Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 11/2019

Được đăng vào 08-11-2019

CÚ HÍCH TỪ DÒNG TIỀN NGOẠI

Chúng tôi nhận thấy KQKD Q3 chưa được phản ánh vào điễn biến giá tháng Mười. Khi mà nhóm VN30 và nhóm VNIndex ghi nhận KQKD tích cực nhưng giá lại đi ngang. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính tới từ việc khối ngoại tiếp tục bán ròng trong tháng Mười khiến cho tâm lý thị trường chung bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng thị trường sẽ sớm phản ánh KQKD trong thời gian tới khi mà hoạt động của khối ngoại có thể sẽ sớm đảo chiều và tiền nội đủ để hỗ trợ thị trường.

Căng thẳng thương mại đã đè nặng lên tâm lý thị trường trong hơn một năm qua. Cập nhật mới nhất cho thấy Mỹ - Trung đang nỗ lực để đạt được thỏa thuận giai đoạn I, tín hiệu tích cực đầu tiên để tiến tới thỏa thuận toàn diện (dù có thể cần thêm nhiều thời gian). Theo thông tin chính thức từ hai bên, các điều khoản sẽ tiếp tục được đàm phán và hai bên sẽ sớm công bố thời gian và địa điểm ký kết thỏa thuận giai đoạn I (thay thế cho địa điểm lựa chọn ban đầu là tại Hội nghị Apec tháng 11)

Ở các thị trường phát triển, lợi suất trái phiếu Chính phủ của các nước phát triển đang tăng trở lại kể từ cuối tháng Tám – đầu tháng Chín, dấu hiệu cho thấy dòng tiền tìm kiếm kênh trú ẩn an toàn (trái phiếu Chính phủ) đã dịu dần. Hay nói cách khác, kỳ vọng về rủi ro suy thoái của giới đầu tư đã bắt đầu giảm. Thêm vào đó, khả năng Fed tiếp tục hạ lãi suất từ nay tới cuối năm không cao. Chúng tôi cho rằng lợi suất TPCP 10 năm của Mỹ có thể biến thiên trong khoảng 1,5 – 1,8%.

Đồng thời, việc tìm kiếm cơ hội đầu tư cổ phiếu ở thị trường phát triển, điển hình là Mỹ, không còn dễ dàng khi mà mức PE của chỉsố S&P500 đã đạt đỉnh một năm. Mặc dù chúng tôi không cho rằng các nhà đầu tư ngoại sẽ ồ ạt đổ tiền vào cổ phiếu các thị trường mới, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể được xem là khá hấp dẫn khi Việt Nam là nền kinh tế hiếm hoi duy trì được tốc độ tăng trưởng cao.

Trở ngại lớn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài hiện nay có lẽ là vấn đề giới hạn sở hữu khi các doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt đã gần hết room. Tuy nhiên, quy tắc ban hành các rổ chỉ số mới đã được đưa ra hơn 2 tháng qua, do đó chúng tôi kỳ vọng các ETFs sẽ được ra mắt trong năm nay.

Mặc dù KQKD quý 3/2019 và 9T2019 của các CTCK giảm mạnh, lãi từ cho vay ký quỹ vẫn tăng lên đáng kể. Dữ liệu lịch sử cũng cho thấy mối tương quan dương giữa dư nợ ký quỹ và VNIndex. Mặc dù mối quan hệ đã không còn mạnh như năm 2017, tuy nhiên dư nợ margin tăng lên sẽ hỗ trợ thị trường chứng khoán

Dư nợ margin đã tăng hơn 12 nghìn tỷ đồng kể từ cuối năm 2018, gấp 4 lần GTGDKL bình quân hằng ngày sau 9 tháng. Trong đó, ba CTCK có vốn từ Hàn Quốc bao gồm Mirae, KB và KIS đã chiếm hơn 37% dư nợ margin tăng lên. Trong bối NHTW Hàn Quốc vừa tiếp tục hạ lãi suất lần thứ 2 trong năm, CTCK Hàn Quốc có lí đo để gia tăng dư nợ ký quỹ khi lãi suất bình quân hiện nay vẫn ở mức cao. Trong khi đó, các CTCK lớn trong nước có uy tín có thể huy động với lãi suất thấp để phục vụ hoạt động ký quỹ.

Tóm lại chúng tôi cho rằng KQKD quý 3/2019 chưa hoàn toàn được phản ánh vào diễn biến thị trường trong tháng Mười. Trong bối cảnh, rủi ro bên ngoài đã giảm bớt chúng tôi cho rằng thị trường có thể kỳ vọng dòng tiền ngoại có thể đảo chiều trong thời gian tới. Trong khi đó, tiền nội khá dồi dào khi dự nợ ký quỹ liên tục tăng trong suốt thời gian qua. Ngoài ra, lãi suất ký quỹ giảm do cạnh tranh từ các CTCK có vốn ngoại cũng phần nào khuyến khích các nhà đầu tư. Chúng tôi cho rằng thị trường có thể biến động trong khoảng 1.000 – 1.040 trong tháng Mười Một.

Chiến lược và đầu tư tháng 11

Như chúng tôi đã thảo luận trong báo cáo chiến lược các tháng trước, mặc dù nền tảng nội tại của Việt Nam vẫn ghi nhận giai đoạn tăng trưởng tích cực, các yếu tố ngoại tác từ thế giới là trở ngại chính cản trở những chuyển biến tích cực trên sàn chứng khoán Việt Nam. Do đó, ngay khi những vấn đề ngoại tác được xoa dịu, TTCK Việt Nam chuyển biến khả quan ngay từ các phiên đầu tháng 11/2019. Với sự trở lại của dòng tiền ngoại, chúng tôi kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam khởi sắc hơn trong hai tháng cuối năm 2019. Tăng tỷ trọng cổ phiếu so với tiền mặt hoặc sử dụng ký quỹ trong danh mục sẽ giúp các nhà đầu tư nắm bắt lợi nhuận trong giai đoạn xu hướng tăng.

