Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo chiến lược 2017

Được đăng vào 03-03-2017

Báo cáo chiến lược 2017

TRIỂN VỌNG VĨ MÔ VIỆT NAM: CỦNG CỐ SỰ ỔN ĐỊNH

Như đã đề cập trong báo cáo sơ bộ về triển vọng vĩ mô trong năm 2017 của Chúng tôi  vào tháng 12/2016, đến thời điểm hiện tại, chúng tôi vẫn bảo lưu quan điểm nhà điều hành sẽ tiếp tục đối diện với nhiều thách thức về vĩ mô trong năm nay. Hiện tại, các yếu tố kiềm hãm tăng trưởng gồm có tỷ lệ nợ công/GDP đang ở mức cao, nền kinh tế quá phụ thuộc vào khu vực FDI để tăng trưởng sản xuất và thương mại, quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng diễn ra chậm chạp. Gần đây, chủ nghĩa bảo hộ từ Mỹ với nguy cơ gia tăng rào cản thương mại và bất ổn trên toàn cầu tạo thêm một lực cản đối với triển vọng tăng trưởng vĩ mô nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng. Những tháng đầu năm 2017, đa phần các nhà đầu tư đều rất quan tâm đến rủi ro mất giá mạnh của tiền đồng, cùng với đó là những hoài nghi về khả năng đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định, mang tính hỗ trợ cho khối doanh nghiệp trong nước từ các nhà hoạch định chính sách.

Đối với những quan ngại này, chúng tôi chọn góc nhìn tích cực rằng Việt Nam có thể điều hướng được những thách thức kể trên:

Chúng tôi cho rằng rủi ro mất giá mạnh của tiền đồng là thấp bởi những đặc thù riêng trong quản lý tỷ giá tại Việt Nam. Trong năm 2017, đồng USD được dự báo sẽ mạnh lên do chính sách của Trump và khả năng Fed nâng lãi suất. Tuy nhiên, có ba yếu tố có thể hỗ trợ cho sự ổn định của tiền đồng năm nay gồm: (1) Xét từ góc độ ổn định vĩ mô, với thặng dư tài khoản vãng lai và không có áp lực lạm phát đáng kể thì NHNN sẽ có khả năng kiểm soát tỷ giá và tránh để tiền đồng mất giá quá mạnh; (2) NHNN đã tận dụng tốt những biến động trên thị trường tiền tệ từ năm ngoái đến nay để tích lũy dự trữ ngoại hối, mức dự trữ cao nhất từ trước đến nay có thể làm tấm đệm tốt để chống lại những cú sốc tiền tệ từ bên ngoài, vượt qua những thời kỳ bất ổn; (3) Áp lực vô hình về việc tiền đồng mất giá và kỳ vọng của thị trường đã giảm bớt từ khi cơ chế tỷ giá mới được áp dụng vào đầu năm 2016. Trong năm 2017, chúng tôi kỳ vọng tiền đồng chỉ mất giá ở mức độ vừa phải. Tỷ giá USD/VND cuối năm được dự báo ở mức 23.500.

. Mặc dù lạm phát sẽ cao hơn trong những năm tới, việc lãi suất trong nền kinh tế tăng vọt ít có khả năng xảy ra. Trong bối cảnh giá hàng hóa đang phục hồi trở lại, các nhà đầu tư đã bắt đầu đề phòng với rủi ro lạm phát có khả năng tăng cao hơn. Mặc dù lạm phát chung đã tăng lên, phản ánh thay đổi trong giá hàng hóa dịch vụ công và sự hồi phục trở lại của giá dầu, lạm phát lõi vẫn đang đứng yên. Chúng tôi dự báo lạm phát chung sẽ tăng khoảng 6% trong năm nay, trong khi đó lạm phát lõi dự báo sẽ chỉ khoảng từ 2,5-3%. Do đó, NHNN sẽ tiếp tục duy trì các lãi suất điều hành hiện tại, đứng từ quan điểm lạm phát chung cao hơn chỉ phản ánh những yếu tố phi tiền tệ. Nếu lạm phát lõi tăng mạnh lên sau biến động tăng của lạm phát chung, NHNN có thể cân nhắc thực hiện thắt chặt chính sách tiền tệ.

Trong thời gian gần đây, NHNN đã ban hành nhiều thông tư, quy định về hoạt động của các tổ chức tín dụng, nổi bật có thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chúng tôi cho rằng vẫn còn quá sớm để đánh giá tác động đến từ các quy định trong thông tư này, tuy nhiên, chúng tôi nhìn nhận Thông tư 39 là bước tiếp theo để NHNN thực hiện các biện pháp nhằm quản lý sát hơn hoạt động của thị trường tiền tệ, thắt chặt các quy định cho vay ở một số lĩnh vực, trong khi khơi thông vốn cho các ngành sản xuất phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và lĩnh vực ưu tiên. Thêm vào đó, hành động loại bỏ trần lãi suất cho vay được quy định trong Luật Dân sự năm 2015 và áp dụng trần lãi suất cho vay ngắn hạn cho thấy NHNN đang có khuynh hướng kiểm soát những biến động ngắn hạn để tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô

