Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 7/2016

Được đăng vào 07-07-2016

Chiến lược đầu tư tháng 7/2016

Trong tháng Sáu, Brexit cuối cùng đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên, không hề có một cuộc tháo chạy và sự hoảng loạn nhanh chóng được thay thế bằng sự phấn khích và tâm lý bắt đáy. Tin vui với những nhà đầu tư giữ được cổ phiếu qua ngày Brexit xảy ra lại là nỗi thất vọng với những ai đang mong nhịp giảm kéo dài để mua được cổ phiếu với giá tốt. Trong tháng Sáu, thanh khoản trung bình trên hai sàn tăng 17,2% so với tháng Năm nhưng giá trị mua ròng của khối ngoại chỉ xấp xỉ 1/3 tháng trước, khoảng 280 tỷ đồng. Chúng tôi ước tính, trung bình cả tháng Sáu, NĐTNN chỉ đóng góp trên dưới 7% GTGD hằng ngày trên TTCK. Khoảng cách này cũng cho thấy sự tương phản về tâm lý giữa khối nội và khối ngoại. Trong khi chỉ số chứng khoán thế giới chìm trong sắc đỏ, VNIndex đóng cửa tăng 2,2% và HNIndex tăng 3,4% trong tháng Sáu.

TTCK sôi động là vậy nhưng cục diện kinh tế vĩ mô Việt Nam hiện tại theo chúng tôi đánh giá là “trong ấm, ngoài lạnh”. Brexit không tác động một cách trực tiếp nhưng khó có thể nói ảnh hưởng của nó đến Việt Nam là không đáng kể. Thứ nhất, nhu cầu bên ngoài suy giảm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu từ đó lây lan sang khu vực sản xuất công nghiệp trong nửa cuối 2016. Thứ hai và quan trọng hơn, cuộc chia tay của nước Anh với EU có thể châm ngòi cho một cuộc đua nới lỏng tiền tệ mới giửa các NHTW trên thế giới và thách thức khả năng ổn định tỷ giá của Việt Nam. Càng về cuối năm, khi rủi ro FED nâng lãi suất tăng trở lại, việc ổn định tỷ giá sẽ ngày càng khó khăn hơn. Đó là chưa kể “hiệu ứng” của Brexit là sự mạnh lên của JPY sẽ đem lại khoản lỗ CLTG lớn cho các doanh nghiệp có vay nợ lớn bằng đồng tiền này trong năm nay.

Trên TTCK, sự dồi dào về thanh khoản gần đây đã đưa VNIndex vượt mức đỉnh lịch sử 640 điểm trong những ngày đầu tháng Bảy. Trong đó, tín dụng cho kênh BĐS và cho vay SXKD có phần chậm lại là những nguyên nhân khiến dòng tiền chuyển hướng sang kênh đầu tư chứng khoán.

Ngoài ra, so với cùng kỳ năm ngoái, dòng tiền cũng không có sự chi phối mạnh mẽ bởi các cơ hội đầu tư khác (mua cổ phần thoái vốn từ SCIC, bất động sản,…). Nhưng nước nâng thuyền thì cũng có thể lật thuyền, dòng tiền có thể nâng chỉ số cũng có thể nhấn chìm chỉ số khi nó rút đi. Theo quan sát của chúng tôi, sự sôi nổi của giao dịch có thể vẫn được duy trì trong tháng Bảy nhưng sau đó, nhu cầu vốn lưu động tăng lên từ tháng Tám có thể hút lượng vốn nhàn rỗi về khu vực sản xuất. Tính đến hết Q2, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống chỉ đạt 1/3 mục tiêu của NHNN và thường thì các tháng cuối năm mới là cao điểm tăng trưởng tín dụng.

Mặt khác, rủi ro lạm phát có thể buộc NHNN thận trọng hơn trong việc điều tiết cung tiền trong 6 tháng cuối năm. Cuối cùng, nguy cơ tỷ giá leo thang trở lại là yếu tố có thể thay đổi xu hướng bơm ròng thanh khoản của NHNN hiện nay. Diễn biến thị trường trong tháng Bảy không dễ để dự báo sau chuỗi ngày tăng điểm không mệt mỏi. Khó có thể nói VNIndex sẽ không thể tăng tiếp khi mà chỉ số này từng đạt mức P/E còn cao hơn 14 lần trong quá khứ. Cho đến thời điểm này, chúng tôi vẫn chưa thấy thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt trong khi kết quả kinh doanh quý 2 bắt đầu râm ran được tiết lộ. Với đa số dự báo KQKD từ các chuyên viên ngành là khả quan, thị trường hoàn toàn có thể tiếp tục chinh phục mốc điểm cao hơn trong tháng Bảy.

Vùng điểm dự báo đối với VNIndex tháng này là 633 - 679 và đối với HNIndex là 83-89. Ở vùng điểm này, cổ phiếu dẫn dắt và các cổ phiếu trụ bị đảo liên tục khiến cho việc chọn lựa cổ phiếu theo xu thế là không dễ. Dòng tiền sẽ tìm đến những cổ phiếu chưa tăng nhiều và định giá còn tương đối hấp dẫn, miễn là yếu tố cơ bản của doanh nghiệp không có gì tiêu cực. Do vậy, chúng tôi cho rằng nhà đầu tư nên tập trung vào những cổ phiếu (1) có KQKD từ hoạt động cốt lõi ổn định và/hoặc có tăng trưởng qua các năm, (2) chỉ số P/E, P/B còn thấp so với mặt bằng chung và (3) có KQKD quý 2 và cả năm 2016 kỳ vọng tích cực. Về nhóm ngành, chúng tôi vẫn duy trì đánh giá tích cực với các ngành như VLXD (sắt, thép, nhựa, xi măng, vv), xây dựng, bán lẻ, ô tô & phụ tùng, BĐS khu công nghiệp, du lịch và giải trí.

