Việt Nam thấp hơn, nhưng GDP/đầu người của Việt Nam cũng thấp hơn mức của Thái Lan và Malaysia cách đây 13 năm.

10

Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và bong bóng bất động sảnHOLD

Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 01/2007 đã kích hoạt bong bóng thị trường chứng khoán và bất động sản. Khía cạnh kinh tế tích cực của việc gia nhập WTO là FDI được cấp phép tăng cao. FDI được cấp phép tăng từ 4,2 tỷ USD trong năm 2005 lên 9,2 tỷ USD trong năm 2006, 17,8 tỷ USD trong năm 2007, và đạt con số đáng kinh ngạc 66,5 tỷ USD trong năm 2008. Mặc dù vốn FDI thực hiện chưa đạt đến mức này nhưng vốn FDI đã giúp Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu mạnh và đóng góp vào tổng GDP

11

Thật không may, việc gia nhập WTO cũng kích thích các nhà đầu cơ vào thị trường chứng khoán và bất động sản. Nhiều quỹ đầu tư đã được thành lập năm 2007 để "đón đầu làn sóng", nhưng sau khi góp phần thổi phồng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư này đã gặp nhiều khó khăn. Điều này tương tự như dòng "tiền nóng" vào khu vực Đông Nam Á trong những năm 1990.

Đầy tự tin vào tương lai, các ngân hàng Việt Nam đã cấp tín dụng thoải mái trong năm 2008, 2009 và 2010 khi hầu hết tất cả các công ty từ bỏ mảng kinh doanh cốt lõi và đổ xô vào bất động sản. Hầu hết các công ty trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi dường như đều tham gia vào bất động sản, thường bằng cách cung cấp đất chưa khai thác cho một dự án liên doanh. Giá bất động sản lên đến đỉnh điểm trong năm 2008 và đã giảm dần từ đó.

Không nghi ngờ gì nhu cầu về nhà ở vẫn tăng lên nhưng vấn đề chính là hầu hết các chủ đầu tư tập trung vào phát triển khu dân cư cao cấp, chỉ phù hợp cho những đối tượng có khả năng tài chính dư dả. Điều này đặc biệt đúng khi lãi suất cho vay mua nhà trên 14%. Kết quả là người ta ước tính hiện có tồn kho 70.000 căn hộ trên thị trường, giả sử mỗi căn hộ có giá 70.000 USD thì tương đương khoảng 5 tỷ USD nợ xấu. Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã tính toán rằng tín dụng cho lĩnh vực bất động sản thực tế có thể lên tới 348 tỷ đồng vào cuối năm 2011 (chứ không phải 193 tỷ đồng như báo cáo), với một mức nợ xấu "điều chỉnh" lên đến 56,8 tỷ đồng (chứ không phải 6,7 tỷ đồng như báo cáo ), tương đương tỷ lệ nợ xấu 16%.

12

Do chi phí lãi vay cao, các khoản tín dụng cho các chủ đầu tư dễ dàng trở thành nợ xấu. Giả sử một công ty mua đất vào cuối năm 2008 để phát triển dự án, nhưng không thể thực hiện và cuối năm 2012 bán lại đất bằng với giá đã mua. Bốn năm trả lãi vay với lãi suất 15%/năm đồng nghĩa với việc công ty chỉ có thể thu hồi lại 57% tổng chi phí.

Tín dụng cho doanh nghiệp Nhà nước

Chúng tôi quan ngại về các khoản cho vay cho các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vì một số lý do. Đầu tiên, các ngân hàng sẵn sàng cấp tín dụng cho các DNNN không phải vì mức độ tin cậy của các doanh nghiệp này mà vì có thể được Chính phủ bảo lãnh và hỗ trợ. Chính vì vậy mà các DNNN thường hoạt động không hiệu quả, và thường dẫn đến các khoản đầu tư xấu.

Thứ hai, báo cáo tài chính của các DNNN là không thể tiếp cận. Điều này gây khó khăn trong việc tìm hiểu thực tế vay nợ và khả năng thanh toán nợ của các DNNN. Bảng bên dưới là số liệu công bố cho báo chí trong một phiên thảo luận về cải cách DNNN, là một trong những báo cáo tài chính DNNN duy nhất mà chúng tôi tìm thấy. Trong năm 2010, các khoản nợ của các DNNN đã lên đến 1.044.000 tỷ đồng so với vốn là 632.000 tỷ đồng. Số liệu nợ năm 2011 được công bố là 1.292.000 tỷ đồng.