Kết quả kinh doanh 9T/2019 tiếp tục cho thấy sự phân hóa giữa các ngành cũng như các nhóm cổ phiếu, điển hình như trong ngành bất động sản. Cụ thể, mặc dù tổng doanh thu và LNST tăng lần lượt 24% và 28% YoY trong 9T, thành quả này chủ yếu được đóng góp bởi nhóm cổ phiếu VIN. Không bao gồm đóng góp từ các công ty đó, LNST của nhóm bất động sản chỉ tăng 15% YoY. Ba nhóm tiếp theo công bố mức tăng trưởng LNST cao nhất là bán lẻ, ngân hàng và công nghệ (chi phối bởi kết quả của FPT), lần lượt đạt 30% YoY, 25% YoY và 22% YoY.

Chúng tôi đã chia sẻ quan điểm gần đây về MWG và PNJ (bán lẻ) và FPT (công nghệ), nên sẽ thảo luận về một số cổ phiếu ngân hàng trong tháng này. Tổng thu nhập hoạt động (TOI) và LNST của ngân hàng niêm yết tăng trưởng 22% và 43% YoY trong Q3/2019, và lần lượt là 17,2% và 25% YoY trong 9T/2019. Không chỉ các hoạt động cốt lõi (cho vay khách hàng và dịch vụ) khả quan, chi phí hoạt động và dự phòng thấp cũng góp phần giúp thu nhập ròng tăng trưởng mạnh. Trong 9T2019, hầu hết các ngân hàng đều có tốc độ tăng trưởng LNST thấp hơn so với năm ngoái, chủ yếu là do năm ngoái có thu nhập bất thường. Điều tích cực là hầu hết các ngân hàng đều hoàn thành hơn 3/4 so với kế hoạch cho cả năm 2019. Đối với ngành ngân hàng, mùa cao điểm kinh doanh thường rơi vào quý 4. Do vậy, với thành quả như trên trong chín tháng, chúng tôi tin rằng ngân hàng sẽ vượt kế hoạch kinh doanh cả năm.

Cơ sở vốn mạnh, biểu hiện qua hệ số đòn bẩy thấp và CAR Basel II cao, sẽ đảm bảo tốc độ tăng trưởng cho vay cao đối với nhóm NHTMCP tư nhân. Đây là khía cạnh tích cực khi mà (1) Hoạt động cho vay khách hàng vẫn là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng Việt Nam và (2) Mở rộng tín dụng sẽ cho phép các ngân hàng bán chéo sản phẩm (thẻ, thanh toán giao dịch, bảo hiểm, v.v.), sau đó, nâng cao thu nhập dịch vụ. Bên cạnh đó, với mức định giá tương đối thấp, P/B forward 2020 ở mức khoảng 1,0x - 1,4x và ROE cao (18 - 20%) cũng là một lợi thế khác của nhóm này. Điều cần lưu ý là hầu hết các ngân hàng thương mại tư nhân niêm yết đều không còn dư địa cho sở hữu nước ngoài.

BID, ngân hàng quốc doanh, đang trong quá trình tái cơ cấu. Hiện tại, chúng tôi thấy rằng ngân hàng đã gần như hoàn tất, và với sự tham gia của đối tác chiến lược mới sẽ mở ra một triển vọng mới và tươi sáng cho BID. Do đó, mặc dù mức P/B hiện tại của BID cao hơn mức trung bình của các ngân hàng khác, chúng tôi tin rằng BID có thể trở thành ứng cử viên mới theo sau VCB.

Kinh tế thế giới 

Một cuộc khảo sát vào tháng 9 của Viện nghiên cứu Hurun1 , một viện nghiên cứu tài sản, đã cho rằng hơn một phần ba người giàu Trung Quốc - những người có khối tài sản trung bình 4,5 triệu USD - đang xem xét di cư sang một quốc gia khác. Một số người trong số đó chắc chắn đã di cư. Mặc dù, SAFE, cơ quan quản lý ngoại hối Nhà nước Trung Quốc, gần đây tiếp tục phát biểu dòng vốn xuyên biên giới của nước này duy trì ổn định trong cả năm 2019.\

Tuy nhiên, ngân hàng Natixis của Pháp ước tính rằng dòng vốn chảy ra khỏi Trung Quốc vào tháng 9 đạt tổng cộng 89 tỷ USD so với con số 0 tròn trĩnh trong tháng 1. Đồng Nhân dân tệ đã mất giá 2,5% so với USD tính đến năm 2019 (và 4,5% tại thời điểm thấp nhất vào tháng 9), điều này cho thấy thực sự một số nguồn vốn đang chảy khỏi Trung Quốc. Diễn biến hiện tại không giống với những gì dã xảy ra vào năm 2015, nhưng những điều này đang xảy ra. Trên thực tế, năm 2015 thị trường phần nào mơ hồ về mối quan hệ nhân quả giữa dòng vốn chảy ra và tỷ giá hối đoái suy yếu. Đồng Nhân dân tệ giảm liên tục cho đến cuối năm 2016 nhưng không rõ rằng nguyên nhân có phải do dòng vốn chảy ra hay không. Cùng thời gian đó, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc cũng giảm, điều này có thể gây ra một số bất ổn giữa những người tham gia thị trường, do đó gây áp lực lên Nhân dân tệ.

1

2

Mặc dù lợi suất trái phiếu đang ở mức thấp trong lịch sử tại phần lớn các thị trường, các nhà đầu tư vẫn tiếp tục đầu tư vào trái phiếu trong khi rút dòng cổ phiếu (Hình 3). Trong số 416 tỷ USD đang tìm đường đầu tư vào trái phiếu từ đầu năm đến nay, 262 tỷ USD đầu tư vào trái phiếu Mỹ, chiếm 9,2% tài sản đang quản lý (AUM). 191 tỷ USD chảy khỏi cổ phiếu trên quy mô toàn cầu. Trong số các thị trường mới nổi, chỉ một số ít trong tất cả các nước ở châu Á, đã chứng kiến dòng tiền đổ vào: Trung Quốc, HK, Đài Loan, Ấn Độ và Việt Nam. Nhưng cho đến nay, người hưởng lợi lớn nhất của môi trường lãi suất thấp / thị trường vốn lành mạnh này, là các quỹ thị trường tiền tệ. Lượng tiền đồ vào các quỹ này trong 10 tháng đầu năm đạt 9,8% tổng tài sản quản lí. Dòng tiền này chủ yếu chảy vào các quỹ thị trường tiền tệ của Mỹ.