 Chủ nghĩa bảo hộ thương mại chưa nguy hiểm cho nền kinh tế Việt Nam trong ngắn và trung hạn. Thành tích xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu đến từ khối FDI trong nhiều năm qua. Trong năm 2016, khối FDI chiếm đến 70% tổng giá trị xuất khẩu, do đó, triển vọng thương mại của Việt Nam chủ yếu sẽ phụ thuộc vào khu vực FDI. Chúng tôi cho rằng xu hướng đầu tư vào Việt Nam sẽ không bị đảo ngược dễ dàng sau thất bại của TPP. Theo khảo sát của JETRO về niềm tin kinh doanh củ các công ty Nhật Bản tại Châu Á, có đến 66,6% doanh nghiệp được khảo sát cho biết sẽ tiếp tục mở rộng trong 1-2 năm tới tại thị trường Việt Nam, tăng 2,5% so với kết quả của cuộc khảo sát năm 2015. So với Trung Quốc, sự lạc quan về triển vọng mở rộng hoạt động kinh doanh ở Việt Nam cao hơn nhiều (66,6% so với 40,1%). Đáng chú ý, chỉ có 15,4% doanh nghiệp được khảo sát cho biết TPP có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ trong khi có đến 60,1% đưa ra câu trả lời tác động không rõ ràng. Nhật Bản đang là nhà đầu tư lớn thứ hai vào Việt Nam, sau Hàn Quốc. Dựa trên kết quả khảo sát này, chúng tôi cho rằng TPP không phải là lý do được ưu tiên hàng đầu được các nhà đầu tư nước ngoài cân nhắc khi đầu tư tại Việt Nam. Cũng theo kết quả khảo sát, khả năng tiếp nhận và sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và tăng trưởng doanh số bán hàng là hai nguyên nhân chính để mở rộng hoạt động kinh doanh, do đó, các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều nhất đến lĩnh vực bán lẻ và sản xuất thiết bị điện tử.

Các nhà xuất khẩu nội địa sẽ được hưởng lợi từ sự phục hồi của giá hàng hóa. Ngoài ra, những doanh nghiệp tận dụng được sự gia tăng trong các rào cản thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể kỳ vọng sự cải thiện trong kinh doanh trong ngắn và trung hạn.

Giá hàng hóa tăng trở lại và ảnh hưởng đối với môi trường kinh doanh của doanh nghiệp nội địa

Có thể nói, chu kỳ giảm giá của giá hàng hóa thế giới đã kết thúc trong năm 2016, đến nay, đa số các mặt hàng đã phục hồi về giá, đặc biệt là giá các kim loại cơ bản và năng lượng. Dựa trên định hướng chính sách ổn định lạm phát và triển vọng về nhu cầu tiêu dùng nội địa, chúng tôi nghĩ rằng giá cả đầu ra khó có thể tăng đáng kể để bù đắp cho sự gia tăng của giá nguyên liệu đầu vào. Trong ngắn hạn, chỉ những công ty dự trữ được hàng tồn kho giá rẻ sẽ được hưởng lợi từ sự hồi phục của giá hàng hóa. Trong khi đó, những công ty thiếu sự chuẩn bị đối với đà tăng giá của nguyên liệu đầu vào và chịu áp lực cạnh tranh mạnh sẽ đối diện với sự suy giảm trong biên lợi nhuận. Những công ty trong lĩnh vực tiêu dùng, y tế kỳ vọng tiếp tục được chi tiêu dùng nội địa ủng hộ, giá bán tăng do đó có thể hỗ trợ cho tăng trưởng.

Vào đầu năm nay, nhiều cổ phiếu của các công ty hoạt động cốt lõi liên quan đến một số hàng hóa cơ bản đã phản ánh sự thay đổi trong chu kỳ giá hàng hóa (cao su, dầu khí). Việc đầu tư vào cổ phiếu có liên quan đến diễn biến giá hàng hóa là một lựa chọn phổ biến trong chu kỳ đi lên của hàng hóa thế giới. Thông thường, chu kỳ giá hàng hóa là một chu kỳ lớn và kéo dài gần 10 năm, trong khi đó, giai đoạn tăng giá của cổ phiếu chỉ mới diễn ra trong một thời gian ngắn. Hiện tại, chúng tôi nhìn nhận giá hàng hóa đang tăng trở lại từ vùng đáy, do đó vẫn còn hy vọng đối với nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu của các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh cốt lõi gần với diễn biến giá hàng hóa cơ bản. Tuy nhiên, sự phục hồi trong kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này sẽ có một độ trễ nhất định sau diễn biến tăng của giá hàng hóa.

Rủi ro:

• Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức cao nhất từ trước đến nay, mức cao này phản ánh sự phụ thuộc của nền kinh tế đối với nguồn vốn từ ngân hàng. Đáng lưu ý, phần lớn mức tăng trưởng tín dụng đến từ các lĩnh vực khác, trong đó, gồm có bất động sản, cho vay tài chính tiêu dùng. Điều này làm tăng lo ngại về hiệu suất sử dụng vốn của nguồn tín dụng mới. Nếu các nhà điều hành không có biện pháp phù hợp (gồm cả biện pháp thị trường và hành chính) để kiểm soát tăng trưởng tín dụng quá mức ở các khu vực không tạo ra tăng trưởng thực thì rủi ro đối với thị trường tài chính Việt Nam sẽ gia tăng.

• Do nợ công cao, Chính phủ phải tăng cường thu ngân sách để giảm thâm hụt ngân sách. Giải pháp tạm thời để giảm áp lực nợ công là nguồn thu đến từ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Vào cuối năm 2016, Chính phủ mới đã tạo ra hi vọng về triển vọng bán cổ phần Nhà nước tại các doanh nghiệp lớn. Trong kịch bản Chính phủ không hành động như những gì đã hứa, tâm lý thị trường có thể sẽ không còn tốt như những kỳ vọng lúc đầu, sự bi quan sẽ được nhắc đến nhiều hơn.