14

Thứ ba, chúng tôi cho rằng các khoản vay thực tế của các DNNN cao hơn so với con số báo cáo 490.000 tỷ đồng, tương đương 19% tổng dư nợ. Lý do là các DNNN đóng góp 33% vào GDP của Việt Nam, vì vậy sẽ hợp lý hơn nếu tỷ lệ nợ của các DNNN bằng khoảng một phần ba tổng dư nợ. Các DNNN cũng thành lập nhiều công ty con, do đó tình hình tài chính thực tế của các doanh nghiệp này không rõ ràng. Chỉ riêng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Điện lực Việt Nam có tổng nợ phải trả là 544.000 tỷ đồng vào cuối năm 2011

Chúng tôi ước tính tổng dư nợ các DNNN vào khoảng 780.000 tỷ đồng với giả định 60% tổng các khoản phải trả của các doanh nghiệp này là nợ (phần còn lại sẽ là các khoản phải trả khác và quỹ dự trữ). Con số này tương ứng với tỷ lệ nợ vay của các DNNN lên đến 30% tổng dư nợ, gần bằng tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp này vào GDP.

15

Quá nhiều ngân hàng trong hệ thống

Việt Nam có quá nhiều ngân hàng dẫn đến tình trạng phát triển manh mún, không hiệu quả, cạnh tranh về giá quá mức, và gặp vấn đề trong giám sát quản lý. Hiện Việt Nam có 2 ngân hàng chính sách, 5 ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, và 5 ngân hàng liên doanh.

Chúng tôi quan tâm chủ yếu đến các NHTM cổ phần nhỏ và chưa niêm yết. Điều này là do nhiều ngân hàng được thành lập chỉ nhằm mục đích giúp các chủ ngân hàng tiếp cận dễ dàng với các khoản tín dụng. Không ai biết các ngân hàng này hoạt động ra sao, và người ta lo ngại các cổ đông của các ngân hàng này cũng đã vay vượt quá vốn họ đầu tư vào ngân hàng. Thông thường, trong bất kỳ cuộc khủng hoảng ngân hàng nào, các ngân hàng nhỏ thường gặp khó khăn đầu tiên.

Chúng tôi cho rằng nên so sánh số lượng các ngân hàng tại Việt Nam hiện nay với số lượng ngân hàng ở những nước châu Á khác, cả trước và sau cuộc khủng hoảng ngân hàng. Ví dụ như hệ thống ngân hàng Hàn Quốc từng có 26 ngân hàng, nhưng bây giờ cả nước chỉ còn 5 ngân hàng thương mại. Vào năm 1989, Nhật Bản từng có 3 ngân hàng tín dụng dài hạn, 13 ngân hàng thành phố, và 7 ngân hàng tín thác; hiện nay còn 4 nhóm ngân hàng, cộng với 3 ngân hàng độc lập. Thái Lan từng có 15 ngân hàng trước cuộc khủng hoảng tài chính và 56 công ty tài chính; hiện nay chỉ còn 7 ngân hàng nội địa. Indonesia từng có 222 ngân hàng, nhưng hiện giảm xuống còn 120 ngân hàng.

16

Bí ẩn tín dụng liên ngân hàng

Tỷ lệ lớn trong tổng tài sản của các ngân hàng Việt Nam là các khoản cho vay liên ngân hàng. Các ngân hàng giải thích rằng họ đang cho các ngân hàng huy động yếu vay vốn. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy thì sẽ có một số ngân hàng vay liên ngân hàng và các ngân hàng khác cho vay liên ngân hàng; nhưng thay vào đó các ngân hàng vừa vay và cho vay liên ngân hàng

Chúng tôi cho rằng ắt hẳn phải có nguyên nhân khác. Ở Trung Quốc, cho vay liên ngân hàng không khác gì cho vay doanh nghiệp, chỉ khác là được ngân hàng bảo đảm. Thông thường, ngân hàng muốn cho một khách hàng vay nhiều hơn nhưng không thể do có hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng. Do đó, ngân hàng nhờ một ngân hàng thứ hai cho vay, sau đó đảm bảo rủi ro cho khoản vay này. Ngân hàng thứ hai xem khoản này như cho vay liên ngân hàng do có bảo lãnh từ ngân hàng kia. Tín dụng liên ngân hàng thường được xem là phi rủi ro. Tuy nhiên, do bản thân ngân hàng cũng gặp khó khăn nên các khoản vay này tiềm ẩn nhiều rủi ro

17

Nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997

Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đang đối mặt với một số vấn đề tương tự những vấn đề các ngân hàng Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Indonesia gặp phải trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997. Vì Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng đó, và do nhiều người Việt Nam còn quá trẻ nên không nhớ gì về sự kiện này, chúng tôi xin bắt đầu bằng cách điểm lại những vấn đề các ngân hàng Châu Á phải đối mặt tại thời điểm đó, và sau đó xem xét diễn biến tình hình tại từng nước.