3

Thị trường “đổ xô” mua trái phiếu, tuy nhiên, điều này cho thấy một số dấu hiệu của hậu quả không lường trước tiềm năng. Do đó, S & P Global gần đây cho biết rằng danh sách các công ty yếu kém (*) của họ đã đạt mức cao nhất 10 năm vào tháng 9, cao nhất kể từ tháng 11 năm 2009. Danh sách này bao gồm 263 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ và điều này hàm ý rằng trong số những công ty có rủi ro vỡ nợ cao, nhiều công ty có thể rơi vào vũng lầy nếu điều kiện tồi tệ hơn. Chất lượng tín dụng bình quân của các nhà phát hành này tiếp tục xấu đi và tỷ lệ đòn bẩy rất cao

15

Cho đến nay, thị trường chứng khoán dường như chưa nghe thấy tín hiệu từ thị trường trái phiếu rác khi MSCI tạo ra những đỉnh cao mới trong tháng 10 và hiện đã tăng gấp ba kể từ mức đáy từ 10 năm trước.

5

Theo một bài phát biểu tại cuộc họp Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2020 tại TP HCM vào thứ Năm tuần trước, Marie Damour, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng thương mại song phương giữa hai nước đã tăng từ 200 triệu USD năm 1994 lên 60 tỷ USD hiện tại. Bà nhấn mạnh rằng Việt Nam và Hoa Kỳ phải tiếp tục hợp tác với nhau với tư cách là đối tác của nhau. Hãy hy vọng cô ấy đúng!

CHỈ SỐ VĨ MÔ THẾ GIỚI THÁNG 10

6

7

8

KINH TẾ VIỆT NAM

Thặng dư thương mại 7 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu của Việt Nam trong 10 tháng 2019 ước đạt 428 tỷ USD, tăng 8,3% YoY. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 217 tỷ USD, tăng 7,9% YoY và kim ngạch nhập khẩu đạt 211 tỷ USD tăng 8,8% YoY. Cán cân thương mại Việt Nam trong 10 tháng 2019 ước tính đạt 7 tỷ USD, cao hơn mức 6,4 tỷ USD trong cùng kỳ. Mức thặng dư thương mại kể trên tương đương 2,9% GDP danh nghĩa Việt Nam năm 2019

Điểm đáng chú ý trong số liệu thương mại năm nay gắn với kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước. Tổng quy mô đạt 66,6 tỷ USD trong 10 tháng 2019 và tăng trưởng 16,5% YoY, bỏ xa mức tăng trưởng 3,9% YoY của khu vực doanh nghiệp FDI, quy mô 150,4 tỷ USD. Trong khi kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI bắt đầu chậm dần kể từ giữa năm 2018 thì mức tăng trưởng 2 con số của khu vực trong nước liên tục duy trì kể từ đầu năm 2017.

Số liệu trên diễn tả hai thực tế đang tồn tại song song. Một mặt, các doanh nghiệp Việt Nam đang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và cung ứng hàng hóa cho nhà mua lớn. Tiêu biểu như ngành sản xuất đồ gỗ, dệt may, chất dẻo, điện thoại linh kiện, dây điện và sắt thép.

Mặt khác, chúng tôi ghi nhận rủi ro pháp lý về xuất xứ hàng hóa gắn mác Việt Nam sang Mỹ có dấu hiệu gia tăng khi kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng khá đột biến, +26,6% YoY trong 10 tháng 2019. Điều này đã được chúng tôi đề cập trước đó với doanh nghiệp ngành gỗ và đồ nội thất, đặc biệt tại tỉnh Bình Dương. Mới đây, cơ quan chức năng Việt Nam và Mỹ đã phối hợp chặn đứng lô hàng xuất khẩu nhôm trị giá 4,3 tỷ USD, có xuất xứ từ Trung Quốc và chuẩn bị được xuất khẩu sang Mỹ

Theo thông tin từ Bộ Công Thương Việt Nam, một số nhóm ngành hàng bị xếp vào danh sách cảnh báo theo cấp độ nguy hiểm. Gỗ dán là mặt hàng bị ấn định cấp độ 4, cấp độ nguy hiểm cao nhất. Theo sau là các mặt hàng giá để đồ bằng sắt, đệm mút, xe đạp điện, lốp xe tải và xe khách, thép chống ăn mòn thuộc nhóm cảnh báo 3.

Tuy nhiên, như được đề cập phần thế giới, Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Hồ Chí Minh, Việt Nam, bà Marie Damour nhấn mạnh quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển. Và với những hành động gần đây từ phía lãnh đạo Việt Nam, thông qua Nghị quyết thu hút vốn FDI hay xây dựng quy chuẩn hàng hóa xuất xứ Việt Nam nhằm tránh tình trạng lách luật thương mại. Chúng tôi tin tưởng rằng quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đi lên như phát biểu của bà Marie Damour.

9

Gạt sang một bên vấn đề kể trên, chúng tôi ghi nhận sự bền bỉ trong hoạt động sản xuất của Việt Nam. Tính đến hiện tại, kết quả sản xuất kinh doanh của lĩnh vực chế biến – chế tạo vẫn tốt hơn kỳ vọng và góp phần kéo dài chu kỳ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê (TCTK), chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tăng 9,2% YoY, cao hơn mức 7,7% YoY cùng kỳ năm trước.

