Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 4/2016

Được đăng vào 04-04-2016

Chiến lược đầu tư tháng 4/2016

TTCK đã đi trọn một chu kỳ tăng-giảm để rồi quay trở xuất phát điểm trong tháng Ba. Giao dịch trên thị trường sôi động hơn hẳn so với hai tháng trước đó với việc khối ngoại trở lại mua ròng hơn 700 tỷ đồng trên cả 2 sàn. Ở HSX và HNX, sự bùng nổ trở lại của nhóm cổ phiếu dầu khí, điện, nổi bật là GAS, VCB, PPC, NT2, BTP là tâm điểm chính của thị trường. Tuy nhiên, “gia vị mới” của tháng vừa rồi lại không đến từ sàn niêm yết chính thức mà từ những mã cổ phiếu Upcom như MSR, GEX, TOP, VGC, VEF.... Từ giữa tháng Ba, nhóm cổ phiếu này thu hút dòng tiền đầu cơ lớn và đồng loạt tăng giá mạnh mẽ. Dù vậy, với biên độ giao dịch lớn, áp lực cũng chốt lời tăng lên nhanh chóng và khiến nhóm cổ phiếu này lao dốc. Nhìn chung, do thị trường diễn biến quá nhanh và giữa các nhóm cổ phiếu sự phân hóa mạnh, không nhiều nhà đầu tư có được mức lợi nhuận cao trong tháng vừa rồi.

Chúng tôi nhận thấy diễn biến của TTCK tháng vừa rồi cũng phản ánh khá sát các góc cạnh của kinh tế vĩ mô 3 tháng đầu năm. Trong khi vấn đề tỷ giá đã tạm lắng xuống thì biến động của giá dầu khiến cho thu ngân sách từ dầu thô thấp hơn đáng kể so với dự toán; đồng thời, giá trị thu ngân sách từ khu vực DNNN cũng bị ảnh hưởng bởi việc giảm thu từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Mặt khác, giá trị khai thác dầu thô giảm cộng với tác động của El Nino lên giá trị sản xuất nông nghiệp là những nguyên nhân chính khiến GDP quý 1 chỉ tăng trưởng 5,45%. Dù vậy, ở chiều hướng tích cực, ba khu vực là (1) sản xuất điện, (2) xây dựng và (3) VLXD đều có ghi nhận mức tăng vượt bậc về giá trị đóng góp vào GDP.

Mặt khác, thống kê trong danh sách quan tâm của Môi giới chứng khoán cho thấy doanh nghiệp trong các ngành xây dựng, VLXD, công nghệ và dệt may có mức độ lạc quan cao về KQKD năm 2016. Ngược lại, nhóm doanh nghiệp ngành dầu khí, cao su tự nhiên và ô tô hầu hết đều đặt kế hoạch doanh thu, lợi nhuận thấp hơn mức thực hiện 2015. Đáng chú ý, trong khi giá cổ phiếu tăng mạnh, các doanh nghiệp ngành điện, cả nhiệt điện và thủy điện tỏ ra khá dè dặt về khả năng tăng trưởng KQKD năm 2016.

Bên cạnh hai yếu tố nói trên, chúng tôi tin rằng những hé lộ về vấn đề “nới room” cũng là thông tin được chờ đợi nhiều trong mùa ĐHĐCĐ. Đến thời điểm này, không ít công ty vẫn chưa tổ chức họp ĐHĐCĐ. Theo dõi một số doanh nghiệp đã tổ chức họp ĐHCĐ như REE, FPT, PNJ và VSC, có thể nhận thấy những bước tiến trong thủ tục pháp lý để nới room đến nay là rất hạn chế và không phải doanh nghiệp nào cũng mặn mà với việc tăng tỷ lệ sở hữu cho NĐTNN. Dù vậy, chúng tôi đánh giá những công ty nằm trong danh sách thoái vốn của SCIC như BMP, DHG và đặc biệt là VNM mới là nhân vật chính trong mùa ĐHCĐ năm nay, và trong ngắn hạn, thông tin nới room từ các doanh nghiệp này vẫn có thể tác động tích cực đến diễn biến chung của thị trường