• Những cú sốc bên ngoài có thể gây ra rủi ro cho trong nước. Bất ổn trên thị trường tài chính toàn cầu có thể gây ra nhiều áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước. Việc thiếu các nguồn lực để chống đỡ những cú sốc bên ngoài có thể làm suy giảm tính ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Tựu chung lại, chúng tôi cho rằng môi trường vĩ mô trong năm 2017 sẽ chuyển từ lạm phát thấp sang lạm phát vừa phải. Chúng tôi kỳ vọng nhà điều hành tiếp tục thận trọng đối với chi tiêu công, duy trì chính sách tiền tệ lành mạnh để khối u nợ xấu dần được giải quyết theo thời gian, đồng thời cải thiện các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp kinh doanh và phát triển. Ngoài ra, chính sách vĩ mô sẽ tập trung vào việc củng cố sự ổn định của nền kinh tế thông qua ổn định mặt bằng lãi suất và tốc độ mất giá của tiền đồng. Tăng trưởng tín dụng sẽ không cao như năm trước do tín dụng đối với bất động sản và các lĩnh vực có tiềm tàng rủi ro khi cho vay sẽ được giám sát chặt hơn. Mặt khác, nhà điều hành sẽ tiếp tục thúc đẩy dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, nông nghiệp, công nghệ, vận tải và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Dựa trên cơ sở này, chúng tôi cho rằng môi trường hoạt động của các doanh nghiệp trong nước sẽ tiếp tục thuận lợi dựa trên nền tảng cốt lõi là sự ổn định của vĩ mô. Sự cải thiện trong niềm tin kinh doanh ở các lĩnh vực nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ sẽ thúc đẩy niềm tin và sự sẵn sàng trong mở rộng đầu tư sản xuất của khu vực tư nhân. Tăng trưởng kinh tế cao hơn năm trước và lạm phát vừa phải có thể tạo ra tăng trưởng lợi nhuận nhờ sự cải thiện trong doanh thu bán hàng. Ngoài ra, một số doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh ở thị trường nội địa có thể tiếp tục tăng trưởng khi thu nhập của người dân tăng lên. Các doanh nghiệp xuất khẩu khó kỳ vọng có sự hỗ trợ như phá giá mạnh tiền đồng nhưng sẽ bớt khó khăn hơn năm trước nhờ giá hàng hóa hồi phục và thậm chí có thể tích cực hơn nếu nắm bắt được cơ hội từ việc các rào cản thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang gia tăng.

1

DÒNG VỐN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NĂM 2017 SẼ TIẾP TỤC DỒI DÀO

Chúng tôi nhận thấy sự bứt phá của thị trường trong năm vừa qua chủ yếu đến từ mức tăng trưởng của P/E (nhà đầu tư chấp nhận mức P/E cao hơn) hơn là từ các yếu tố nội tại cơ bản của doanh nghiệp. Thanh khoản dồi dào đã tạo lực đẩy rất tốt cho thị trường năm 2016. Khối ngoại mặc dù bán ròng nhưng nhà đầu tư trong nước rất tự tin mua vào bởi khối nội dần hiểu được bản chất thực sự của hoạt động bán ròng từ khối ngoại trong năm 2016 vừa qua

Nhìn lại năm 2016: Nhà đầu tư nội phản ứng tích cực với hoạt động bán ròng của khối ngoại

Trong năm 2016, giá trị giao dịch bình quân trên HSX và HNX đạt 2.930 tỷ đồng, tăng 17,2% so với 2015. Khối ngoại chiếm 12,7% tổng lượng giao dịch. Năm 2016 ghi nhận năm đầu tiên thị trường chứng khoán (TTCK) chứng kiến lực bán ròng của nhà đầu tư nước ngoàisuốt trong cả năm, hơn 6.758 tỷ đồng. Tuy nhiên nếu nhìn cụ thể vào các giao dịch thì những nguyên nhân chủ yếu cho việc bán ròng thật sự không quá tiêu cực. Thứ nhất, phần lớn giá trị bán ròng là do hoạt động chốt lời từ việc tận dụng chêch lệch giữa giá trị cổ phiếu từ trái phiếu chuyển đổi và thị giá của cổ phiếu VIC, lên đến 6.294 tỷ đồng. Thứ hai, các quỹ ETFs bán ròng 3.364 tỷ đồng trong suốt 4 tháng cuối năm 2016. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, nhiều giao dịch bán ròng từ khối ngoại là do hoạt động chốt lời từ nhóm cổ phiếu Blue-chips, cụ thể là chốt lời 2.300 tỷ đồng VNM khi giá cổ phiếu tăng trưởng nóng nhờ thông tin nới room và SCIC thoái 9% vốn tại VNM. Một nguyên nhân khác là một số quỹ ngoại chốt lời các blue-chips như VNM, HPG nhằm tập trung giải ngân cho các cổ phiếu OTC trước làn sóng niêm yết ồ ạt trong năm 2016

Các nhà đầu tư trong nước đã có động thái ngược lại với nhóm nhà đầu tư nước ngoài, đặt kỳ vọng ngày một nhiều hơn vào thị trường chứng khoán 2016 khi chấp nhận mua cao bán cao hơn. Do đó, thị trường tiếp tục tăng lên.

mở tài khoản chứng khoán miễn

Trong năm 2017, theo chúng tôi đánh giá sẽ có các yếu tố trái chiều nhau tác động lên dòng vốn ngoại.