Điểm nổi bật gắn với hoạt động sản xuất thiết bị điện và điện tử khi lần lượt tăng trưởng 8,3% và 17,7% trong khi cùng kỳ tăng trưởng âm. Diễn biến kể trên được minh họa cụ thể qua hoạt động sản xuất công nghiệp tại Bắc Ninh, Thái Nguyên và Hải Phòng. Theo báo cáo từ Cục thống kê Thái Nguyên, các mặt hàng điện thoại thông minh tăng 17,2% YoY trong tháng 10/2019 và tăng 8,3% YoY trong 10T/2019. Tại Bắc Ninh, sự tăng trưởng vượt bậc của mặt hàng thiết bị đeo thông minh, gấp 11 lần tháng 10/2018, là điểm nhấn chính góp phần đưa tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp của tỉnh này hồi phục trong 2 tháng gần đây. Tại Hải Phòng, tập đoàn LG ghi nhận doanh thu trong cả ba mảng điện thoại, linh kiện viễn thông và điện dân dụng, tăng 54,6% YoY. Mới đây, LD Display Hải Phòng đã điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 410 triệu USD.

Theo đánh giá của chúng tôi, trong bối cảnh hoạt động sản xuất của các nước trong khu vực và trên thế giới đều gặp khó khăn do thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại, việc duy trì tăng trưởng ổn định quanh ngưỡng 10% của Việt Nam chính là điểm tích cực

110

Tỷ giá USDVND ổn định trong bối cảnh USDCNY hướng về ngưỡng 7.0

Kết quả sản xuất và xuất khẩu ấn tượng kể trên cùng với diễn biến tích cực từ thế giới đang ngày càng tạo điểm tựa vững chắc cho sự ổn định tương đối của tiền Đồng. Trong tuần cuối tháng 10 vừa qua, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định giảm lãi suất điều hành thêm 0,25% và đánh dấu lần giảm lãi suất thứ 3 liên tiếp trong năm 2019. Điều này đảo ngược hoàn toàn 3 lần tăng lãi suất trước đó và đưa mặt bằng lãi suất trở về thời điểm trước năm 2018. Gần như ngay lập tức, lãi suất vay mượn USD kỳ hạn qua đêm trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam cũng giảm tương ứng. Hiện tại, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tại thị trường Việt Nam cũng đang trở lại thời điểm 2017-2018, chúng tôi đề cập trong phần sau

Bên cạnh đó, những thông tin tích cực từ cuộc đàm phán cấp cao giữa Mỹ và Trung Quốc đang cho thấy dấu hiệu ban đầu về khả năng ký kết thỏa thuận thương mại tạm thời. Trong đó, Mỹ sẽ tạm ngững tăng thuế áp lên 250 tỷ USD hàng hóa nhập từ Trung Quốc trong khi Trung Quốc sẽ tăng nhập khẩu hàng nông sản Mỹ, thắt chặt bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như mở cửa thị trường dịch vụ tài chính – tiền tệ. Mặc dù địa điểm gặp mặt dự kiến ban đầu tại Chile bị hủy bỏ do vấn đề an ninh tại quốc gia này nhưng lãnh đạo Nhà Trắng vẫn lạc quan về khả năng sớm ký thỏa thuận thương mại trong tháng 11 này.

Những diễn biến trong và ngoài nước kể trên là cơ sở chính cho kỳ vọng của chúng tôi về khả năng tỷ giá USDCNY sẽ tiến về ngưỡng 7.0 trong thời gian còn lại của năm. Hiện tại, USDCNY vẫn đang điều chỉnh dần dần và đang ở quanh ngưỡng 7,03 so với mức 7,15 vào thời điểm đầu tháng 9. Bên cạnh đó, US Dollar cũng điều chỉnh từ 99 về 97,2 điểm trong thời điểm hiện tại.

11

Tăng trưởng tín dụng có đạt mục tiêu 14% năm 2019?

Trong phần tiếp theo, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới tình hình tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam. Tính đến hết tháng 9/2019, tăng trưởng tín dụng ước đạt 9% ytd, thấp hơn mức 10,3% ytd cùng kỳ năm trước. Và so với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2019, dư địa có thể tăng lên tới 5%.

Dựa theo tình hình tăng trưởng tín dụng tại các NHTM niêm yết, chúng tôi ước tính với tốc độ tăng trưởng hiện tại và trần tín dụng cho từng ngân hàng, tăng trưởng tín dụng cả năm 2019 có thể chỉ đạt 13,2% ytd. Nếu xảy ra, đây sẽ là mức tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong thập kỷ qua tại Việt Nam

Kết quả tăng trưởng tín dụng thấp hiện tại chủ yếu đến từ khối NHTMCPNN, gồm BIDV, Vietinbank và Agribank trong khi thành tích tại các NHTMCP tư nhân khác vẫn rất ấn tượng. Vậy liệu NHNN có phân bổ lại trần tín dụng giữa các nhà băng để đạt mức trần tín dụng đề ra đầu năm?

Góc nhìn của chúng tôi gắn với hai khía cạnh. Một mặt, các NHTMCP như VIB, TPB, VPB hay MBB đều ghi nhận tăng trưởng tín dụng khá tốt trong 9T2019 và hiện tại đang dần cạn dư địa khi tiến sát mức trần tín dụng cho phép của NHNN. Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng của BIDV và Vietinbank chỉ đạt 8,6% và 3,2% ytd, cách xa so với mục tiêu đầu năm, lần lượt 12% và 7% ytd. Theo định hướng của NHNN kể từ đầu năm, các nhà băng có chất lượng tài sản tốt hoàn toàn có thể được nới room tín dụng. Điều này đã từng xảy ra vào giữa năm 2019 khi các nhà băng kể trên lần lượt đáp ứng tiêu chuẩn Basel II.