Vùng điểm dự báo trong tháng này là 540 – 574 với VNIndex và 75-81 với HNIndex. Trong hai tuần đầu tháng Tư, khi mà rủi ro điều chỉnh đang ở mức cao, chúng tôi cho rằng việc giảm tỷ trọng cổ phiếu là sự “thích nghi” cần thiết. Đồng thời, biến động phức tạp và sự hồi phục thiếu bền vững của giá dầu và nguyên liệu khiến cho việc tham gia vào nhóm cổ phiếu dầu khí, khoáng sản sẽ phù hợp hơn với nhà đầu tư có khả năng chịu đựng rủi ro cao. Tương tự, việc theo đuổi các cổ phiếu nóng trên sàn Upcom với biên độ giao dịch lớn nhưng biến động bất ngờ và không ổn định về thanh khoản là khá rủi ro và nên được hạn chế, ít nhất cho đến khi thị trường ổn định trở lại. Mặt khác, cơ hội mua mới sẽ mở ra cho những người đang nắm giữ tiền mặt và nhà đầu tư dài hạn trong khoảng giữa tháng Tư khi đợt điều chỉnh đi vào giai đoạn cuối.

KINH TẾ THẾ GIỚI: Chững lại

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chững lại Theo dự báo của FocusEconomics Consensus, kinh tế thế giới dự báo tăng trưởng nhẹ, đạt 2,4%, so với mức tăng 2,3% trong Q4/2015 và 2,6% trong Q3/2015. Tốc độ tăng chậm lại của kinh tế toàn cầu đến từ các nguyên nhân sau đây:

(1) Hoạt động SXCN của các nền kinh tế lớn đang có dấu hiệu chậm lại: Trong Q1/2016, kết quả khảo sát chỉ số PMI của Mỹ và khu vực EU tiếp tục cho thấy xu hướng mở rộng, tuy nhiên mức độ tăng đã chậm lại so với cùng kỳ. PMI trung bình Q1/2016 của Mỹ và EU đạt lần lượt 51,4 điểm và 53,4 điểm (so với 52,7 điểm và 52,8 điểm trong Q4/2015). Trong khi đó, chỉ số PMI của Nhật Bản lại đảo chiều thu hẹp mạnh trong tháng 03/2016 (~49,1 điểm). Đối với Trung Quốc, xu hướng suy giảm tăng trưởng trong hoạt động SXCN vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ghi nhận tín hiệu lạc quan hơn dự báo khi 35/41 ngành công nghiệp ghi nhận tăng trưởng dương với mức tăng trưởng toàn ngành đạt 5,4% so với cùng kỳ.

(2) Nhu cầu tiêu thụ hàng hóa yếu đi khiến tăng trưởng thương mại toàn cầu chậm lại: Theo số liệu của cơ quan thống kê kinh tế CPB Hà Lan, hoạt động thương mại thế giới chững lại kể từ nửa cuối năm 2015. Trong tháng 01/2016, lượng hàng hóa trao đổi chỉ tăng 1,1%, so với mức tăng 3,4% của cùng kỳ.

1

Như đề cập trong BCCL năm 2016, sự suy giảm tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc, hệ quả từ công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế (chuyển dịch từ xuất khẩu sang dịch vụ, tiêu dùng) đã ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng toàn cầu, đặc biệt là ở khu vực Mỹ La Tinh và các nước châu Á – Thái Bình Dương. Tuy vậy, những dấu hiệu cải thiện gần đây của nền kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là trong hoạt động SXCN và tiêu dùng có thể làm lo lắng liên quan đến sự suy yếu kinh tế Trung Quốc

Các nền kinh tế lớn bắt đầu thực hiện chính sách lãi suất âm

Trong ba tháng đầu năm 2016, nhiều NHTW lớn trên thế giới tiếp tục thực hiện chính sách nới lỏng thông qua các gói định lượng hoặc cắt giảm lãi suất điều hành, cụ thể:

• Tháng 01/2016, NHTW Nhật Bản (BOJ) thông báo áp dụng chính sách lãi suất âm, bắt đầu chính thức có hiệu lực vào ngày 16/02/2016.