KINH TẾ THẾ GIỚI

Như đã đề cập trong báo cáo chiến lược tháng trước, cuộc bầu cử Brexit liên quan đến quyết định đi hay ở của Anh là sự kiện quan trọng nhận được sự chú ý của nhiều nhà kinh tế. Sau sự kiện này, dự báo về triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu đa số đều thận trọng hơn trước, đồng thời các chính sách điều hành của NHTW các nền kinh tế lớn sẽ tiếp tục nghiêng về hướng nới lỏng tiền tệ trong thời gian tới.

Kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm hơn so với kỳ vọng

Trong báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu đầu tháng 06, World Bank dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2016 đạt 2,4%, giảm 0,5% so với dự báo trước đó. Trong đó, nhóm nước phát triển và đang phát triển đều bị hạ triển vọng từ 0,5% đến 0,6%. Sau sự kiện Brexit, các dự báo về tăng trưởng đều có xu hướng thận trọng hơn trước khi hầu hết đều cho rằng các tác động trực tiếp cũng như tác động gián tiếp đến dòng chảy thương mại và độ rủi ro thị trường khó đong đếm được

Theo dự báo của Goldman Sachs, dưới tác động của Brexit, kinh tế Anh sẽ rơi vào suy thoái từ giữa năm 2017. Trong khi đó, tổ chức này cũng hạ dự báo tăng trưởng trong nửa cuối năm 2016 của Mỹ từ 2,25% xuống còn 2%. Tác động tiêu cực của Brexit cũng sẽ lan đến khu vực EU, với mức tăng trưởng dự báo trong hai năm tới ở mức 1,25% so với 1,5% nếu không có sự kiện này

Diễn biến mới trong chính sách của các NHTW

Cũng sau sự kiện Brexit, chính sách điều hành tiền tệ của các NHTW lớn trên thế giới có nhiều diễn biến mới, đa phần nghiêng về hướng thận trọng. Dưới đây là tóm tắt chính sách điều hành tiền tệ thời gian tới của một số NHTW:

• FED thận trọng hơn trong chính sách điều hành lãi suất. Các dự báo mới nhất đều cho rằng FED sẽ hoãn tăng lãi suất trong năm 2016. Dự kiến lần nâng lãi suất tiếp theo sẽ diễn ra vào giữa năm 2017.

• NHTW Anh (BOE) cân nhắc cắt giảm lãi suất. Trong cuộc họp 30/06/2016, BOE cho biết sẽ có thể giảm lãi suất điều hành để ổn định tình hình cũng như hỗ trợ tăng trưởng trong Q3/2016.

• NHTW Nhật (BOJ) dự báo sẽ tiếp tục nới lỏng tiền tệ. Quyết định chính thức sẽ được thông báo vào cuộc họp ngày 28-29 tháng 07 tới đây.

• NHTW Trung Quốc được dự báo sẽ cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong nửa cuối năm.

• NHTW Châu Âu (ECB) tiếp tục nới lỏng tiền tệ. Sau sự kiện Brexit, các chuyên gia đánh giá ECB sẽ mở rộng chương trình QE trong cuộc họp tháng 09/2016.

• Ngoài ra, các NHTW của các nền kinh tế châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan,…dự báo sẽ tham gia vào làn sóng nới lỏng trong thời gian tới.

Nhìn chung, nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng là định hướng chính nhằm ổn định nội tại cũng như phòng ngừa các cú shock đến từ bên ngoài. Với nhân tố Brexit, chúng tôi quan ngại rằng cuộc chạy đua phá giá đồng nội tệ sẽ diễn ra trên diện rộng hơn và chưa đến hồi kết. Không “ồn ào” như đồng Bảng, đồng NDT đã “lặng lẽ” mất giá trong thời gian qua. So với đầu năm, đồng NDT đã mất giá khoảng 2,7%. Sự suy giảm về tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc ít gây chú ý như đầu năm, nhưng xu hướng mất giá của đồng NDT vẫn hiển hiện và điều này có thể tác động trực tiếp đến chính sách điều hành tỷ giá tại Việt Nam.

1

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI: Brexit không có tác động trong ngắn hạn

2

Điểm nhấn đối với các thị trường trong tháng Sáu là cuộc trưng cầu dân ý của Anh về vấn đề tách khỏi EU. Diễn biến chung của các thị trường trên thế giới đều giảm điểm mạnh trước làn sóng sale-off trước khi tăng mạnh, lấy lại toàn bộ những gì đã mất trong phiên Brexit ngày 24/06. Như tại Mỹ, chỉ số Dow Jones tăng 0,95% trong tháng qua, nâng mức tăng tính từ đầu năm đến nay lên 4,31%. S&P cũng tăng nhẹ 0,26% trong tháng Sáu và ghi nhận mức tăng nửa đầu 2016 ở mức 3,84%. Nasdaq thì ngược đóng cửa tháng giảm 2,13% và như vậy vẫn đang trong mức giảm 3,84% trong nửa đầu năm 2016.

Thị trường châu Âu, vốn không mấy khởi sắc từ 2015 tiếp tục chịu mức giảm trong tháng với các chỉ số chính như CAC 40 (-5,95%), DAX (-5,68%)… Còn đối với chứng khoán châu Á, có lẽ tác động ngắn hạn của Brexit vẫn chưa rõ ràng khi trừ chỉ số Nikkei 225 (-9,63%) và SSE (- 1,53%) thì các chỉ số chứng khoán ở các quốc gia đều tăng tốt. Brexit có thể sẽ làm gia tăng các yếu tố bất định trên thị trường tài chính. Và hoàn toàn không bất ngờ, nhà đầu tư lựa chọn vàng là một kênh an toàn để “trú ẩn”. Lượng vàng nắm giữ của Quỹ tín thác lớn nhất thế giới SPDR trong 6 tháng đầu năm tăng 308 tấn, mức tăng lớn nhất trong vòng 7 năm qua. Về giá vàng, tính cho cả tháng Sáu, giá vàng đã tăng 8,7%, đánh dấu quý tăng thứ 2 liên tiếp và tăng 24,4% tính từ đầu năm đến nay.