12

Mặt khác, xét về cân đối vĩ mô, chúng tôi nhấn mạnh vào chênh lệch tăng trưởng tín dụng và GDP danh nghĩa. Khoảng cách chênh lệch quá cao hàm ý sự dư thừa tiền trong nền kinh tế và ngược lại. Hiện nay, khoảng chênh lệch ở mức 5%, thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn 2015-2017, 7-11%. So với 2018, tới cuối năm, khoảng chênh lệch giảm mạnh về 3% từ mức 6% trước đó do biến động từ vĩ mô thế giới khiến tăng trưởng tín dụng và cung tiền bị siết chặt đột ngột kể từ quý 3/2018

Trong bối cảnh hiện nay, diễn biến kinh tế trong và ngoài nước đều khá tích cực đi kèm với mặt bằng lãi suất liên ngân hàng quay trở về giai đoạn 2017-2018, chúng tôi đánh giá NHNN có đủ điều kiện để cân nhắc điều chỉnh trần tín dụng cho các nhà băng. Hiện tại, chúng tôi ghi nhận một số nhà băng đang tiến hành xin thêm room từ phía NHNN. Chúng tôi sẽ cập nhật bổ sung trong bài viết sau

13

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÁNG MƯỜI: LẤY ĐÀ ĐỂ BỨT PHÁ

Đà bứt phá của nhóm cổ phiếu ngân hàng vào cuối tháng 9 đã không kéo dài được lâu và VNIndex vẫn chưa thể vượt 1.000 điểm trong tháng 10. Mặt khác, tuy dòng tiền trong thị trường vẫn chủ yếu mang tính đầu cơ, thanh khoản cải thiện và biên độ dao động của các chỉ số ngày càng hẹp đã cho thấy kỳ vọng bứt phá khỏi ngưỡng kháng cự tâm lý 1.000 điểm đang ngày càng cao

Kỳ vọng cao của thị trường đối với việc FED hạ lãi suất lần thứ 3 trong năm, đàm phán Mỹ - Trung có dấu hiệu tích cực là những yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài. Trong nước, mùa công bố KQKD Q3 hầu như chưa có tác động đáng kể lên thị trường chung và nhà đầu tư ngoại vẫn duy trì bán ròng trên sàn với giá trị lớn.

16

17

Có thể thấy rằng trong giai đoạn thị trường đi ngang với thanh khoản thấp (2.500 đến 3.000 tỷ/phiên trên sàn HOSE) kéo dài từ tháng 4 đến nay, dòng tiền hầu như chỉ dịch chuyển qua lại giữa các nhóm vốn hóa và các chỉ số diễn biến trái chiều. Cụ thể là VN30-Index (vốn hóa lớn) và VNMid-Index & VNSML-Index (vốn hóa vừa và nhỏ) thường tăng/giảm lệch pha nhau, khác với giai đoạn Q1 khi dòng tiền ngoại qua các quỹ ETF liên tục đổ vào thị trường và giúp đà tăng lan tỏa trên diện rộng.

VN-Index (+0,2%) hầu như đi ngang trong tháng 10, trong đó dòng tiền tiếp tục rút khỏi nhóm vốn hóa vừa và nhỏ để tìm đến nhóm vốn hóa lớn – với kỳ vọng thịtrường sẽ sớm vượt 1.000 điểm Thanh khoản đạt 3.045 tỷ/phiên, mức cao nhất kể từ tháng 4 năm nay. Giá trị giao dịch nhóm VN30 chiếm 64% toàn thị trường, so với trung bình 55% trong 9 tháng đầu năm. Nhà đầu tư ngoại vẫn liên tục bán ròng nhưng lực cầu nội địa cho thấy khả năng hấp thụ rất tốt.

18

Giao dịch khối ngoại

Nhà đầu tư ngoại tiếp tục bán ròng mạnh với giá trị lên tới 1.300 tỷ qua khớp lệnh trên sàn HOSE trong tháng 10, tiếp tục là nhân tố kìm hãm đà tăng của thị trường. VCB (+226 tỷ) và BID (+102 tỷ) là các cổ phiếu được khối ngoại mua ròng nhiều nhất, chứng chỉ quỹ VFMVN30 cũng được mua ròng 74 tỷ. Chiều ngược lại, những cái tên bị bán ròng nhiều nhất có nhóm Vingroup gồm VIC (- 397 tỷ), VHM (-272 tỷ), VRE (-177 tỷ) và các cổ phiếu khác như MSN (-221 tỷ), HPG (-213 tỷ).

20

Các quỹ ETF bị rút ròng khoảng 9,5 triệu USD trong tháng 10. Tuy về tổng giá trị không thay đổi nhiều so với tháng 9 (gần 12 triệu USD), khác với tháng trước khi các quỹ ETF lớn đồng loạt bị rút vốn thì VFMVN30 ETF (+1,25 triệu USD) và FTSE ETF (+2,88 triệu USD) hút ròng trở lại trong tháng 10. Trong khi đó, Vanect ETF (-8,15 triệu USD) và KIM ETF (-5,9 triệu USD) tiếp tục bị rút ròng khá mạnh.

21

22

Bức tranh kết quả kinh doanh quý III: KQKD nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn tiếp tục tích cực

Bức tranh kết quả kinh doanh (KQKD) cho thấy tăng doanh thu và lợi nhuận sau thuế (LNST) đến chủ yếu từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Trong các nhóm ngành lớn như bất động sản, ngân hàng và bán lẻ, KQKD tích cực chủ yếu được đóng góp từ các công ty lớn trong ngành. Ngược lại, các ngành truyền thông, tài nguyên cơ bản và dịch vụ tài chính ghi nhận mức tăng trưởng âm. KQKD của quý 3 của các ngành khá tương đồng với KQKD 9T.

Theo thống kê từ KQKD quý 3/2019 của 575, doanh thu và LNST tăng lần lượt là 9% YoY và 19% YoY. Lũy kế 9 tháng, doanh thu và LNST tăng lần lượt là 8% YoY và 11% YoY. Trong đó, đóng góp chính vào tăng trưởng LNST quý 3/2019 tới từ VCB, VHM, MSN, VPB, HVN, CTG và STB. Nhìn chung các KQKD của nhóm VN30 khá tích cực trong khi KQKD của nhóm VNMid, VNSml và HNX không được khả quan. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy KQKD của nhóm VN30 và VN-Index vẫn chưa được thể hiện vào giá khi VNIndex và VN30 gần như đi ngang trong tháng Mười.

23

Cụ thể hơn, các ngành chính như ngân hàng, bất động sản, và bán lẻ đều cho thấy KQKD ấn tượng. Tuy nhiên, chỉ duy nhất chỉ số ngành Ngân hàng tăng trong tháng Mười.

Nhóm Ngân hàng có LNST tăng mạnh nhất với 43% trong quý3/2019 và tăng 25% YoY sau 9T2019. Đóng góp chính vào LNST quý 3 đến từ KQKD của VCB, VPB, CTG và STB.