Những vấn đề của các ngân hàng Châu Á

Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á chịu tác động của cả nguyên nhân vi mô lẫn vĩ mô. Nguyên nhân vi mô nằm ở nội tại hệ thống ngân hàng các nước châu Á, và hầu hết đều có nhiều điểm tương đồng với các ngân hàng Việt Nam hiện nay

Việc cho vay chủ yếu dựa trên thế chấp. Các ngân hàng không quan tâm nhiều đến việc phân tích dòng tiền hoặc tính khả thi của các dự án.

Tín dụng cấp dựa trên quan hệ chiếm tỷ lệ lớn. Sở hữu ngân hàng là phương án tối ưu để có thể vay được nhiều nhằm đầu cơ bất động sản. Cho vay theo yêu cầu Của chính phủ. Nhiều ngân hàng cho các doanh nghiệp quốc doanh hoặc tập đoàn lớn vay theo Chính phủ yêu cầu.

Khung pháp lý không còn phù hợp. Quy định phát mãi tài sản thế chấp kéo theo những thủ tục rườm rà, sự thiên vị đối với các khách hàng vay vốn trong nước, và tham nhũng.

Quy định thiếu chặt chẽ. Các quy tắc phân loại nợ và trích lập dự vòng còn khá lỏng lẻo. Các tiêu chuẩn về việc công bố thông tin và tính minh bạch còn thấp. Điều này gây ra tâm lý ngờ vực khi nền kinh tế bắt đầu gặp khó khăn.

Hệ thống thông tin còn sơ sài. Số liệu về nợ nước ngoài của các doanh nghiệp tư nhân không đầy đủ. Số liệu về việc phân bổ tín dụng theo ngành không thật chi tiết. Thông tin về cung/cầu bất động sản còn nghèo nàn.

Về mặt vĩ mô, có nhiều nguyên nhân; trong số này Việt Nam chỉ gặp phải một số vấn đề.

Hệ thống tỷ giá cố định, và chính sách tiền tệ còn thiếu độc lập. Malaysia, Thái Lan, và Hàn Quốc đều có đồng nội tệ phụ thuộc rất nhiều vào đồng USD, trong khi Indonesia liên tục phá giá đồng nội tệ của mình. Điều này khiến dòng tiền nóng dễ dàng chảy vào trong nước.

Lượng vốn lớn chảy vào trong nước gây ra bùng nổ tín dụng. Điều này khiến thị trường bất động sản dư cung trầm trọng, nợ tăng mạnh do các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy

Không thực sự có thị trường trái phiếu. Một thị trường trái phiếu lành mạnh cung cấp rất nhiều thông tin về khả năng thanh toán nợ, vì các nhà đầu tư trái phiếu có những tiêu chuẩn chặt chẽ hơn

Doanh nghiệp tư nhân vay nước ngoài quá nhiều. Các doanh nghiệp vay vốn bằng đồng USD nhằm giảm chi phí lãi vay. Điều này không phải là một lo ngại lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á bắt đầu với việc phá giá đồng baht Thái vào tháng 06/1997, và sau đó lan rộng sang các các nước Châu Á khác khi nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt thoái lui; quá trình này được gọi là hiệu ứng lây lan (contagion effect). Tuy nhiên, những vấn đề này thật ra đã đè nặng lên các quốc gia trên trong vòng ít nhất hai năm trước khi cuộc khủng hoảng nổ ra. Giá bất động sản Thái Lan chạm đỉnh vào năm 1995, và một doanh nghiệp BDS Thái không trả được tiền lãi trái phiếu vào tháng 02/2007. Các ngân hàng Hàn Quốc vật lộn với nợ xấu và chênh lệch lãi suất thấp trong suốt những năm 1990 và các chaebol có tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu là 400%. Chủ nghĩa tư bản thân hữu nở rộ tại Indonesia và các doanh nghiệp nước này vay nước ngoài rất nhiều.

18

Thái Lan: Đầu cơ bất động sản

Từ năm 1987 đến năm 1997, Thái Lan đã ấn định tỷ giá baht/USD tại mức 25 baht/USD. Điều này giúp Thái Lan trở thành điểm đến hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư, vì họ có thể arbitrage lãi suất cao hơn tại Thái Lan và đầu tư vào thị trường chứng khoán mà không lo ngại lỗ do chênh lệch tỷ giá.

Dòng tiền nóng chảy vào Thái Lan sau năm 1992 gây ra bong bóng chứng khoán và bất động sản. Thị trường chứng khoán tăng ba lần từ giữa năm 1992 đến cuối năm 1993, còn thị trường bất động sản chứng kiến các cao ốc văn phòng và căn hộ được xây dựng liên tục. Tín dụng ngân hàng tăng 18,7% mỗi năm từ năm 1991 đến 1996. Thái Lan cũng có lĩnh vực phi ngân hàng gồm các công ty được gọi là công ty tài chính, chuyên về cho vay để mua ô tô và xe tải. Tín dụng các công ty này lên đến 33% quy mô tín dụng ngân hàng. Bangkok International Banking Facility, do Chính phủ Thái Lan thành lập năm 1992, đã làm gia tăng đáng kể số lượng cũng như phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính cho vay trên thị trường quốc tế.