Một loại hàng hóa quan trọng khác, trong quý II/2016 vừa qua giá dầu WTI ngọt nhẹ của Mỹ đã tăng 9,9 USD, tương đương mức tăng 26% lên 48,33 USD/thùng. Giá dầu Brent trong quý II cũng tăng mạnh 25% lên mức 49,68 USD/thùng. Sự hụt nguồn cung từ nhiều yếu tố như cháy rừng tại Canada, đình công của công nhân tại Na Uy… là động lực giúp giá dầu tăng thời gian vừa qua. Một yếu tố khác cũng hỗ trợ giá dầu đó là nhu cầu xăng tăng trong mùa lái xa du lịch mùa hè (driving season).

VĨ MÔ 6T ĐẦU NĂM: Tăng trưởng tiếp tục chững lại

Kinh tế nửa đầu năm tăng trưởng nhưng tốc độ chững lại

Trong 6 tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chững lại, chỉ đạt 5,52% so với cùng kỳ. Nông nghiệp và khai khoáng tiếp tục là hai lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng âm. -Ảnh hưởng của thời tiết tiếp tục khiến lĩnh vực nông nghiệp suy giảm tăng trưởng, giảm 0,78% so với cùng kỳ. -Khu vực công nghiệp và xây dựng ghi nhận mức tăng trưởng 6,8%, thấp hơn so với mức tăng 9,66% của năm ngoái. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì mức tăng cao (~10,1%) trong khi đó, ngành khai khoáng suy giảm 2,2% do hoạt động khai thác dầu thô kém hơn cùng kỳ

Đcọ thêm : Mở tài khoản chứng khoán miễn phí tại Hồ Chí Minh 

3

Nhận định: Nếu loại trừ hai yếu tố tăng trưởng âm trong GDP (nông nghiệp và khai khoáng), tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm ước đạt 7,4%. Nhìn chung, ngành nông nghiệp phục hồi chậm hơn so với kỳ vọng của chúng tôi. Trong nửa cuối năm, các tác động tiêu cực của hiện tượng El Nino đến ngành nông nghiệp sẽ giảm dần

Sản xuất và tiêu dùng là hai bệ đỡ tăng trưởng chính

Hoạt động tiêu dùng Việt Nam tiếp tục chuỗi tăng trưởng khi chỉ số niềm tin tiêu dùng lạc quan đi cùng với tốc độ tăng trưởng về thu nhập và sự mở rộng của tầng lớp trung lưu. Theo TCTK, tốc độ tăng trưởng hoạt động bán lẻ nửa đầu năm ở mức trên 9%. Trong khi đó, hoạt động SXCN trong 6 tháng đầu năm tiếp tục giữ đà mở rộng. PMI trung bình 6 tháng đầu năm đạt 51,68 điểm, giảm nhẹ so với mức 52,4 điểm của cùng kỳ. Chỉ số SXCN trong 6T2016 tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ, đạt 7,5% (năm 2015 tăng 9,7% yoy).

4

Nhận định: Hoạt động bán lẻ kỳ vọng khả quan trong nửa cuối năm. Xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất sẽ duy trì trong điều kiện tốc độ giải ngân vốn FDI đang khả quan.

Giải ngân vốn FDI tăng mạnh hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu

- Giải ngân vốn FDI nửa đầu năm tích cực, tăng 16% so với cùng kỳ, đạt 7,3 tỷ USD, tương đương với 50% vốn giải ngân của cả năm 2015. - Lĩnh vực chế biến chế tạo tiếp tục là điểm đến chính của dòng vốn FDI với 70% lượng vốn FDI đầu tư, theo sau là lĩnh vực bất động sản (5%) và KHCN (5%).

10

Nhận định: Tốc độ giải ngân vốn và đầu tư mới vốn FDI đang khả quan. Trong các tháng còn lại của năm, chúng tôi kỳ vọng xu hướng này tiếp tục duy trì. Điều này sẽ hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong 6 -12 tháng tới.

Thương mại tiếp tục tăng trưởng chậm lại

- Khối trong nước: Kim ngạch hai chiều chưa có dấu hiệu khởi sắc. Lũy kế 6T đầu năm, xuất khẩu giảm 1,7%, nhập khẩu tăng nhẹ 1,4%. Lũy kế thâm hụt thương mại của khối trong nước nửa đầu năm là 9 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ. - Khối FDI: Chiếm 70% trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực FDI đang có dấu hiệu chững lại, tương ứng với mức tăng 9,3% và mức giảm 2,4% lần lượt ở hai chiều xuất và nhập khẩu.

6

Nhận định: Nhu cầu nhập khẩu suy yếu giúp cán cân thương mại thặng dư trong 6 tháng đầu năm. Trong đó, khối FDI ghi nhận thặng dư gấp đôi so với cùng kỳ. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu suy giảm khiến cầu về hàng hóa yếu đi, từ đó, gián tiếp tác động đến thương mại Việt Nam. Tuy giải ngân vốn FDI hiện tại vẫn tích cực, tác động tiêu cực từ bên ngoài vẫn là rủi ro chính đến tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu các tháng tới.

Lạm phát tiếp tục xu hướng tăng

Chỉ số giá tiêu dùng nửa đầu năm tăng 1,72% so với cuối năm 2015. Hạn hán tiếp tục tác động đến mặt bằng giá các mặt hàng nông nghiệp. Xu hướng tăng giá chịu tác động chính bởi giá lương thực, thực phẩm, giao thông và dịch vụ y tế

7

Nhận định Mặt bằng lạm phát cả nước về cơ bản duy trì tương đối ổn định. Trong nửa cuối năm, xu hướng lạm phát sẽ tiếp tục tăng khi giá các dịch vụ công điều chỉnh tăng và giá hàng hóa thế giới tăng trở lại. Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng lạm phát lõi của cả năm 2016 vẫn duy trì quanh mức 2%.

Thanh khoản dồi dào, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh

- Lãi suất liên ngân hàng rơi xuống mức thấp nhất trong vào 3 năm vào trung tuần tháng 05. -Tăng trưởng huy động nửa đầu năm đạt 8,23%, cao hơn mức tăng của tín dụng, đạt 6,8%.