Nếu quan sát hoạt động của 2 quỹ ETF trong các năm gần đây thì bức tranh lợi nhuận hẳn sẽ khiến không ít nhà đầu tư của quỹ thất vọng. Năm 2016, quỹ VanEck Vectors VietNam ETF đã ghi nhận mức tăng trưởng âm 2 con số 12,2% trong khi FTSE Vietnam ETF cũng chứng kiến một năm ảm đạm với mức sụt giảm NAV 2,4%. Kênh đầu tư qua chứng chỉ quỹ ETF đang dần trở nên thiếu hấp dẫn tại thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu loại trừ đi hoạt động của 2 quỹ ETF thì năm 2016, các quỹ ngoại đã ghi nhận không ít thành công trong các thương vụ đầu tư tại thị trường Việt Nam. Tỷ suất lợi nhuận trung bình của các quỹ ngoại tại Việt nam là 15,9% trong năm 2016, cao hơn 0,5% so với các quỹ đầu tư nội địa. Do đó, thay vì chọn lựa hình thức đầu tư theo ETFs thì các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể đặt niềm tin vào các hình thức quỹ ngoại khác ở Việt Nam. Bên cạnh đó, ngành quản lý tài sản đang chứng kiến sự phát triển về các quy định chính sách cũng như các cách thức đầu tư ngày càng dễ tiếp cận và quen thuộc hơn với những nhà đầu tư nước ngoài có ý định tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Một yếu tố khác có thể khiến Việt Nam đón nhận thêm được dòng vốn khối ngoại là việc Pakistan sẽ được phân loại thành thị trường mới nổi từ thị trường cận biên trong tháng 3/2017, theo đó, những quỹ trước đây đầu tư theo thị trường cận biên sẽ không tiếp tục rót vốn vào Pakistan nữa, và thay vào đó là những thị trường cận biên khác trong đó có Việt Nam. Hiện tại ước tính lượng vốn đang đầu tư tại các thị trường cận biên theo tiêu chí phân loại của MSCI là 15 tỷ USD (tương đương 18% vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại).

Bên cạnh yếu tố hỗ trợ thì cũng có yếu tố tác động tiêu cực, khiến dòng vốn khối ngoại trở nên thận trọng hơn là biến động từ tỷ giá. Chúng tôi cho rằng giai đoạn “rút ròng” của khối ngoại trong những thời điểm tháng 5/2015, tháng 8/2015 và 2 tháng cuối năm 2016 khi tỷ giá USDVND đột ngột biến động mạnh sẽ là một rủi ro khó tránh khỏi trong năm 2017 mặc dù cơ chế “tỷ giá trung tâm” phần nào đã “giảm sốc” cho biến động tỷ giá. Năm 2017, giá trị đồng VND được dự báo sẽ bị phá giá khoảng 3%.

Chúng tôi đánh giá sự biến động của dòng vốn ngoại sẽ càng trở nên khó đoán hơn trong năm 2017. Tuy nhiên, lượng giao dịch của các nhà đầu tư nươc ngoài chỉ chiếm từ 13% đến 15% tổng giá trị giao dịch thị trường. Do đó, trong năm 2017, dù động thái của khối ngoại như thế nào thì chúng tôi tin rằng động lực tăng trưởng của TTCK Việt Nam vẫn sẽ được dẫn dắt bởi dòng vốn nội thuần.

Dòng vốn nội địa sẽ định hình thị trường vào năm 2017

Chúng tôi vẫn lạc quan về thanh khoản thị trường đến từ triển vọng dòng tiền trong nước. NHNN sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ mở rộng nhưng sẽ phải thận trọng hơn nên mức chênh lệch thanh khoản có thể không quá cao so với năm 2016 khi áp lực tỷ giá gia tăng sau một năm "ổn định", cùng với khả năng lạm phát quay trở lại.

1

Dòng tiền margin sẽ tiếp tục là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy giao dịch của thị trường trong năm 2017. Thực tế trong năm 2015, mức cải thiện của dòng tiền margin đã hỗ trợ rất tích cực cho thị trường. Mức margin bình quân năm 2016 đạt 22.410 tỷ đồng, tăng 45% từ mốc 15.443 tỷ đồng năm 2015, hỗ trợ giá trị giao dịch hàng ngày năm 2016 tăng 17%, cụ thể trên HSX là 14,7% và HNXIndex là 0,2%. Có một số ý kiến cho rằng margin thị trường đang cao tuy nhiên chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với nhận định trên. Thứ nhất, tỷ lệ giữa mức margin trên tổng vốn hóa “free-float” đang duy trì ở dưới ngưỡng 4% từ Q1/2014 đến Q4/2016, kể cả khi mức cho vay margin đạt đỉnh vào Q2/2016 – 26.759 tỷ đồng thì hệ số trên vẫn chỉ bằng 4,7%. Thứ hai, chúng tôi cho rằng vẫn còn tiềm năng tăng trưởng cho margin. Theo quyết định 87/QĐ-UBCK quy định về cho vay ký quỹ, các công ty chứng khoán có thể cung cấp mức cho vay bằng hai lần nguồn vốn chủ sở hữu. Theo đó, chúng tôi ước tính tổng mức cho vay margin tiềm năng của 10 công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam đạt 41.208 tỷ đồng, cao hơn gấp đôi mức margin hiện tại

Tổng hợp những phân tích nêu trên với đánh giá “trung lập” đối với dòng vốn ngoại và “tích cực” đối với dòng vốn trong nước, chúng tôi dự báo thanh khoản thị trường năm 2017 sẽ tiếp tục cải thiện khoảng 5,3% so với năm 2016, xoay quanh mức 3.090 tỷ đồng/phiên. 

So với Báo cáo Dự cảm năm 2017 (tháng 12/2016), số liệu tăng trưởng lợi nhuận năm 2016 có phần tích cực hơn so với mức tăng trưởng tính trượt 12 tháng (tính đến quý 3). Qua đó, chúng tôi nhận thấy trong ba yếu tố cấu thành mức sinh lợi của các ngành, bên cạnh sự thay đổi định giá (nâng mức P/E chấp nhận), tăng trưởng lợi nhuận cũng không quá mức tiêu cực nếu loại trừ các doanh nghiệp có vấn đề bất thường trong kinh doanh

Tăng trưởng lợi nhuận

Chủ đề 1: Thêm một năm sôi động của các hoạt động xây dựng

Dù có đôi chút hạ nhiệt so với năm 2015, thị trường BĐS vẫn tiếp tục có một năm tăng trưởng mạnh với hàng loạt dự án được triển khai. Bên cạnh đó, nhu cầu đầu tư của Chính phủ để phát triển hạ tầng KCN - giao thông vẫn rất lớn. Tổng hợp của hai yếu tố này tiếp tục đem lại một năm đầy sôi động đối với các hoạt động xây dựng, và là mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp liên quan trong chuỗi giá trị này.