Từ năm 1995, tăng trưởng kinh tế của Thái Lan bắt đầu chững lại. Sau khi phá giá đồng nhân dân tệ, Trung Quốc đã tăng được thị phần tại những thị trường xuất khẩu trước đó là thế mạnh của Thái Lan. Do các cao ốc được xây dựng tràn lan, tỷ lệ diện tích văn phòng còn trống tại Bangkok lên đến 15% năm 1996, trong khi tỷ lệ nợ xấu đến 13%. Công ty phát triển bất động sản Somprasong không trả được nợ nước ngoài vào đầu năm 1997, và sau đó công ty tài chính hàng đầu Thái Lan Finance One vỡ nợ vào tháng năm.

Các quỹ phòng vệ (hedge fund) đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á khi bán ra đồng baht Thái. Trong vòng chưa đến một tháng, Thái Lan đã sử dụng hết 28 tỷ USD trong số 30 tỷ USD dự trữ ngoại hối để bảo vệ đồng nội tệ. Thái Lan buộc phải phá giá và thả nổi đồng baht; tỷ giá baht/USD theo đó từ 25 baht/USD thành 56 baht/USD vào tháng 01/1998

Chi phí xử lý nợ xấu: Nợ xấu của Thái Lan cuối cùng lên đến 90 tỷ USD, tương đương 48% tổng dư nợ. Năm trong số các ngân hàng thương mại của nước này bị quốc hữu hóa, các ngân hàng nước ngoài mua lại hai, và số còn lại đều phải huy động thêm vốn. 56 công ty tín dụng bị thanh lý.

Bài học: Có nhiều điểm tương đồng giữa tình hình Thái Lan tại thời điểm đó và Việt Nam hiện tại. Việt Nam có dòng vốn ngoại khá lớn chảy vào năm 2007-2008 sau khi gia nhập tổ chức WTO, và giờ đây, sau năm năm, thị trường bất động sản gặp khó khăn trầm trọng. Các ngân hàng nhỏ của Việt Nam đóng vai trò tương đương các công ty tài chính của Thái Lan Cả hai nền kinh tế có mức tăng tỷ lệ nợ/GDP bằng nhau. Điểm khác biệt là ở chỗ, các công ty Việt Nam không vay nợ nước ngoài nhiều, và tỷ giá hối đoái của tiền đồng so với USD không cố định như đồng baht Thái trước đây.

Hàn Quốc: Tăng trưởng bằng cách cho các chaebol vay vốn

Hàn Quốc muốn nhanh chóng bắt kịp Nhật Bản, và nỗ lực thực hiện điều này thông qua các tập đoàn gia đình gọi là chaebol. Các chaebol của Hàn Quốc, như Samsung, Huyndai, và Daewoo, có nhiều điểm tương đồng với các DNNN của Việt Nam. Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ các chaebol này tăng trưởng bằng cách yêu cầu các ngân hàng cho vay. Dù các ngân hàng đều không thuộc sở hữu nhà nước, Chính phủ bổ nhiệm tổng giám đốc và kiểm soát các hoạt động của ngân hàng. Nợ xấu của các chaebol tăng liên tục trong những năm 1990, và các chaebol (cũng như Chính phủ Hàn Quốc) cũng vay nước ngoài rất nhiều. Nợ nước ngoài của Hàn Quốc tăng 3 lần, từ 44 tỷ USD năm 1993 lên 120 tỷ USD năm 1997, trong đó 68% là nợ ngắn hạn.

2

Sau khi Thái Lan phá giá đồng baht năm 1997, lo ngại phá giá đồng nội tệ lan sang các nước Châu Á khác cũng có mức nợ nước ngoài cao. Đồng won của Hàn Quốc bị phá giá, giảm từ mức 800 won/USD xuống 1.800 won/USD trong vòng hai tháng. Mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài, Hàn Quốc phải vay IMF và nhanh chóng tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

Chính phủ Hàn Quốc đã hành động quyết liệt & tức thời. Đầu tiên là việc đề ra tiêu chuẩn nghiêm ngặt đối với việc phân loại nợ và trích lập dự phòng dành cho các ngân hàng. Thứ hai, thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính để kiểm soát hệ thống ngân hàng. Thứ ba, Ủy ban Giám sát Tài chính đã quốc hữu hóa các ngân hàng Korea First Bank và Seoul Bank, đóng cửa năm ngân hàng, và buộc sáu ngân hàng khác sáp nhập. Thứ tư, thành lập Công ty quản lý nợ Hàn Quốc (Korean Asset Management Company – KAMCO) để mua lại 86.000 tỷ won nợ xấu lấy 36.000 nghìn tỷ won. Thứ năm, sa thải 20% nhân viên ngân hàng trong năm 1998. Thứ sáu, buộc các chaebol lớn nhất phải tái cơ cấu, một trong số các chaebol này (Daewoo) phá sản.