Trong khi đó LNST của ngành du lịch và giải trí tăng đến chủ yếu từ đóng góp của HVN, chiếm 90% LNST tăng lên của ngành này. Đây cũng là bức tranh của ngành du lịch và giải trí trong 9 tháng khi LNST (+9% YoY) tăng lên đều tới từ sự đóng góp của HVN.

LNST của ngành Thực phẩm đồ uống tăng 27% YoY trong quý 3/2019. Đóng góp chính vào phần tăng thêm tới từ MSN và SAB. Trong khi LNST của MSN tăng mạnh phần lớn tới từ việc MSN thu được khoản bồi thường từ vụ thắng kiện Jacobs. Ở chiều ngược lại, KQKD của VHC, DBC và ACL không tốt đã kéo giảm tổng LNST của ngành Thực phầm đồ uống.

Ngành Bảo hiểm ghi nhận LNST quý 3/2019 tăng 26% YoY. Tất cả đều tới từ sự đóng góp của BVH khi LNST của BVH tăng gần 3 lần nhờ doanh thu tăng mạnh và chi phí được kiểm soát bằng cách thay đổi cơ cấu sản phẩm. LNST 9T của ngành bảo hiểm tăng 18% chủ yếu tới từ sự đóng góp của BVH và PVI.

Ngành Bán lẻ tiếp tục ghi nhận LNST tăng mạnh. MWG là công ty đóng góp hơn 97% phần tăng thêm trong LNST của ngành này. Ngoài ra, DGW cũng có KQKD khá tốt khi LNST tăng gần 42% YoY. Đây cũng là bức tranh của ngành bán lẻ sau 9 tháng đầu năm.

Mặc dù LNST Q3 của ngành Bất động sản vẫn ghi nhận tăng trưởng 18%, tất cả đều tới từ sự đóng góp của VHM. Nếu loại trừ phần tăng lên của VHM, LNST của ngành Bất động sản giảm 4% YoY. Nguyên nhân tới từ sự sụt giảm LNST của một số công ty như NVL, NLG, VIC và LDG. Dù vậy, KQKD 9T của ngành bất động sản vẫn khá tích cực khi doanh thu và LNST tăng trưởng lần lượt là 24% YoY và 28% YoY. Ngay cả khi loại nhóm cổ phiếu của Vingroup, doanh thu và LNST 9T tăng lần lượt là 32% YoY và 15% YoY.

25

Chúng tôi nhận thấy KQKD Q3 chưa được phản ánh vào điễn biến giá tháng Mười. Khi mà nhóm VN30 và nhóm VNIndex ghi nhận KQKD tích cực nhưng giá lại đi ngang. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính tới từ việc khối ngoại tiếp tục bán ròng trong tháng Mười khiến cho tâm lý thị trường chung bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng thị trường sẽ sớm phản ánh KQKD trong thời gian tới khi mà hoạt động của khối ngoại có thể sẽ sớm đảo chiều và tiền nội đủ để hỗ trợ thị trường

Tiền ngoại có thể đảo chiều

Căng thẳng thương mại đã đè nặng lên tâm lý thị trường trong hơn một năm qua. Cập nhật mới nhất cho thấy Mỹ - Trung đang nỗ lực để đạt được thỏa thuận giai đoạn I, tín hiệu tích cực đầu tiên để tiến tới thỏa thuận toàn diện (dù có thể cần thêm nhiều thời gian). Theo thông tin chính thức từ hai bên, các điều khoản sẽ tiếp tục được đàm phán và hai bên sẽ sớm công bố thời gian và địa điểm ký kết thỏa thuận giai đoạn I (thay thế cho địa điểm lựa chọn ban đầu là tại Hội nghị Apec tháng 11).

Ở các thị trường phát triển, lợi suất trái phiếu Chính phủ của các nước phát triển đang tăng trở lại kể từ cuối tháng Tám – đầu tháng Chín, dấu hiệu cho thấy dòng tiền tìm kiếm kênh trú ẩn an toàn (trái phiếu Chính phủ) đã dịu dần. Hay nói cách khác, kỳ vọng về rủi ro suy thoái của giới đầu tư đã bắt đầu giảm. Thêm vào đó, khả năng Fed tiếp tục hạ lãi suất từ nay tới cuối năm không cao. Chúng tôi cho rằng lợi suất TPCP 10 năm của Mỹ có thể biến thiên trong khoảng 1,5 – 1,8%.

Đồng thời, việc tìm kiếm cơ hội đầu tư cổ phiếu ở thị trường phát triển, điển hình là Mỹ, không còn dễ dàng khi mà mức PE của chỉ số S&P500 đã đạt đỉnh một năm. Mặc dù chúng tôi không cho rằng các nhà đầu tư ngoại sẽ ồ ạt đổ tiền vào cổ phiếu các thị trường mới, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể được xem là khá hấp dẫn khi Việt Nam là nền kinh tế hiếm hoi duy trì được tốc độ tăng trưởng cao.

Trở ngại lớn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài hiện nay có lẽ là vấn đề giới hạn sở hữu khi các doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt đã gần hết room. Tuy nhiên, quy tắc ban hành các rổ chỉ số mới đã được đưa ra hơn 2 tháng qua, do đó chúng tôi kỳ vọng các ETFs sẽ được ra mắt trong năm nay.

26

Dư nợ margin dồi dào

Mặc dù KQKD quý 3/2019 và 9T2019 của các CTCK giảm mạnh, lãi từ cho vay ký quỹ vẫn tăng lên đáng kể. Dữ liệu lịch sử cũng cho thấy mối tương quan dương giữa dư nợ ký quỹ và VNIndex. Mặc dù mối quan hệ đã không còn mạnh như năm 2017, tuy nhiên dư nợ margin tăng lên sẽ hỗ trợ thị trường chứng khoán.