• Ngày 10/03/2016, ECB đã hạ lãi suất tái cấp vốn 5 điểm cơ bản xuống còn 0% và tăng chương trình mua tài sản thêm 20 tỷ EUR, lên 80 tỷ EUR mỗi tháng

. • Trung Quốc tiếp tục các chính sách nới lỏng thông qua việc bơm tiền theo các hợp đồng kỳ hạn (repo). Bên cạnh đó, PBOC cũng thực hiện hạ dự trữ bắt buộc 50 điểm cơ bản, tương đương với bơm 600 tỷ NDT vào nền kinh tế.

Trong các động thái trên, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến chính sách lãi suất âm để kích thích kinh tế của các NHTW có ảnh hưởng lớn đến các đồng tiền quan trọng trên thế giới như ECB và BOJ. Trong khi đó, FED tỏ ra khá thận trọng trong lộ trình nâng lãi suất điều hành, theo dự báo mới nhất, FED dự kiến sẽ thực hiện 2 lần nâng lãi suất (với mức tăng mỗi lần ~0,25%). Trong Q1/2016, các cặp tỷ giá có diễn biến trái chiều. Cụ thể, chỉ số US Dollar đã giảm 4,1%, nhờ vậy, các đồng tiền khác như EUR và JPY đều tăng giá mạnh so với cuối năm 2015 (JPY và EUR tăng giá lần lượt 7,5% và 5% so với USD).

2

Lạm phát toàn cầu có thể tăng trở lại trong ngắn hạn

Trong BCCL năm 2016 với chủ đề “Hàng hóa: Giảm cung để tạo lập mức cân bằng”, chúng tôi cho rằng cân bằng cung-cầu là yếu tố quyết định mặt bằng giá hàng hóa thế giới trong năm nay. Trong nửa đầu năm 2016, hiện tượng El Nino đã tác động trực tiếp đến chỉ số lạm phát của nhiều nền kinh tế khi giá gạo và giá dầu thô đều tăng trở lại. Theo thống kê từ Bloomberg, chỉ số giá các mặt hàng như gạo, dầu thô, đường, cao su, quặng sắt,... đều nhích trở lại so với mức cuối năm 2015. Trong đó, quặng sắt có mức tăng khá cao hơn 20% so với cuối năm 2015, trong khi các mặt hàng còn lại tăng bình quân từ 5-10%.

Tuy nhiên, nhìn về xu hướng cả năm 2016, chúng tôi cho rằng tác động của hiện tượng El Nino đến chỉ số giá hàng hóa toàn cầu chỉ mang tính ngắn hạn và tập trung ở một số mặt hàng nông nghiệp. Trong khi đó, đối với các mặt hàng liên quan đến năng lượng và kim loại công nghiệp, dư cung và hàng tồn kho lớn sẽ là yếu tố chi phối mạnh xu hướng giá. Như vậy, trong điều kiện nhu cầu hàng hóa thế giới đang yếu ớt, xác suất tăng mạnh của giá hàng hóa năm nay không được đánh giá cao.

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI: TĂNG ÍT, BIẾN ĐỘNG NHIỀU

3

Sự biến động mạnh của các thị trường chứng khoán trong giai đoạn cuối năm 2015 tiếp tục kéo dài sang Q1/2016. Các chỉ số giảm khá sâu trong nửa đầu Q1/2016 và phục hồi trở lại trong nửa giai đoạn sau của quý đầu năm. Ngược lại với “hiệu ứng tháng Giêng”, vốn cho thấy thị trường chứng khoán ở các quốc gia thường tăng điểm tốt thì tháng Một năm nay lại là tháng u ám của các thị trường. Sự giảm điểm này bắt nguồn từ mối lo ngại về sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới, cụ thể chỉ trong 4 ngày đầu năm 2016, thị trường chứng khoán Trung Quốc giảm sốc và bị “ngắt cầu chì giao dịch”.