Chi phí xử lý nợ xấu: Tổng chi phí Chính phủ Hàn Quốc phải chịu là 60.000 tỷ won. Nợ xấu chiếm đến 33% tổng dư nợ tín dụng, chủ yếu là nợ của các chaebol. Tín dụng có thế chấp bất động sản và tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối an toàn. Đây là lý do vì sao những ngân hàng không bị cuốn vào khủng hoảng là đều là các ngân hàng chuyên về cho vay có thế chấp bất động sản, ngân hàng bán lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc ngoại thương.

Bài học: Bài học lớn nhất Việt Nam có thể rút ra từ trường hợp của Hàn Quốc là việc cải cách và tái cơ cấu ngành ngân hàng có thể được thực hiện trong khoảng hai năm nếu quyết tâm. Người Hàn Quốc khá ngượng ngùng vì phải yêu cầu IMF hỗ trợ (đây là lý do vì sao họ gọi cuộc khủng hoảng này là “khủng hoảng IMF”), và trong suốt những thời điểm đen tối nhất của năm 1997, người Hàn Quốc quyên góp trang sức vàng cho Chính phủ.

1

Indonesia: Cho vay dựa trên quan hệ thân hữu

Tình hình Indonesia dường như khả quan hơn nhiều so với Thái Lan tại thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Lạm phát thấp, cán cân thương mại thặng dư, dự trữ ngoại hối đạt 20 tỷ USD và hệ thống ngân hàng ổn định. Tuy nhiên, sau khi đồng baht bị phá giá, Hội đồng tiền tệ của Indonesia đã nới rộng biên độ giao dịch của đồng rupi từ 8% lên 12% và đồng rupi đột ngột bị phá giá. Tỷ giá hối đoái giảm từ 2.600 rupi/USD xuống 17.000 rupi/USD. Tổng thống Suharto buộc phải từ chức

Vấn đề Indonesia gặp phải có hai mặt. Thứ nhất, nước này có một nền kinh tế dựa trên chủ nghĩa tư bản thân hữu, trong đó những người thân quen của chính quyền Suharto hưởng lợi rất nhiều (như Tommy, con trai của Tổng thống). Thứ hai, các doanh nghiệp đã vay vốn rất nhiều bằng đồng USD. Các doanh nghiệp Indonesia nợ nước ngoài 39,7 tỷ USD tính đến giữa năm 1997, trong đó 87% là nợ ngắn hạn.

Chi phí xử lý nợ xấu: Nợ xấu có thể đã lên đến 90% tổng dư nợ của Indonesia, và hầu hết các ngân hàng của nước này đều gặp khó khăn. Cục Cải cách Ngân hàng Indonesia đã được thành lập với mục đích cải cách hệ thống ngân hàng. Cơ quan này đã đóng cửa 20 ngân hàng, quốc hữu hóa bốn ngân hàng, sáp nhập 150 ngân hàng tư nhân thành 50 ngân hàng, và tái cấp vốn cho 56 ngân hàng với 20 tỷ USD. Cơ quan này cũng bán một số ngân hàng cho các nhà đầu tư cá nhân, và các ngân hàng này hiện nay đều nằm trong số những ngân hàng cạnh tranh nhất. Nền kinh tế Indonesia sụt giảm 13,7% trong năm 1998.

Bài học: Indonesia là một ví dụ tiêu biểu cho thấy việc đột ngột mất đi niềm tin vào một quốc gia, cũng như vào đồng nội tệ và hệ thống ngân hàng nước này có thể châm ngòi cho khủng hoảng tài chính. Nói các khác, Việt Nam không nên hài lòng trước việc tiền động hiện ổn định và các doanh nghiệp không nợ nước ngoài nhiều. Indonesia cũng cho thấy sự nguy hiểm của hủ nghĩa tư bản thân hữu, khi mà các mối quan hệ mang lại nhiều lợi thế hơn các ý tưởng kinh doanh độc đáo

Nhật Bản: Khủng hoảng ngân hàng kéo dài

Gốc rễ của cuộc khủng hoảng ngân hàng của Nhật Bản bắt đầu với Hiệp định Plaza năm 1985, khi đất nước này quyết định tái định giá đồng yên từ mức 250 yên/USD lên 150 yên/USD. Mục đích của việc này là lấy lại cân bằng thương mại và hãm lại cỗ máy kinh tế của Nhật Bản. Một trong những hậu quả không ngờ tới là dòng tiền ở lại trong nước, khiến lãi suất giảm mạnh và giá bất động sản tăng cao. Các ngân hàng Nhật Bản bất động sản vay rất nhiều, gây ra bong bóng chứng khoán và bất động sản, kéo dài đến tận cuối năm 1989.