8

Nhận định: Thanh khoản hệ thống ngân hàng dồi dào tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm. Ngoài ra, NHNN mua vào 8 tỷ USD trong nửa đầu năm khiến cung tiền đồng trên thị trường dồi dào hơn. Sau sự kiện Brexit, xác suất FED nâng lãi suất vào cuối năm nay đang giảm dần, do đó, chúng tôi kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ được duy trì ổn định nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nửa cuối năm.

Tình hình thu-chi NSNN không lạc quan

Trong nửa đầu năm, tình hình thu chi NSNN nhìn chung không tích cực, trong đó, thu từ dầu thô và XNK tiếp tục bị ảnh hưởng bởi giá dầu và hoạt động thương mại yếu đi. Thu từ nội địa vẫn duy trì mức tăng trưởng, tuy nhiên, thu từ DNNN vẫn trong xu hướng giảm mạnh. Hệ quả là, chi đầu tư phát triển chỉ đạt mức thấp so với dự toán (~30%) và giảm 8% so với cùng kỳ. Tuy vậy, hoạt động phát hành TPCP khá thuận lợi, tỷ lệ trúng thầu bình quân đạt trên 80%. Lũy kế 6 tháng dầu năm, KBNN đã phát hành được 187.700 tỷ đồng, tương đương 75% kế hoạch phát hành cả năm (250.000 tỷ đồng)

9

Nhận định: NSNN đang đối mặt với khó khăn khi các nguồn thu chính từ DNNN, dầu thô và XNK suy giảm so với cùng kỳ. Hoạt động phát hành TPCP thuận lợi trong nửa đầu năm giúp ngân sách có nguồn thu bổ sung thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn. Về dài hạn, bất cân đối trong thu-chi khiến chính sách tài khóa trở nên hạn hẹp hơn, nhất là cho các dự án đầu tư phát triển.

Chính sách tỷ giá duy trì ổn định

Trong nửa đầu năm, tỷ giá bình quân USDVND đạt 21.881, tương đương với mức cuối năm 2015. Cán cân thương mại thặng dư và tốc độ giải ngân vốn FDI ở mức cao giúp nhà điều hành có thể duy trì tỷ giá ổn định. Nhờ vậy, dự trữ ngoại hối của NHNN có điều kiện cải thiện. SBV ước tính đã mua thêm 8 tỷ USD trong nửa đầu năm. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, diễn biến mất giá của đồng CNY gần đây có thể khiến áp lực từ bên ngoài lên chính sách tăng lên.

10

Nhận định: Diễn biến trong và ngoài nước giúp chính sách điều hành tỷ giá thuận lợi trong nửa đầu năm. Trong 6 tháng cuối năm, khả năng tiền đồng bị phá giá cao hơn khi: (1) Nhu cầu nhập khẩu có thể tăng trở lại trong nửa cuối năm; (2) Bất ổn đến từ bên ngoài khi làn sóng phá giá đồng bản tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế đang diễn ra ở nhiều nước trên thế giới.

KINH TẾ VIỆT NAM: TRIỂN VỌNG VĨ MÔ

Trong 6 tháng đầu năm, nền kinh tế ghi nhận mức tăng trưởng 5,52%, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng đề ra. Trong đó, ảnh hưởng tiêu cực đến từ ngành nông nghiệp và khai khoáng, ngược lại, tính ổn định của hoạt động sản xuất và dịch vụ vẫn được duy trì. Nửa cuối năm 2016, chúng tôi cho rằng nền kinh tế vẫn trông chờ nhiều nhất vào hoạt động của khối doanh nghiệp tư nhân.

Thực tế cho thấy hoạt động sản xuất của khối tư nhân đang nhận được sự hỗ trợ tích cực từ sức cầu trong nước nhưng động lực thúc đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh không thực sự mạnh. Do đó, chúng tôi cho rằng dù môi trường kinh doanh trong nước có cải thiện nhưng những lo ngại do bất ổn trên bên ngoài cộng với áp lực trả nợ của chính phủ sẽ khiến cho tăng trưởng kinh tế không đạt như kỳ vọng. Mức tăng trưởng hợp lý cho cả năm 2016 được chúng tôi dự báo ~6%, đây vẫn là mức tăng trưởng khá tốt so với các nước trong khu vực và Việt Nam tiếp tục là điểm sáng về tiêu dùng và thu hút đầu tư.

Doanh nghiệp nội đang nương nhờ cầu nội địa

Trong xu hướng yếu đi của thương mại toàn cầu, tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa tương đối khó khăn. Theo TCHQ, xuất khẩu của khối trong nước giảm 1,7%, trong khi đó, nhập khẩu chỉ tăng 1,4% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2016. Tuy nhiên, dựa trên mẫu thống kê các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chúng tôi nhận thấy một thực tế là các doanh nghiệp nội đang hoạt động tích cực nhờ nhu cầu trong nước.

Xem xét xu hướng nhập khẩu có thể thấy được rằng mặc dù thị trường xuất khẩu yếu đi nhưng nhu cầu đối với đầu vào cho sản xuất vẫn đang tích cực. Trong top các mặt hàng nhập khẩu, giá trị nhập khẩu tăng khá tốt ở các nhóm hàng phục vụ cho sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu (chất dẻo, dệt may, vải, hóa chất, kim loại, sắt thép…). Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, dù giảm gần 20% về giá trị nhưng tăng trưởng xấp xỉ 28% về khối lượng nhập khẩu. Diễn biến trên kết hợp với khảo sát về chỉ số PMI và tiêu thụ ngành sản xuất công nghiệp, có thể suy luận rằng lực đẩy cho hoạt động của doanh nghiệp nội đến từ nhu cầu tiêu dùng trong nước.