LNST của các doanh nghiệp Xây dựng trên sàn đều nhảy vọt như CTD (+113%), HBC (+540%), VCG (+44%), HUT (+152%), LCG (+358%), CII (+36%). Kinh doanh Vật liệu xây dựng cũng ăn nên làm ra; gạch men có VIT (+54%) và CVT (+143%), đá có VCS (+67%) và NNC (+49%), ống nhựa công trình có BMP (+25%) và DNP (+84%)… Tuy chỉ nêu ra những cái tên lớn nhất, nhưng đó là bức tranh chung cho hầu hết các doanh nghiệp ngành này trong 2016.

Sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp thép (thuộc ngành Tài nguyên cơ bản) cũng tăng mạnh. Bên cạnh nhu cầu cao từ các công trình xây dựng, chính sách áp thuế tự vệ lên các sản phẩm thép nhập khẩu đã thực sự chắp cánh cho tăng trưởng của các công ty này. Đây là nhóm giữ vị trí quán quân trên thị trường về tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2016. Sở hữu chỉ một cái tên trong các cổ phiếu HPG, HSG, TLH, SMC, NKG, POM gần như là đủ để danh mục của nhà đầu tư đạt tỷ suất lợi nhuận vượt trội.

Chủ đề 2: Khi tiêu dùng nội địa lên ngôi

Một câu chuyện không mới: thu nhập người dân cải thiện, kéo theo nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng. Các doanh nghiệp Hàng cá nhân gia dụng như PNJ (trang sức), TLG (văn phòng phẩm), RAL (bóng đèn), GDT (gỗ gia dụng), Thực phẩm & đồ uống (VNM, MSN), Bán lẻ (MWG) đều hưởng lợi từ xu hướng này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng KQKD của 2 ngành thực phẩm & đồ uống và bán lẻ chịu ảnh hưởng lớn của VNM, MSN và MWG do quy mô của hầu hết các công ty còn lại đều nhỏ so với mặt bằng chung của thị trường. Nhiều doanh nghiệp trong nhóm thực phẩm & đồ uống và bán lẻ vẫn chỉ có mức tăng trưởng khiêm tốn. Như vậy, dù các ngành này đều hưởng lợi nhưng cạnh tranh cao khiến cho không phải công ty nào cũng tận dụng được xu hướng này.

Cổ tức

Với những ai ưa thích cổ tức, ngành Tiện ích công cộng có mức tỷ suất cổ tức (12,2%) đủ để làm hài lòng bất kỳ nhà đầu tư khó tính nào, với các công ty có mức tỷ suất khá hấp dẫn là TDW (19%), PGS (18%), PPC (18%), NT2 (13%) hay GAS (13%). Phần cổ tức này, cộng thêm mức tăng giá cổ phiếu trong năm, mang lại lợi tức đầu tư tuyệt vời và là minh chứng cho sự hiệu quả của chiến lược đầu tư theo cổ tức

Các ngành cũng có tỷ suất cổ tức cao là Hóa chất (8,4%) với các cổ phiếu phân bón BFC (20%), NFC (16%), SFG (15%), PCE (14%), PSW (13%), và Ô tô phụ tùng (6,9%). Trong khi đó, Bất động sản (0,7%) hay Ngân hàng (1,6%) có tỷ suất cổ tức rất thấp

Thay đổi mặt bằng định giá – lấy P/E làm đại diện

Năm 2016, thị trường đã chấp nhận trả mức P/E cao hơn cho nhiều cổ phiếu khi mà có tới 15/18 ngành cấp 2 cho thấy P/E có chiều hướng tăng lên. Trong đó, những ngành có mức tăng P/E cao nhất là:

- Dầu khí: với 5 cổ phiếu là PVB, PVC, PVD, PVE và PVS. P/E ngành tăng cao chủ yếu là do giá các cổ phiếu này dù rớt sâu nhưng vẫn chưa tương xứng với mức sụt giảm lợi nhuận quá mạnh so với cùng kỳ. PVB, PVC đều kinh doanh lỗ trong khi LNST của PVD sụt giảm 93%.

- Y tế: câu chuyện liên quan đến nới room và nhà đầu tư chiến lược đã khiến cho nhà đầu tư thay đổi hoàn toàn góc nhìn về ngành này. Định giá được nâng vượt lên so với mức thấp hồi đầu năm.

- Tiện ích công cộng: bị ảnh hưởng bởi GAS. Giá cổ phiếu này đã hồi phục mạnh trong năm dù kết quả kinh doanh cả năm của GAS dù có những biến chuyển vẫn thấp hơn so với cùng kỳ. Nếu loại trừ cổ phiếu này, mức tăng P/E sẽ không quá lớn.

Tổng kết lại, 2016 xem ra là một năm khá thuận lợi với 12/18 ngành có mức sinh lợi dương. Phân tách mức tăng trưởng này ra 3 nhân tố lợi nhuận, cổ tức và P/E, các con số này đang kể cùng một câu chuyện với chỉ số VN-Index: bên cạnh tăng trưởng lợi nhuận, lý do không nhỏ của việc cổ phiếu tăng giá mạnh còn là vì thị trường đang chấp nhận trả một mức P/E cao hơn trước. Mức P/E cao này phản ánh kỳ vọng của thị trường vào tăng trưởng lợi nhuận trong năm tiếp theo. Do đó, điều cốt lõi để thị trường tiếp tục đi lên bền vững là lợi nhuận của các doanh nghiệp trong năm 2017 phải có sự tăng trưởng phù hợp.