Dù giá bất động sản bắt đầu giảm từ năm 1990 và các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro nhiều khách hàng không trả được nợ, Nhật Bản là một quốc gia giàu có và nỗ lực vượt qua khó khăn này bằng cách để các ngân hàng tiếp tục hỗ trợ khách hàng trong khi vẫn cố gắng trích lập dự phòng nhiều nhất trong khả năng. Các ngân hàng nhỏ cấp địa phương bắt đầu phá sản vào năm 1994, sau đó là các ngân hàng lớn năm 1997 và 1998. Cuối cùng, Chính phủ Nhật Bản buộc phải tài trợ 60.000 tỷ yên để tái cấp vốn cho các ngân hàng sau khi buộc các ngân hàng này thừa nhận không thu hồi được nợ. Cổ phiếu ngân hàng, giá bất động sản và toàn nền kinh tế mãi đến năm 2003 mới chạm đáy khi ngân hàng Resona Bank bị quốc hữu hóa một phần. Đến lúc đó, nền kinh tế Nhật Bản đã mất một thập kỷ, và đến nay vẫn chưa thể phục hồi.

Chi phí xử lý nợ xấu: Các ngân hàng Nhật Bản chưa bao giờ phải trích lập chi phí xử lý nợ xấu cho đến khi khủng hoảng xảy ra, do đó các chuyên viên phân tích chỉ có thể ước tính nợ xấu bằng cách giả định tín dụng bất động sản, xây dựng, và các công ty cho thuê tài chính đều khó khăn (các ngân hàng cho các công ty tài chính vay tiền, các công ty này lại cho bất động sản vay lại). Số tiền này lên đến 30% tổng tín dụng ngân hàng, khoảng 100.000 tỷ yen. Từ năm 1990 đến 2003, chi phí tín dụng của các ngân hàng Nhật Bản và lượng vốn huy động thêm tổng cộng lên đến 120.000 tỷ yen, cho thấy ngay cả các con số ước tính sơ bộ cũng có thể đạt độ chính xác cao.

2

Bài học: Bài học dành cho Việt Nam là do dự trong việc cải cách hệ thống ngân hàng chỉ làm tình hình xấu đi, và khiến toàn bộ nền kinh tế đi xuống. Đây là lý do vì sao nước Mỹ đã hành động kịp thời để cải cách và tái cấp vốn cho các ngân hàng vào năm 2009. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke đã rút ra bài học từ trường hợp của Nhật Bản.

Trung Quốc: Giải quyết nợ của các

DNNN Trung Quốc không bị cuốn vào cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 do các ngân hàng đều thuộc sở hữu nhà nước và chủ yếu chỉ cho các DNNN vay vốn. Thị trường vốn của nước này cũng không cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến tình hình kinh tế, chính trị tại nhiều nước châu Á bị đảo lộn, Chính phủ Trung Quốc đã quyết định cải cách hệ thống ngân hàng. Năm 1999, nợ xấu lên tới 2.400 tỷ nhân dân tệ, 32% trong số tổng tín dụng ngân hàng 7.360 tỷ nhân dân tệ. Cũng trong năm này, Trung Quốc thành lập bốn công ty quản lý nợ, trong đó mỗi công ty phụ trách một trong số bốn ngân hàng nhà nước chính. Các công ty quản lý nợ này đều hoàn toàn thuộc sở hữu của bộ Tài chính và có tổng số vốn là 40 tỷ nhân dân tệ

Các công ty quản lý nợ này mua lại 1.390 tỷ nợ xấu từ các ngân hàng theo mệnh giá, hay 19% tổng tín dụng ngân hàng. Để trả nợ xấu, các công ty quản lý nợ phát hành trái phiếu cho các ngân hàng, được bảo Bộ Tài chính đảm bảo và có lãi suất coupon 2,25%. Công ty quản lý nợ hưởng mọi khoản lời cũng như chịu mọi khoản lỗ từ nợ xấu. Công ty quản lý nợ chủ yếu mua lại nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ, nhưng không mua lại nợ cần chú ý đặc biệt hoặc lỗ.