11

Doanh nghiệp thận trọng trong đầu tư, mở rộng sản xuất – dòng vốn chuyển dịch qua TPCP

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nửa cuối năm, mục tiêu tăng trưởng tín dụng là một trong những yếu tố mà nhà điều hành hướng đến. Tính đến ngày 24/6/2016, tín dụng nền kinh tế tăng 6,82% so với cuối năm 2015 và tăng cao hơn so với cùng kỳ (nửa đầu năm 2015 tăng 6,37%). Tuy nhiên, định hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên không được như kỳ vọng. Số liệu tăng trưởng tín dụng lĩnh vực ưu tiên cho thấy mặt bằng lãi suất ở mức thấp không thực sự kích thích nhu cầu sử dụng vốn vay ở các lĩnh vực được ưu tiên. Đổi lại, tín dụng tăng tốt ở những lĩnh vực khác nhưng do đà tăng mạnh của năm trước, tốc độ tăng trong năm 2016 có vẻ đang chững lại.

12

Dòng vốn vào nền kinh tế nhìn chung vẫn tốt, nhưng do sự thận trọng của doanh nghiệp, ngân hàng tiếp tục đổ tiền vào trái phiếu chính phủ. Nửa đầu năm nay, KBNN đã huy động được hơn 187.700 tỷ đồng TPCP, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2015, tỷ lệ trúng thầu bình quân là 80,05%. Do nhu cầu trái phiếu chính phủ cao, thị trường đã dần chấp nhận trái phiếu có kỳ hạn dài hơn. Theo BTC, kỳ hạn vay trung bình nửa đầu năm 2016 là 6,79 năm, nhu cầu đặc biệt lớn ở kỳ hạn 5 năm và 15 năm. Nhờ vậy, kỳ hạn trung bình TPCP trên thị trường được kéo dài lên 5 năm từ mức 4,44 năm tại thời điểm cuối năm 2015. Với kỳ hạn đi vay dài hơn, chúng tôi kỳ vọng áp lực trả nợ có thể giãn bớt trong 2-3 năm tới.

Tăng cung tiền tác động lên lãi suất, lạm phát và tỷ giá

Diễn biến cung tiền và tín dụng trong nửa đầu năm 2016 làm chúng tôi liên tưởng đến diễn biến của hệ thống tiền tệ trong giai đoạn 2012-2014, khi đó, tổng phương tiện thanh toán hàng năm đều tăng vượt trội so với tăng trưởng tín dụng. Khi cung tiền tăng nhanh hơn tín dụng, hai rủi ro chính cần được cảnh báo chính là các ngân hàng có thể dễ dãi trong việc đẩy vốn vào lĩnh vực phi sản xuất (bất động sản, chứng khoán hay cho vay tiêu dùng…) và lạm phát có nguy cơ tăng cao trở lại.

13

Trong giai đoạn trước, NHNN đã thành công trong việc kéo giảm lãi suất để thúc đẩy tín dụng tăng trở lại. Tuy nhiên, hiện tại, chúng tôi cho rằng lãi suất điều hành khó có thể giảm thêm. Do đó, với nhịp độ cung tiền giữ nguyên, trong bối cảnh định hướng thúc đẩy vốn vào lĩnh vực ưu tiên và sản xuất chưa thành công như mong đợi thì lượng tiền lưu thông trong hệ thống nếu như không đi vào TPCP (nửa cuối năm 2016, nhu cầu huy động TPCP chỉ khoảng 62.300 tỷ đồng) thì sẽ dịch chuyển đến tiêu dùng hoặc kênh đầu tư như bất động sản, chứng khoán. Trong một công bố gần đây, Thống đốc NHNN đã lưu ý về rủi ro tiềm ẩn trong tăng trưởng tín dụng cho vay bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng ở TP.HCM. Tổng tài sản của các tổ chức tín dụng tại TP.HCM chiếm 40% tổng tài sản toàn hệ thống, 30% huy động vốn và 27% tổng tín dụng. Mặc dù không có số liệu chi tiết của toàn hệ thống, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng khu vực TP.HCM là một mẫu điển hình thể hiện cho xu hướng chung. Hành động cảnh báo này có thể coi là một cách để nắn dòng tín dụng nhưng việc điều hành chính sách tiền tệ vẫn đòi hỏi tính sát sao để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô

Đối với rủi ro lạm phát, chúng tôi cho rằng chưa đáng quan ngại bởi lạm phát kỳ vọng hiện đang chịu tác động lớn của kỳ vọng hồi phục giá hàng hóa thế giới. Với bức tranh kinh tế thế giới còn rất ảm đạm, chúng tôi đánh giá mặt bằng giá hàng hóa thấp sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sản xuất và tiêu dùng trong nước thêm một thời gian nữa. Ngoài ra, trong các hiệu ứng của cung tiền lên lạm phát, lượng tiền dư thừa so với hàng hóa vật chất sẽ khiến giá cả hàng hóa tăng theo. Dù vậy, quan sát thấy sự thận trọng của doanh nghiệp sản xuất, chúng tôi cho rằng hiệu ứng cung tiền lên lạm phát chưa diễn ra trong ngắn hạn

Chúng tôi tin rằng có nhiều lý do để diễn biến tỷ giá trong nước khá êm đềm sau sự kiện Brexit. Thứ nhất là dòng vốn nước ngoài khá ưa thích thị trường Việt Nam trong nửa đầu năm với hơn 7,3 tỷ USD vốn giải ngân trực tiếp cộng với cán cân thương mại duy trì thặng dư ~1 tỷ USD. Thứ hai là hiệu quả trong chính sách tỷ giá mới thể hiện khi hạn chế được tâm lý đầu cơ. Thứ ba là mặc dù nhu cầu vay USD có tăng trở lại sau khi NHNN mở lại vay ngoại tệ từ đầu tháng 6/2016 nhưng vay vốn bằng ngoại tệ vẫn giảm khoảng 4,6% trong nửa đầu năm, đồng thời nhu cầu vay ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất khẩu cũng hạn chế do thương mại kém khả quan. Trong nửa cuối năm, chúng tôi cho rằng áp lực phá giá đối với tiền đồng sẽ mạnh hơn (do ảnh hưởng của sự phá giá đồng NDT), tuy nhiên, sự chủ động và thời điểm kỳ vọng trong khả năng của điều hành của NHNN.