4

mở tài khoản chứng khoán mienx phí

CHIẾN LƯỢC VÀ Ý TƯỞNG ĐẦU TƯ 2017

Cuối năm 2016, định giá VNIndex đã tăng lên mức cao nhất trong 7 năm gần đây, và thậm chí cao hơn mức PE trung bình của giai đoạn 2009 – 2016 (PE trung bình khoảng 13,5x), đưa định giá thị trường Việt Nam lên mức tương đương thị trường Thái Lan và Malaysia, trở nên đắt đỏ nếu so sánh với Pakistan.

Sự tăng trưởng trên được cho là phản ánh kỳ vọng của thị trường với những thay đổi bắt đầu từ năm 2016 như (1) Nhiệm kỳ mới của Quốc hội và Chính phủ và các thông điệp quan trọng về phát triển kinh tế; (2) Chuyển động của lộ trình IPO và thoái vốn Nhà nước; và (3) Phản ánh kỳ vọng của thị trường vào tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp trong các năm tiếp theo. Bên cạnh đó, sự dồi dào của dòng tiền, chủ yếu đến từ nhà đầu tư trong nước đã có tác động mạnh mẽ đến diễn biến giá cổ phiếu cũng như xu hướng của thị trường. Thanh khoản trên cả hai sàn đã tăng hơn 17% trong năm 2016. Đáng nói hơn, trong khi nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên bán ròng sau nhiều năm, nhà đầu tư trong nước lại giao dịch khá tích cực với tỷ lệ giao dịch bình quân chiếm khoảng 85 – 87% tổng giá trị giao dịch mỗi phiên.

Chúng tôi cho rằng các yếu tố trên sẽ tiếp tục là xung lực chính cho thị trường trong năm 2017.

Về yếu tố cơ bản, năm 2017, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận sau thuế các cổ phiếu trong danh mục Chúng tôi  ưa thích (có giá trị vốn hóa tương đương 49% toàn thị trường (không bao gồm ROS)) ước tính khá tích cực, lần lượt là 22% YoY và 16% YoY. Ngoài ra, theo tổng hợp dự báo của Bloomberg, tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 2017 của 80 doanh nghiệp (chiếm 76% tổng vốn hóa thị trường) đạt khoảng 12,7%. Mức tăng trưởng này không quá cao nhưng cũng có thể giúp thị trường tăng điểm ổn định đồng thời đảm bảo mức định giá P/E không tiếp tục tăng hoặc điều chỉnh nhẹ.

Xét về cung cầu và dòng tiền, dòng tiền nội vẫn là động lực cho sự tăng trưởng của thị trường. Mặc dù giá trị cho vay ký quỹ bình quân năm 2016 đã tăng khoảng 45% so với mức bình quân của năm 2015, con số này chỉ tương đương khoảng 65% tổng vốn chủ sở hữu của các CTCK vào cuối năm 2016 và chỉ bằng khoảng 33% mức tối đa mà các CTCK có thể cho vay theo Quyết định 87/QĐ-UBCK. Vấn đề còn lại phụ thuộc vào mặt bằng lãi suất, yếu tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư. Ước tính tỷ lệ M2/GDP đã tăng lên mức kỷ lục 157,6% vào cuối năm 2016, cộng với các yếu tố rủi ro về lạm phát và tỷ giá thì khó có thể chờ đợi một chính sách tiền tệ nới lỏng như hai năm vừa qua. Tuy nhiên, như đánh giá từ bộ phận vĩ mô của chúng tôi, NHNN với mong muốn hỗ trợ sự phát triển của các ngành nghề chủ chốt cũng như sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, chính sách tiền tệ sẽ linh hoạt theo sát diễn biến của lạm phát thay vì thắt chặt đột ngột. Mặt bằng lãi suất theo đó được dự báo sẽ không có biến động bất thường trong năm 2017.

Kết hợp cả dự báo tăng trưởng thu nhập của các doanh nghiệp chủ chốt trong ngành và cung cầu tiền, thị trường nhìn chung đang có điều kiện thuận lợi để duy trì xu hướng tăng trong năm 2017. Như dự báo ở trên về tăng trưởng lợi nhuận năm 2017 và khả năng duy trì (hoặc điều chỉnh nhẹ) mức định giá hiện tại, chúng tôi dự đoán VNIndex (loại trừ ROS) đóng cửa có thể tăng khoảng 10,4%. Tuy nhiên, với đặc trưng hỗ trợ bởi dòng vốn nội (chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân) thị trường rất dễ có biến động mạnh trong ngắn hạn và tạo ra nhiều sóng nhỏ. Với lập luận này, thị trường có nhiều khả năng xác lập mức điểm cao nhất trong năm vào khoảng tháng 6 – tháng 8 khi mà câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp đã dần hiện rõ; thỏa mãn hay thất vọng đều thường tạo nên biến chuyển mạnh trên thị trường. Quan trọng hơn, 2017 là năm mà tỷ giá sẽ là vấn đề nhạy cảm mà cơn sốt tỷ giá trong hai năm vừa qua thường diễn ra vào giai đoạn tháng 6 – tháng 8.