Công ty quản lý nợ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết nợ xấu. Các công ty này chuyển đổi 400 tỷ nhân dân tệ thành chứng khoán tại 508 DNNN, giảm tỷ lệ nợ/vốn từ 73% xuống 50% và giúp các doanh nghiệp này chuyển sang có lãi. Các công ty này cũng tái cơ cấu các khoản vay (gia hạn), thu hồi nợ, và bán bất động sản thế chấp. Đến năm 2006, tiền mặt thu về lên tới 186 tỷ nhân dân tệ, cao hơn một chút so với số tiền lãi trái phiếu 150 tỷ nhân dân tệ mà các công ty quản lý nợ phải trả.

Chi phí xử lý nợ xấu: Đến năm 2006, các công ty quản lý nợ giải quyết được 866 tỷ nhân dân tệ trong số nợ xấu đã mua lại (hay 70% tổng số nợ xấu), và thu hồi 24,2% mệnh giá bằng tiền mặt hoặc bất động sản. Như vậy, chi phí xử lý nợ xấu là 656 tỷ nhân dân tệ, khoảng 80 tỷ USD. Tỷ lệ thu hồi nợ xấu thấp nhất là 12,7% của Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, là ngân hàng chủ yếu cho các doanh nghiệp nông thôn vay.

Có một điều bất ngờ là khi Chính phủ Trung Quốc bán nợ xấu đợt 2 vào năm 2004, cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia, các nhà đầu tư đã phải cạnh tranh gay gắt và trả đến 40%- 50% mệnh giá để được mua nợ. Tuy nhiên, hiện nay cầu mua tài sản khủng hoảng đã giảm đáng kể, đồng nghĩa với việc cầu nợ xấu không còn cao như trước

Bài học: Bán lại nợ xấu cho một công ty quản lý nợ là một giải pháp tốt mà Việt Nam có thể áp dụng. Vấn đề là ở chỗ ngành ngân hàng của Việt Nam không hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước và nợ xấu không chỉ nằm ở các DNNN. Chính phủ Trung Quốc có thể mua lại theo mệnh giá cho nợ xấu vì sở hữu cả bên vay lẫn bên cho vay. Khi mua lại nợ xấu từ ngân hàng tư nhân, công ty quản lý nợ có xu hướng trả “giá trị thị trường”, hay 20%-30% giá trị sổ sách, buộc các ngân hàng bán lại nợ xấu ghi nhận lỗ tức thì.

3

Ước tính giá trị nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam

Theo báo cáo chính thức, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam là khoảng 4%. NHNN cho biết trên thực tế con số này có thể lên đến 8,8%, gấp đôi con số chính thức. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm thậm chí còn ước tính ít nhất là 13%. Điều này cho thấy việc xác định quy mô nợ xấu vẫn còn khá khó khăn.

Cách duy nhất để có thể đưa ra một con số tương đối chính xác là để các ngân hàng tự xem xét dư nợ tín dụng của mình và phân loại các khoản vay dựa trên khả năng thanh toán của bên vay. Chúng tôi không thể tự mình làm việc này. Để tránh hiểu lầm, chúng tôi xin định nghĩa nợ xấu là bất kỳ khoản nợ nào mà việc thanh toán gặp khó khăn vì bất cứ lý do gì, như thanh toán chậm, gia hạn, giảm lãi suất theo hợp đồng, hoặc bên vay mất khả năng thanh toán. Theo định nghĩa này, hầu hết các khoản nợ cần chú ý (nhóm 2) tại các ngân hàng Việt Nam đều là nợ xấu.

Để ước tính nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam, chúng tôi áp dụng ba phương pháp. Đầu tiên là phương pháp tiếp cận từ dưới lên, theo đó chúng tôi sử dụng kinh nghiệm tại Châu Á và kiến thức tổng quát về Việt Nam để ước tính tỷ lệ nợ xấu dựa trên tỷ lệ tín dụng cho từng ngành nghề. Phương pháp thứ hai tương tự như vậy, nhưng dựa trên phân loại khách hàng. Thứ ba là phương pháp vĩ mô dựa trên tổng dư nợ của nền kinh tế.

Trong các phương pháp này, không có phương pháp nào có độ chính xác cao, nhưng dẫu sao cúng có thể cho chúng ta biết một cách tương đối quy mô vấn đề. Điều duy nhất thực sự có ý nghĩa là liệu vấn đề có lớn đến mức đe dọa hệ thống tài chính và đòi hỏi Chính phủ phải can thiệp hay không.

Ước tính nợ xấu dựa trên tín dụng theo ngành

Bảng dưới đây cho thấy thành phần tín dụng theo ngành của ngành ngân hàng Việt Nam cấp theo ngành nghề tính đến tháng 04/2012. Chúng tôi áp dụng ước tính chính xác nhất có thể cho tỷ lệ nợ xấu từng ngành nghề. Các ngành bất động sản và xây dựng được áp dụng tỷ lệ nợ xấu cao nhất; tỷ lệ nợ xấu áp dụng cho khu vực sản xuất thấp hơn hẳn, và tỷ lệ thấp nhất cho các khoản vay cá nhân.