TTCK THÁNG 6: Khi tâm lý lạc quan được hỗ trợ bởi dòng tiền mạnh

Sáu tháng đầu năm, VNIndex biến động song hành cùng giá dầu. Thị trường Việt Nam thời gian qua đã biến động một cách ngẫu nhiên trùng khớp với diễn biến giá dầu. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa dòng cổ phiểu dầu khí đã dẫn dắt thị trường. Bởi lẽ, vốn hóa dòng cổ phiếu dầu khí hiện không còn cao như các năm trước. Đồng thời, trong một số thời điểm, chẳng hạn giai đoạn tháng 4 và tháng 5, thị trường chủ yếu dẫn bắt bởi dòng cổ phiếu ngân hàng, tiêu biểu như: VCB, BID, CTG. Ngoài ra, thị trường giai đoạn này cũng trải qua cảm xúc mạnh vào phiên 24/6, ngày công bố kết quả cuộc trưng cầu dân ý của nước Anh về việc ở lại hay rời khỏi khối EU (Brexit). Chính phiên Brexit này đã phản ánh thị trường vẫn đang rất lạc quan.

Khi tâm lý lạc quan bao phủ thị trường. Sự lạc quan thể hiện trong sức kháng cự mạnh mẽ của thị trường đối với các thông tin kém tích cực. Cụ thể, trong tháng 6, có hai phiên giao dịch mà thị trường giảm điểm rất mạnh. Dưới áp lực bán cơ cấu danh mục của các quỹ ETF và thất vọng về việc thông tư 203 bị trì hoãn vào ngày 17/6, thị trường giảm 0,99%. Nhưng chỉ ngay phiên hôm sau, thị trường tăng mạnh trở lại (1,16%). Hơn thế, phiên 24/6, hay còn được biết tới với cái tên “phiên Brexit”, VN-Index có lúc xuống dưới mốc 600 điểm nhưng cầu bắt đáy mạnh giúp thị trường hồi phục hơn 20 điểm ngay trong phiên. Và thị trường cũng chỉ mất 3 phiên để lấy lại những gì đã mất bởi Brexit. Qua các diễn biến này, chúng tôi nhận thấy sự hồi phục nhanh trước các thông tin xấu đến từ tâm lý hưng phấn của nhà đầu tư. Sự hưng phấn này nhiều khả năng được hậu thuẫn bởi dòng tiền, đặc biệt là tiền cho vay ký quỹ. Số liệu vĩ mô cho thấy chênh lệch giữa cung tiền M2 và tín dụng đang khá lớn, vào khoảng 1,8% (con số này trong cùng kỳ là -0,2%). Ngoài ra, khi kiểm chứng dòng tiền trên sàn HSX, chúng tôi nhận thấy GTGD tăng 1,2%, tương ứng với KLGD tăng 13,5% so với cùng kỳ.

14

15

Thị trường sớm đón nhận trước các cổ phiếu có triển vọng kinh doanh tốt, thể hiện rất rõ tại các cổ phiếu vốn hóa trung bình và thấp. Trong khi VN-Index tháng 6 dao động quanh ngưỡng 620-640 và kết thúc tháng chỉ tăng 2%, nhưng nếu nhà đầu tư chọn mua vào các mã cổ phiếu như KSB, NNC, PAC, DNP, STG … thì danh mục của họ cũng đã tăng đáng kể. Đặc điểm chung của những cổ phiếu này là những cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ, hoạt động kinh doanh cốt lõi tốt và được kỳ vọng sẽ có tăng trưởng đáng kể về doanh thu và lợi nhuận trong năm nay. Nhà đầu tư, theo đó, đã nhanh chóng dồn lực mua mạnh tại các cổ phiếu này để đón sóng kết quả kinh doanh quý 2 sắp tới. Do đó, các chỉ số thị trường của các cổ phiếu này đều tốt hơn hẳn chỉ số thị trường của nhóm vốn hóa lớn, với VN-MID và VN-SML tăng tới 9,3% và 9,5%, so với mức tăng khiêm tốn 0,7% của VN 30 . Theo cập nhật từ các chuyên viên ngành, nhiều doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt trong quý 1 khả năng cao sẽ tiếp tục duy trì đà tăng sang tới quý 2 này

16

Các cổ phiếu không chỉ tăng giá do KQKD mà còn từ yếu tố “câu chuyện” riêng của thị trường. Điển hình là ngành dược, với mức tăng mạnh nhất trong tháng (27,8%) với hai cổ phiếu nổi bật là DMC và DHG. Theo đó, nhiều nhà đầu tư mua DMC đang đặt cược vào câu chuyện Abott nâng tỷ lệ sở hữu trong DMC hay mua DHG vì thông tin một tập đoàn dược phẩm nước ngoài muốn mua cổ phần DHG để tận dụng hệ thống phân phối của doanh nghiệp. Trong những ngày đầu tháng 7, phía DHG đã chính thức công bố thông tin CTCP chế tạo thuốc Taisho (Nhật Bản) đã hoàn thành việc mua 24,4% cổ phần DHG từ 34 cổ đông ngoại khác). Với việc đã trải qua 2 đợt tăng giá từ đầu năm, trailing P/E của ngành dược hiện đã ở mức 15 lần. Vì thế, chúng tôi cho rằng nhà đầu tư cần thận trọng hơn khi giải ngân vào ngành này

Diễn biến dòng vốn ngoại: tỷ lệ tham gia giao dịch ổn định

17

Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục rót ròng hơn 298 tỷ đồng vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong tháng Sáu vừa qua, trong đó giá trị mua ròng trên HSX và HNX lần lượt là 123 tỷ đồng và 175 tỷ đồng. Ngân hàng là nhóm ngành được mua mạnh nhất với tổng giá trị mua ròng gần 428 tỷ đồng trên cả 2 sàn. Hai mã được mua mạnh nhất là VCB (+151 tỷ đồng) và MBB (+235 tỷ đồng). Nhóm tài nguyên cơ bản dẫn đầu về giá trị bán ròng hơn 500 tỷ đồng. Giá trị này đến từ việc thoái vốn của Private Equity New Markets II K.S tại HPG. Trong cả tháng Sáu, HPG đã bị bán ròng 353 tỷ đồng. Ở một diễn biến khác, nhóm ngành bất động sản tiếp tục có tháng thứ 6 liên tiếp trong năm nay bị bán ròng. So với các tháng trước, giá trị này có sự sụt giảm rõ rệt. Việc bán ròng trong tháng này vẫn đến từ VIC nhưng với lý do là trong đợt cơ cấu của 2 quỹ ETFs vừa qua, VIC bị loại ra ra hơn 3 triệu cổ phiếu nhằm giảm tỷ trọng (tương đương với giá trị bán 154 tỷ đồng) trong phiên 17/06. Cũng liên quan đến 2 quỹ ETFs, HHS là cổ phiếu bị loại khiến mã này bị bán ròng mạnh hơn 90 tỷ đồng trong khi GTN với thông tin nới room 100% gần ngày chốt số liệu đã được thêm vào gần 6 triệu cổ phiếu tương đương giá trị mua ròng khoảng 136 tỷ đồng.