Các ý tưởng đầu tư

Cơ hội 1: Các ngành kinh doanh đáp ứng nhu cầu cao về đầu tư và phát triển hạ tầng

Nhiệm kỳ mới của Chính phủ đang đặt quyết tâm cao độ với mức tăng trưởng GDP bình quân 6,5 – 7% trong giai đoạn 2016 – 2020. Để đạt được kết quả trên, nhu cầu đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ trong giai đoạn này của Việt Nam rất cao. Ngoài ra, các FTAs song phương và lợi thế cạnh tranh chi phí sản xuất thấp vẫn đang giúp Việt Nam thu hút nhiều nhà đầu tư đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật bản. Các dự án FDI lớn gồm có: ở phía Bắc như LG Display (1,5 tỷ USD), LG Innoteck (500 triệu USD), Kính mặt trời Flat (200 triệu USD), Bridgestone (575 triệu USD), ở miền Trung như KCN Hemaraj (1 tỷ USD), Nhiệt điện Vũng Áng 2 (2,2 tỷ USD), và miền Nam như tập đoàn Kolon (1 tỷ USD), giấy Chenlong (1,5 tỷ USD), KCN Amata mở rộng. Các doanh nhân nội địa cũng cho thấy sự tự tin để mở rộng kinh doanh hoặc đầu tư lớn vào các dự án dài hạn như Thép Hòa Phát với dự án Khu liên hợp gang thép Dung Quất, Thép Hoa Sen với dự án thép Cà Ná, hay Ô tô Trường Hải với dự án mở rộng Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp ô tô, và FPT với khu đô thị sinh thái FPT City Đà Nẵng (khu đô thị xanh thông minh kiểu mẫu đầu tiên tại Đà Nẵng và miền Trung có tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD).

mở tài khoản chứng khoán miễn phí

Hoạt động sản xuất đang tăng trưởng và những dự án đầu tư mới đòi hỏi sự phát triển tương xứng về hạ tầng giao thông, công nghệ, kho cảng,…Đây sẽ tiếp tục là động cơ thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành này và những ngành khác có liên quan như vật liệu xây dựng, logistic, tiện ích công cộng (gas, điện, nước)

Cơ hội 2: Tăng trưởng thu nhập và nhận thức tiêu dùng của thế hệ mới mở ra tiềm năng to lớn cho các lĩnh vực thực phẩm dinh dưỡng, bán lẻ, du lịch và hàng không

Một sự đồng thuận rất cao của các báo cáo về nhân khẩu học tại Việt Nam là quy mô dân số thuộc Thế hệ Y (những người sinh năm 1982 – 1999) đang tăng trưởng nhanh chóng. Tại Việt Nam, nhóm này hiện chiếm khoảng 34% dân số và dự báo tăng lên hơn 44% vào năm 2020 và xấp xỉ 48% vào năm 2025 và đang dần trở thành động lực chính phát triển kinh tế về tiêu dùng và đầu tư. Theo nghiên cứu trước đây của KPMG, 57% Thế hệ Gen Y chi tiêu hơn một nửa lương cho các kỳ nghỉ, du lịch, thời trang và công nghệ. Với sự hiểu biết cao về công nghệ thông tin, sự ra đời của các công ty tài chính tiêu dùng càng kích thích nhóm khách hàng này chi tiêu nhiều hơn

Kết quả khảo sát của Nielsen vào Q3/2016 cũng cho thấy chỉ số niềm tin tiêu dùng của Việt Nam duy trì ở mức trên 100 điểm trong hai năm liên tiếp (kể từ Q4/2016) và Việt Nam đứng thứ 7 trên thế giới về sự lạc quan. Điều này có ý nghĩa rất lớn khi mà thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đồng thời vượt ngưỡng 2.000 USD vào năm 2015 (theo GSO) và tăng thêm khoảng 5,7% vào năm 2016, tạo môi trường thích hợp để tăng trưởng ngành bán lẻ hàng hóa dịch vụ.

7

Cơ hội 3: Cơ cấu danh mục nhóm ngành gắn với chu kỳ kinh tế

Năm 2016, mặc dù thị trường BĐS diễn biến sôi động và thu nhập của ngành ngân hàng cũng có sự tăng trưởng mạnh, diễn biến giá cổ phiếu của hai ngành này khá trầm lắng trong cùng giai đoạn. Đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng, gánh nặng nợ xấu và áp lực đáp ứng an toàn vốn theo tiêu chí Basel khiến NĐT nghi ngại. Tuy vậy, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang dần cải thiện thể hiện qua mức tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2015 – 2016 và dự kiến duy trì trong năm 2017. Nhờ vậy, thu nhập của các ngân hàng tăng trưởng mạnh và bù đắp phần nào cho chi phí hoạt động và chi phí dự phòng rủi ro. Ngoài ra, lộ trình tái cấu trúc ngành ngân hàng đã đi đến giai đoạn 2, chúng tôi kỳ vọng sẽ có các cơ chế nhằm tháo gỡ các rào cản trong xử lý nợ xấu, việc xử lý và thu hồi nợ của VAMC cũng như các TCTD theo đó sẽ khả quan hơn từ năm 2018.

Đối với nhóm ngành bất động sản (được xem là một phần của lĩnh vực tài chính), Thông tư 06 tăng hệ số rủi ro các khoản phải đòi liên quan bất động sản lên 200% (Thông tư 36: 150%) đang tạo nên áp lực pha loãng rất lớn đối với nhóm cổ phiếu ngành này. Ngoài ra, câu chuyện đầu tư dự án với mức IRR đột biến trong giai đoạn nhà đầu tư xếp hàng để đặt cọc đã đi qua. Khi tiền sử dụng đất phải xác định lại theo giá thị trường và không có dòng tiền ứng trước dồi dào từ khách hàng, IRR của các dự án bất động sản sẽ không còn hấp dẫn bất thường như trước. Do đó, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bất động sản đều phải dựa trên vị trí của dự án, uy tín của chủ đầu tư và đơn vị xây dựng. Doanh nghiệp trên sàn niêm yết không được xem là đại diện cho ngành do đó diễn biến giá cổ phiếu của ngành này dường như lỗi nhịp so với sự hồi phục của thị trường bất động sản trong hơn 2 năm qua. Không có nhiều doanh nghiệp niêm yết trên sàn có sản phẩm sẵn sàng để bán trong hai năm vừa qua đồng thời tổng quy mô cũng chưa đủ để xem là đại diện cho ngành có dự án sẵn sàng để bán, đặt biệt là các dự án ở phân khúc trung cấp và bình dân, nơi tập trung phần lớn nhu cầu thực

Do đó, trong lĩnh vực tài chính, NĐT có thể giảm tỷ trọng bất động sản và tăng tỷ trọng ngành ngân hàng.