4

Ước tính nợ xấu dựa trên phân loại khách hàng

Phương pháp thứ hai của chúng tôi được dựa trên việc phân loại bên vay. Các nhóm tín dụng bao gồm (1) tín dụng bất động sản, dựa trên các khoản vay có điều chỉnh cho bất động sản do Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cấp; (2) tín dụng cho cá nhân, với giả định nhóm này chiếm 10% tổng dư nợ tín dụng; (3) tín dụng cho các doanh nghiệp lớn, bao gồm cả các DNNN, trong đó, theo ước tính của chúng tôi, tín dụng cho các DNNN chiếm 780.000 tỷ đồng, và giả định 30% các công ty tư nhân ngoài bất động sản là các công ty lớn; và (4) tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, với giả định nhóm này chiếm 70% tín dụng của các doanh nghiệp tư nhân ngoài bất động sản. Việc phân loại này mang tính chủ quan khá cao, và rất cần thông tin chi tiết của NHNN về tỷ lệ thành phần tín dụng nếu có thể.

Chúng tôi tiếp tục áp dụng tỷ lệ nợ xấu cao nhất (50%) cho tín dụng bất động sản, tiếp đó là tín dụng cho các công ty lớn (20%), cho các công ty nhỏ và vừa (10%), và tín dụng cho cá nhân (5%). Trường hợp của Trung Quốc và Hàn Quốc cho thấy cho vay các tập đoàn lớn rủi ro hơn nhiều so với cho vay các công ty nhỏ và vừa và cho vay cá nhân. Điều này chủ yếu do mức độ phân tán rủi ro nhiều hơn cho nhiều khách hàng nhỏ

5

Ước tính nợ xấu dựa trên tổng dư nợ tín dụng

Phương pháp thứ ba dựa trên tỷ lệ tín dụng/GDP của các nước châu Á khác trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính vào trường hợp của Việt Nam. Tỷ lệ tín dụng/GDP giảm trung bình 39,4% từ 1997 đến 2001. Điều này là do số vay nợ không cần thiết toàn nền kinh tế phải được xóa đi. Chúng tôi không tính cả Hàn Quốc vì bên cạnh tín dụng ngân hàng, Hàn Quốc còn có nhiều nguồn nợ khác trong nền kinh tế.

Tỷ lệ GDP/tín dụng của Việt Nam đạt đỉnh năm 2010 tại mức 125%; vì vậy. chúng tôi cho rằng tỷ lệ này sẽ ổn định xung quanh mức 85%. Áp dụng con số này cho GDP năm 2011 là 2.535.000 tỷ đồng, chúng tôi được kết quả mức tín dụng có thể duy trì là 2.170.000 tỷ đồng, trong khi tín dụng thực tế của các ngân hàng là 2.632.000 tỷ đồng. Chênh lệch giữa hai con số là 462.000 tỷ đồng, hay 17,5% tín dụng.

6

Chi phí để cải cách hệ thống ngân hàng

Ba phương pháp của chúng tôi cho kết quả giá trị nợ xấu trung bình là 470.000 tỷ đồng, hay 17,9% tổng dư nợ. Nếu giả định tỷ lệ thu hồi nợ xấu là mức thông thường 30% thì chi phí để cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam là 328.000 tỷ đồng, hay 15 tỷ USD. Con số này lên tới 12% GDP; tuy nhiên, theo đánh giá một cách tuyệt đối thì vẫn có thể kiểm soát được, nhất là khi được nước ngoài hoặc ngân hàng nước ngoài tham gia hỗ trợ

Các phương pháp giải quyết vấn đề nợ xấu

Sau khi đưa ra ước tính tương đối quy mô nợ xấu, chúng tôi xem xét những phương án giải quyết khả thi. Chúng tôi cho rằng cần nhanh chóng đưa ra những biện pháp mạnh mẽ hơn.

Phương pháp 1: Để các ngân hàng tự giải quyết

Thường thì đây là lựa chọn của hầu hết các nước khi hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Điều này là do phương pháp này dường như ít đòi hỏi nỗ lực nhất. Các ngân hàng mỗi năm trích lập dự phòng tùy theo khả năng của mình, mặt khác vẫn báo cáo một khoản lợi nhuận nhỏ. Nói cách khác, các ngân hàng tự tìm cách thoát khỏi khó khăn. Dù về mặt lý thuyết điều này khá dễ dàng, vấn đề nằm ở chỗ có thể phải tích lũy lợi nhuận trong nhiều năm mới có thể đạt được điều này, và trong thời gian này các ngân hàng không thể hoàn thành vai trò của m&

hotline