18

Như vậy, giá trị mua ròng của tháng Sáu chỉ tương đương khoảng ¼ giá trị mua ròng của tháng Năm. Nếu loại trừ khoảng 400 tỷ đồng bán ròng của 2 quỹ ETFs vừa qua thì giá trị này cũng sụt giảm xấp xỉ 19,5% so với tháng trước cùng với mức độ tham gia thị trường khoảng 7,5% tổng giá trị giao dịch hàng ngày. Tháng Sáu vừa qua có thể đánh giá là tháng giao dịch ổn định của nhà đầu tư nước ngoài. Trong ngắn hạn, thị trường sẽ đón nhận kết quả kinh doanh Q2, cùng với khả năng cao FED sẽ không nâng lãi suất trong tháng Bảy và câu chuyện nới room ở các cổ phiếu nóng trở lại có thể là những yếu tố tích cực để dòng vốn ngoại tiếp tục đổ vào thị trường Việt Nam.

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÁNG 7

Trong tháng Sáu, nỗi lo Brexit cuối cùng đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên, không hề có một cuộc tháo chạy và sự hoảng loạn nhanh chóng được thay thế bằng sự phấn khích và tâm lý bắt đáy. Tin vui với những nhà đầu tư giữ được cổ phiếu qua ngày Brexit xảy ra lại là nỗi thất vọng với những ai đang mong nhịp giảm kéo dài để mua được cổ phiếu với giá rẻ. Dù thị trường ngày càng hứng khởi nhưng giao dịch phần nhiều vẫn là sự mua đi bán lại giữa nhà đầu tư trong nước. Trong tháng Sáu, thanh khoản trung bình trên hai sàn tăng 17,2% so với tháng Năm nhưng giá trị mua ròng của khối ngoại chỉ xấp xỉ 1/3 tháng trước, khoảng 280 tỷ đồng. Chúng tôi ước tính, trung bình cả tháng Sáu, NĐTNN chỉ đóng góp trên dưới 7% GTGD hằng ngày trên TTCK. Khoảng cách này cũng cho thấy sự tương phản về tâm lý giữa khối nội và khối ngoại. Nhưng ít nhất, việc NĐTNN không bán ra đã là một yếu tố giúp trấn an về tâm lý. Trong khi chỉ số chứng khoán thế giới chìm trong sắc đỏ, VNIndex đóng cửa tăng 2,2% và HNIndex tăng 3,4% trong tháng Sáu.

TTCK sôi động là vậy nhưng cục diện kinh tế vĩ mô Việt Nam hiện tại theo chúng tôi đánh giá là “trong ấm, ngoài lạnh”. Trong khi 3/4 biến số lớn là sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và thương mại duy trì xu hướng tích cực trong 6 tháng đầu năm thì những bất ổn từ bên ngoài vẫn đang đe dọa ổn định kinh tế của Việt Nam. Brexit không tác động một cách trực tiếp nhưng khó có thể nói ảnh hưởng của nó đến Việt Nam là không đáng kể. Thứ nhất, nhu cầu bên ngoài suy giảm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu từ đó lây lan sang hoạt động của khu vực sản xuất công nghiệp trong nửa cuối 2016. Thứ hai và quan trọng hơn, cuộc chia tay của nước Anh với EU có thể châm ngòi cho một cuộc đua nới lỏng tiền tệ mới của các NHTW trên thế giới và thách thức khả năng ổn định tỷ giá của Việt Nam. RongViet Research vẫn duy trì dự báo VND sẽ mất giá khoảng 3% so với USD trong cả năm 2016. Tuy nhiên, càng về cuối năm, khi rủi ro FED nâng lãi suất tăng trở lại, việc ổn định tỷ giá sẽ ngày càng khó khăn hơn. Đó là chưa kể “hiệu ứng” của Brexit là sự mạnh lên của JPY sẽ đem lại khoản lỗ CLTG lớn cho các doanh nghiệp có vay nợ lớn bằng đồng tiền này trong năm nay.

Trên TTCK, sự dồi dào về thanh khoản gần đây đã đưa VNIndex vượt mức đỉnh lịch sử 640 điểm trong những ngày đầu tháng Bảy. Trong đó, tín dụng cho kênh BĐS và cho vay SXKD có phần chậm lại là những nguyên nhân khiến dòng tiền chuyển hướng sang kênh đầu tư chứng khoán. Ngoài ra, so với cùng kỳ năm ngoái, dòng tiền cũng không có sự chi phối mạnh mẽ bởi các cơ hội đầu tư khác (đầu tư mua cổ phần thoái vốn từ SCIC, bất động sản,…)

Nhưng nước nâng thuyền thì cũng có thể lật thuyền, dòng tiền có thể nâng chỉ số cũng có thể nhấn chìm chỉ số khi nó rút đi. Theo quan sát của chúng tôi, sự sôi nổi của giao dịch có thể vẫn được duy trì trong tháng Bảy nhưng sau đó, nhu cầu vốn lưu động tăng lên từ tháng Tám có thể hút lượng vốn nhàn rỗi về khu vực sản xuất. Tính đến hết Q2, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống chỉ đạt 1/3 mục tiêu của NHNN và thường thì các tháng cuối năm mới là cao điểm tăng trưởng tín dụng. Khi nhu cầu vay vốn cho sản xuất tăng lên, mặc nhiên dư địa tín dụng cho hoạt động phi sản xuất sẽ bị thu hẹp. Hơn nữa, rủi ro lạm phát có thể buộc NHNN thận trọng hơn trong việc điều tiết cung tiền trong 6 tháng cuối năm. Cuối cùng, nguy cơ tỷ giá leo thang là yếu tố có thể thay đổi xu hướng bơm ròng thanh khoản hiện tại của NHNN.