8

Cơ hội 4: Nhóm cổ phiếu gắn với sự phục hồi của giá hàng hóa

Giá hàng hóa thế giới đã phục hồi đáng kể trong năm 2016, với mức tăng mạnh nhất ở nhóm than cốc, tiếp đến là cao su và dầu thô (dầu Brent). Diễn biến này có lợi cho các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các loại hàng hóa trên. Thực tế biên lợi nhuận gộp của các nhóm ngành than, cao su thiên nhiên, mía đường đã có sự cải thiện đáng kể trong năm 2016.

Đối với ngành Dầu khí và xây lắp dầu khí, thị trường đã bắt đầu lạc quan hơn trước sự hồi phục của giá dầu mặc dù KQKD của những công ty thuộc nhóm thăm dò, xây lắp và khai thác dầu khí vẫn chưa đi theo sự hồi phục này. Nếu giá dầu duy trì được xu hướng tăng bền vững thì đây có thể giai đoạn cho sự đảo chiều về hiệu quả hoạt động cũng như KQKD của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề trên.

Đối với nhóm ngành sử dụng nguyên vật liệu là hàng hóa đầu vào thì tác động chưa đồng nhất, mức độ cạnh tranh trong ngành và vị thế của doanh nghiệp sẽ là yếu tố chi phối diễn biến biên lợi nhuận gộp (LNG) của các ngành này. Trong đó, biên LNG của nhóm cổ phiếu ngành dệt may, nhựa, pin và acquy có độ nhạy khá thấp với biến động của giá NVL đầu vào và chúng tôi chưa thấy có sự ảnh hưởng đáng kể nào trong giai đoạn biến động mạnh (tăng, giảm) của lên biên LNG của doanh nghiệp niêm yết thuộc các ngành này. Trong khi đó, biên LNG của ngành thép đã có dấu hiệu chịu ảnh hưởng trong 2 quý cuối năm 2016. Tuy vậy, đối với các doanh nghiệp thép đầu ngành với quy trình sản xuất khép kín, có khả năng tác động đến giá bán đồng thời được hỗ trợ bởi thuế tự vệ thì sự tác động lên biên LNG không mạnh.

9

10

Cơ hội 5: IPO và thoái vốn Nhà nướcThông tư 180/2015/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 và Thông tư 115/2016/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/11/2016 đã quy định rõ thời hạn niêm yết sau IPO của các công ty đại chúng và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đây được xem là cú huých quan trọng, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào các doanh nghiệp IPO hoặc mua lại phần vốn Nhà nước từ các doanh nghiệp chưa niêm yết.

Cổ phiếu thuộc danh sách dự kiến được SCIC và Nhà nước thoái vốn là nhóm cổ phiếu được chờ đợi nhiều nhất, do (1) Kỳ vọng các cổ phiếu này sẽ được chuyển nhượng với mức giá cao hơn so với thị giá cùng thời điểm; (2) Đây thường là các doanh nghiệp đầu ngành, hoạt động trong lĩnh vực thiết yếu với nhu cầu đang tăng mạnh do sự tăng trưởng về dân số cũng như thu nhập của người dân Việt Nam và được các nhà đầu tư tổ chức ưa thích, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia cùng lĩnh vực; và (3) Kỳ vọng sự tham gia của các cổ động chiến lược ngoài Nhà nước sẽ mang lại những thay đổi đáng kể về mặt quản trị doanh nghiệp, qua đó cải thiện hiệu quả HĐKD.

Thông thường, giá cổ phiếu của các công ty chưa niêm yết thường bị chiết khấu do thanh khoản so với giá của các công ty niêm yết. Do vậy, nhà đầu tư thường mua cổ phiếu trước thời điểm niêm yết để hưởng lợi nhuận từ việc định giá lại dựa trên yếu tố thanh khoản. Tuy nhiên, sau đó, diễn biến giá cổ phiếu thường sẽ dựa vào triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp, yếu tố cần xác định trong dài hạn. Giá cổ phiếu chững lại sau khi tăng nóng là điều tất yếu. Do vậy, nếu không phải đã mua các cổ phiếu này trước khi niêm yết, việc tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn đối với các cổ phiếu vừa mới được niêm yết là không dễ dàng. Tỷ lệ cổ phiếu tự do lưu hành của các cổ phiếu lớn được quan tâm gần đây như SAB, VJC, NVL thường khá nhỏ và mức định giá sau khi tăng trần nhiều phiên cũng không còn hấp dẫn trong ngắn hạn.

11

12

Hình 12: Biến động giá 8 cổ phiếu giai đoạn 2015 – 2016 trong danh mục SCIC thoái vốn

1

14

Cơ hội 6: Cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao

Đối với chiến lược đầu tư cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao (cổ tức tiền mặt thực trả ước tính trên thị giá từ 7%), chúng tôi nhận thấy đa phần cổ phiếu trong danh mục này thuộc về ngành điện với đặc thù kết quả kinh doanh ổn định. Ngoài ra, DPM, VNS, BFC, DRC, NNC và PDB cũng là các doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ có tỷ suất cổ tức tốt trong năm 2017.

ĐÁNH GIÁ NGÀNH NĂM 2017

15

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hotline