Dư nợ margin đã tăng hơn 12 nghìn tỷ đồng kể từ cuối năm 2018, gấp 4 lần GTGDKL bình quân hằng ngày sau 9 tháng. Trong đó, ba CTCK có vốn từ Hàn Quốc bao gồm Mirae, KB và KIS đã chiếm hơn 37% dư nợ margin tăng lên. Trong bối NHTW Hàn Quốc vừa tiếp tục hạ lãi suất lần thứ 2 trong năm, CTCK Hàn Quốc có lí đo để gia tăng dư nợ ký quỹ khi lãi suất bình quân hiện nay vẫn ở mức cao. Trong khi đó, các CTCK lớn trong nước có uy tín có thể huy động với lãi suất thấp để phục vụ hoạt động ký quỹ.

27

Tóm lại chúng tôi cho rằng KQKD quý 3/2019 chưa hoàn toàn được phản ánh vào diễn biến thị trường trong tháng Mười. Trong bối cảnh, rủi ro bên ngoài đã giảm bớt chúng tôi cho rằng thị trường có thể kỳ vọng dòng tiền ngoại có thể đảo chiều trong thời gian tới. Trong khi đó, tiền nội khá dồi dào khi dự nợ ký quỹ liên tục tăng trong suốt thời gian qua. Ngoài ra, lãi suất ký quỹ giảm do cạnh tranh từ các CTCK có vốn ngoại cũng phần nào khuyến khích các nhà đầu tư. Chúng tôi cho rằng thị trường có thể biến động trong khoảng 1.000 – 1.040 trong tháng Mười Một.

Như chúng tôi đã thảo luận trong báo cáo chiến lược các tháng trước, mặc dù nền tảng nội tại của Việt Nam vẫn ghi nhận giai đoạn tăng trưởng tích cực, các yếu tố ngoại tác từ thế giới là trở ngại chính cản trở những chuyển biến tích cực trên sàn chứng khoán Việt Nam. Do đó, ngay khi những vấn đề ngoại tác được xoa dịu, TTCK Việt Nam chuyển biến khả quan ngay từ các phiên đầu tháng 11/2019. Với sự trở lại của dòng tiền ngoại, chúng tôi kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam khởi sắc hơn trong hai tháng cuối năm 2019. Tăng tỷ trọng cổ phiếu so với tiền mặt hoặc sử dụng ký quỹ trong danh mục sẽ giúp các nhà đầu tư nắm bắt lợi nhuận trong giai đoạn xu hướng tăng. Kết quả kinh doanh 9T/2019 tiếp tục cho thấy sự phân hóa giữa các ngành cũng như các nhóm cổ phiếu, điển hình như trong ngành bất động sản. Cụ thể, mặc dù tổng doanh thu và LNST tăng lần lượt 24% và 28% YoY trong 9T, thành quả này chủ yếu được đóng góp bởi nhóm cổ phiếu VIN. Không bao gồm đóng góp từ các công ty đó, LNST của nhóm bất động sản chỉ tăng 15% YoY. Ba nhóm tiếp theo công bố mức tăng trưởng LNST cao nhất là bán lẻ, ngân hàng và công nghệ (chi phối bởi kết quả của FPT), lần lượt đạt 30% YoY, 25% YoY và 22% YoY.

Chúng tôi đã chia sẻ quan điểm gần đây về MWG và PNJ (bán lẻ) và FPT (công nghệ), nên sẽ thảo luận về một số cổ phiếu ngân hàng trong tháng này. Tổng thu nhập hoạt động (TOI) và LNST của ngân hàng niêm yết tăng trưởng 22% và 43% YoY trong Q3/2019, và lần lượt là 17,2% và 25% YoY trong 9T/2019. Không chỉ các hoạt động cốt lõi (cho vay khách hàng và dịch vụ) khả quan, chi phí hoạt động và dự phòng thấp cũng góp phần giúp thu nhập ròng tăng trưởng mạnh. Hình 26 cho thấy hầu hết các ngân hàng đều có tốc độ tăng trưởng LNST thấp hơn so với năm ngoái, chủ yếu là do năm ngoái có thu nhập bất thường. Điều tích cực là hầu hết các ngân hàng đều hoàn thành hơn 3/4 so với kế hoạch cho cả năm 2019. Đối với ngành ngân hàng, mùa cao điểm kinh doanh thường rơi vào quý 4. Do vậy, với thành quả như trên trong chín tháng, chúng tôi tin rằng ngân hàng sẽ vượt kế hoạch kinh doanh cả năm

2

30

Cơ sở vốn mạnh, biểu hiện qua hệ số đòn bẩy thấp và CAR Basel II cao, sẽ đảm bảo tốc độ tăng trưởng cho vay cao đối với nhóm NHTMCP tư nhân. Đây là khía cạnh tích cực khi mà (1) Hoạt động cho vay khách hàng vẫn là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng Việt Nam và (2) Mở rộng tín dụng sẽ cho phép các ngân hàng bán chéo sản phẩm (thẻ, thanh toán giao dịch, bảo hiểm, v.v.), sau đó, nâng cao thu nhập dịch vụ. Bên cạnh đó, với mức định giá tương đối thấp, P/B forward 2020 ở mức khoảng 1,0x - 1,4x và ROE cao (18 - 20%) cũng là một lợi thế khác của nhóm này. Điều cần lưu ý là hầu hết các ngân hàng thương mại tư nhân niêm yết đều không còn dư địa cho sở hữu nước ngoài

ACB, GMT: 27.800 đồng. Chúng tôi giữ quan điểm tích cực về ACB khi ngân hàng tập trung cao độ vào các thế mạnh vốn có thay vì mở rộng sang các lĩnh vực rủi ro cao, cùng với thanh khoản lành mạnh và cơ sở vốn hợp lí. Ngoài ra, tiềm năng tăng trưởng thu nhập bancassurance dự kiến sẽ được thúc đẩy bởi hợp đồng phân phối bảo hiểm không độc quyền ký gần đây với Manulife. Đây sẽ là động lực mới cho tăng trưởng thu nhập lợi nhuận, đặc biệt trong bối cảnh thu nhập lãi khó tăng trưởng mạnh trong ngắn hạn. Ngoài ra, chất lượng tài sản hàng đầu và khả năng kiểm soát chi phí vốn tốt, cùng với khả năng thu hồi nợ xấu cao cũng là những lợi thế quan trọng giúp ACB duy trì tăng trưởng lợi nhuận ổn định trong giai đoạn sắp tới.