Diễn biến thị trường trong tháng Bảy không dễ để dự báo sau chuỗi ngày tăng điểm không mệt mỏi. Khó có thể nói VNIndex sẽ không thể tăng tiếp khi mà chỉ số này từng đạt mức P/E còn cao hơn 14 lần trong quá khứ. Cho đến thời điểm này, chúng tôi vẫn chưa thấy thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt trong khi kết quả kinh doanh quý 2 bắt đầu râm ran được tiết lộ. Với đa số dự báo KQKD từ các chuyên viên ngành là khả quan, thị trường hoàn toàn có thể tiếp tục chinh phục mốc điểm cao hơn trong tháng Bảy

Vùng điểm dự báo đối với VNIndex trong tháng này là 633 - 679 và đối với HNIndex là 83-89. Tuy nhiên, ở vùng điểm này, cổ phiếu dẫn dắt và các cổ phiếu trụ bị đảo liên tục khiến cho việc chọn lựa cổ phiếu theo xu thế là không dễ. Dòng tiền sẽ tìm đến những cổ phiếu chưa tăng nhiều và định giá còn tương đối hấp dẫn, miễn là yếu tố cơ bản của doanh nghiệp không có gì tiêu cực. Do vậy, chúng tôi cho rằng nhà đầu tư nên tập trung vào những cổ phiếu có (1) KQKD từ hoạt chính ổn định và có tăng trưởng qua các năm, (2) chỉ số P/E, P/B còn thấp so với mặt bằng chung và (2) có KQKD quý 2 và cả năm 2016 kỳ vọng tích cực. Về nhóm ngành, chúng tôi đánh giá cao các ngành như VLXD (sắt, thép, nhựa, xi măng, vv), xây dựng, bán lẻ, ô tô & phụ tùng, BĐS khu công nghiệp, du lịch và giải trí

19

20

21

CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ THÁNG BẢY

Sau khi VNIndex chinh phục được mức đỉnh lịch sử, thị trường hiện nay có thể nói là đang bị tâm lý lạc quan chi phối. Do vậy, hoạt động chốt lời ngắn hạn khó có thể ảnh hưởng đến đà tăng của thị trường. Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng VNIndex sẽ tiến thẳng đến ngưỡng 700 điểm mà thị trường sẽ tìm sự cân bằng quanh mặt bằng giá mới khi những cổ phiếu đã tăng nhiều đối mặt với áp lực chốt lời. Hiện tại, thanh khoản trên thị trường là khá dồi dào. Cộng với việc mặt bằng P/E chung tiếp tục được nâng lên, chúng tôi tin rằng dòng tiền sẽ tiếp tục tìm đến những cổ phiếu chưa tăng nhiều. Do vậy, thời gian này, nhà đầu tư có thể cân nhắc việc cơ cấu lại danh mục sang những cổ phiếu có nền tảng cơ bản tốt, KQKD ổn định và có tăng trưởng khả qua các năm nhưng còn giao dịch ở mức P/E, P/B thấp so với mặt bằng chung.

Đánh giá về KQKD các nhóm ngành trong quý 2, những ngành có triển vọng tăng trưởng tốt bao gồm: chứng khoán, VLXD (gạch, đá, xi măng, ống nhựa, thép), xây dựng, du lịch - giải trí, điện, phụ tùng ô tô, bán lẻ chuyên dụng (ô tô, điện tử), BĐS và hàng tiêu dùng.

Quý 2 đã bắt đầu mùa cao điểm của hoạt động du lịch và xây dựng. Do đó, chúng tôi tin rằng các doanh nghiệp vận tải như SKG và các công ty sản xuất VLXD như HPG, HSG và BMP sẽ tiếp tục cho thấy mức tăng trưởng cả doanh thu và lợi nhuận trong quý 2. Trong lĩnh vực BĐS, TDH, LHG, KDH và BCI là những doanh nghiệp được chúng tôi đánh giá tích cực nhờ những lợi thế dài hạn về quỹ đất của doanh nghiệp cộng cũng như triển vọng lợi nhuận khả quan trong năm 2016.

Nếu TDH và BCI có KQKD 2016 kỳ vọng tích cực nhờ việc thanh lý một số dự án BĐS thì đối với LHG và KDH, doanh thu và lợi nhuận năm nay sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi việc bán hàng tốt tại các dự án hiện hữu Dù việc áp dụng giao dịch T + 0 tiếp tục được dời sang năm 2017, các công ty chứng khoán hàng đầu có dư nợ cho vay margin lớn và thị phần lớn như HCM, SSI và VND sẽ là những doanh nghiệp được hưởng lợi đầu tiên từ sự bùng nổ về thanh khoản trên thị trường. Riêng HCM còn được hỗ trợ bởi tin đồn nới room cho NĐTNN.

• Ngành vận tải: PVT, VTO, TCL

• Ngành cảng biển: HAH, VSC

• Ngành xây dựng: FCN, CTD, HUT

• Ngành công nghệ: FPT

• Ngành điện: NT2, PPC, REE

• Ngành BĐS: BCI, KDH, LHG

• Ngành bán lẻ: SVC, PTB, MWG, PNJ

• Ngành VLXD: NNC, DHA, BMP, KSB, HPG, HSG

• Ngành dầu khí: PGS, PVS, PLC

• Ngành thực phẩm – đồ uống: VNM

• Ngành ngân hàng: VCB

• Ngành khác: SKG, DRC, PTI, DPM, IMP

CHỈ SỐ VĨ MÔ THÁNG 06

22

23

24

CHỈ SỐ CÁC NHÓM NGÀNH

25

26

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hotline