VPB, GMT: 25.700 đồng. Kết quả kinh doanh 9T của VPB cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ trong mảng cho vay tiêu dùng (thông qua công ty con FE Credit). Đặc biệt, VPB đã công bố LNTT hợp nhất khoảng 7,2 ngàn tỷ đồng (+17,4% YoY), hoàn thành 76% kế hoạch trong cả năm. Chúng tôi ước tính LNTT của ngân hàng mẹ đã giảm 3,6% YoY xuống còn 3,5 ngàn tỷ. Nếu loại trừ thu nhập bất thường ghi nhận cùng kỳ năm 2018, LNTT 9T/2019 thực tế tăng hơn 25% YoY. Trong khi đó, LNTT của FC đã tăng hơn 52% YoY lên 3,7 ngàn tỷ đồng. Trong 9T/2019, ngân hàng mẹ đóng góp 51,5% và FC góp 48,5% (9T/2018: 37%) trong tổng LNTT của VPB.

VPB đã hoàn tất mua 50 triệu cổ phiếu quỹ trong tháng 10/2019 , khiến vốn chủ sở hữu của VPB giảm khoảng 1,1 ngàn tỷ. Tuy nhiên, thu nhập trong quý 4 sẽ bù vào khoản bị giảm và như vậy sẽ không ảnh hưởng quá nhiều đến CAR (Basel II) của VPB. Do thu nhập từ cho vay và dịch vụ tăng trưởng tốt hơn kỳ vọng của chúng tôi, chúng tôi tăng dự báo LNTT của VPB lên 9.948 tỷ đồng (429 triệu USD), tăng 8% YoY và cao hơn 5% so với kế hoạch của năm 2019. VPB đang giao dịch tại P/B 2020 là 1,0 x, mức định giá tương đối hấp dẫn khi xem xét khả năng tăng trưởng ở mức hai chữ số về thu nhập ròng và mang lại ROE 20% trong vòng hai năm tới.

BID, ngân hàng quốc doanh, đang trong quá trình tái cơ cấu. Hiện tại, chúng tôi thấy rằng ngân hàng đã gần như hoàn tất, và với sự tham gia của đối tác chiến lược mới sẽ mở ra một triển vọng mới và tươi sáng cho BID. Do đó, mặc dù mức P/B hiện tại của BID cao hơn mức trung bình của các ngân hàng khác, chúng tôi tin rằng BID có thể trở thành ứng cử viên mới theo sau VCB.

BID, GMT: 50.000 đồng. BID đã hoàn tất thủ tục bán 603 triệu cổ phiếu, hạn chế chuyển nhượng trong vòng 5 năm, cho Ngân hàng KEB Hana (KHB), với giá 33.640 đồng/cổ phiếu, tương đương với P/B (sau góp vốn) là 1,7x. Với hơn 20,2 ngàn tỷ đồng thu được từ thương vụ này, vốn điều lệ của BID đã tăng lên 40,22 ngàn tỷ đồng, trở thành ngân hàng lớn nhất về vốn điều lệ trong hệ thống. BID vẫn đang có kế hoạch tiếp tục thực hiện phát hành thêm 10% cho NĐT tài chính nhằm giảm tỷ lệ sở hữu của chính phủ xuống 65% trong các năm sau. Dù vậy, việc phát hành này sẽ chưa được thực hiện tối thiểu trong vòng 6 tháng sau khi phát hành cho KHB.

Với nguồn tiền mới từ KHB, BID sẽ có những thay đổi tích cực về các yếu tố cơ bản cũng như triển vọng tăng trưởng trong những năm tới:

 Cải thiện bộ đệm vốn, từ đó cho phép tăng trưởng tín dụng cao hơn. Theo thương vụ, CAR (Basel 1) đã tăng lên 10,5% và CAR (Basel 2) được ước tính ở mức cao hơn 9%. Tăng trưởng tín dụng được kỳ vòng ở mức bình quân 14-15% mỗi năm trong các năm tới.

 Giảm áp lực huy động vốn. Chúng tôi ước tính rằng BID có thể duy trì mức tăng trưởng huy động thấp hơn so với tăng trưởng tín dụng, cũng như ít phụ thuộc hơn vào vốn cấp 2. Như vậy, NIM có khả năng đạt 2,9% cho năm 2019 và 3,1% cho năm 2020  Thêm nguồn lực để đẩy mạnh mảng ngân hàng bán lẻ, ngân hàng số và quản lý chất lượng tài sản với sự hỗ trợ của đối tác chiến lược mới. Ngân hàng KHB sẽ gửi khoảng 20 chuyên gia Hàn Quốc đến BID để đảm nhận một số vị trí quan trọng, bao gồm vị trí trong HĐQT và ban quản lí.

BID đã và đang ưu tiên mục tiêu làm sạch bảng cân đối kế toán và xử lý các khoản nợ VAMC hơn là chú trọng tăng trưởng lợi nhuận ở giai đoạn hiện tại. Dù vậy, với nguồn vốn mới, chúng tôi cho rằng ngân hàng vẫn có thể đạt được mức tăng trưởng lợi nhuận (dù khiêm tốn) 10% YoY trong năm 2019. Sau khi xử lý xong trái phiếu VAMC, chi phí dự phòng dự báo sẽ giảm ít nhất -24% YoY vào năm 2020. Như vậy, chúng tôi hy vọng thu nhập sẽ tăng tốc đáng kể trong năm 2020.

BID đang được giao dịch ở mức P/B 2019 là 2,2 x, cao hơn đáng kể so với mức trung bình của các ngân hàng khác (trừ VCB). Tuy nhiên, với tiềm năng tăng trưởng cao (LNST CAGR 30% trong năm 2019 - 2022 và ROE đạt 19% vào năm 2022), chúng tôi cho rằng ngân hàng xứng đáng có mức P/B cao hơn bình quân ngành.

31

CHỈ SỐ VĨ MÔ VIỆT NAM THÁNG 10

32

33

34

CHỈ SỐ CÁC NHÓM NGÀNH

35

36

 

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds 

 

hotline