Bên cạnh đó, sự lo lắng về tình trạng lao dốc của giá dầu (giảm 6,8% trong tháng Một) cũng góp phần vào đà giảm của thị trường chứng khoán thế giới. Theo đó, chỉ số MSCI All country world index (MSCI ACWI) đã giảm 6,4% chỉ trong tháng Một. Các thị trường chỉ bắt đầu đà hồi phục kể từ giữa tháng 2/2016 chủ yếu nhờ đà phục hồi của giá dầu. Chỉ số MSCI ACWI đã tăng 6,4%, lấy lại toàn bộ mức giảm trước đó. Mặc dù vậy, không phải tất cả các thị trường đều có thể đảo chiều khi chỉ có các chỉ số chứng khoán của Mỹ (chỉ số Dow Jones tăng 1,5% và chỉ số S&P500 tăng 0,8% còn chỉ số Nasdaq giảm 2,4%) và một vài chỉ số chứng khoán ở châu Á như TSEC của Đài Loan, JKSE của Indonesia, Kospi của Hàn Quốc… tăng điểm trong Q1/2016. Trong khi đó chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc và Nikkie 225 của Nhật giảm mạnh nhất với mức giảm lần lượt 11% và 12%.

Thị trường chứng khoán ở các nước châu Âu tăng khá tốt trong tháng Ba với việc ECB tiếp tục hạ lãi suất đối với các tổ chức tài chính thêm 0,1 điểm phần trăm về mức -0,4% cùng với việc ECB sẽ đẩy mạnh việc mua trái phiếu từ mức 60 tỷ euro lên mức 80 tỷ euro hàng tháng từ tháng 4/2016. Mặc dù vậy mức tăng không đủ bù đắp giai đoạn mất điểm trước đó nên các chỉ số tiêu biểu như FTSE 100, CAC 40 và DAX giảm lần lượt 1%, 5% và 7% kể từ đầu năm đến nay.

Trái ngược với sự suy giảm và biến động mạnh của các chỉ số chứng khoán và giá dầu, giá vàng đã tăng rất tốt trong quý 1 vừa qua. Theo số liệu thống kê từ Bloomberg và GoldMoney, không chỉ giá vàng niêm yết theo đồng USD tăng mạnh trong Q1/2016 mà giá vàng niêm yết theo 20 đồng tiền lưu hành phổ biến nhất cũng tăng rất mạnh, trung bình 18%. Giá vàng đã bắt đầu tăng từ đầu năm 2014 sau khi đã tạo đáy vào năm 2013. Bên cạnh đó, theo GoldMoney thống kê, từ năm 1971 đến nay, trung bình giá vàng sẽ có khoảng 4,5 năm tăng giá khi bước vào chu 1% 1% -2% -1% -5% -7% -12% -11% -5% 5% 2% 5% 1% -3% -1% 16% 4% -15% -10% -5% 0% 5% 10% 15% 20% Dow Jones S&P 500 Nasdaq FTSE 100 (UK) CAC 40 (Pháp) DAX (Đức) Nikkei 225 (Nhật) SSE (Thượng Hải) Hang Seng (Hồng Kông) TSEC (Đài Loan) Kospi (Hàn Quốc) JKSE (Indonesia) KLSE (Malaysia) VNIndex HNX-Index Vàng Dầu So với tháng 02/2016 So với đầu năm CTCP Chứng khoán Rồng Việt – Báo cáo chiến lược Tháng 4/2016 6 kỳ tăng. Như vậy, khả năng cao giá vàng sẽ còn tiếp tục vận động đi lên trong 2 năm nữa.

Mặc dù sự bình tĩnh đã quay trở lại với các thị trường chứng khoán từ nửa sau Q1/2016 nhưng vẫn còn khá nhiều rủi ro trước mắt. Cụ thể đó là khả năng FED tiếp tục nâng lãi suất lần thứ 2 vào tháng Sáu sắp tới. Bên cạnh đó, khả năng nước Anh rời khỏi khối EU (hay còn gọi là “Brexit” vẫn đang hiện hữu. Việc Anh rời khỏi EU được đánh giá sẽ tác động khá lớn đến thị trường tiền tệ (đồng euro và pound mất giá) qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế của Anh, EU nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung. Cuối cùng là những rủi ro địa chính trị vẫn còn khá lớn. Bức tranh Q1/2016 về sự biến động của các thị trường có thể sẽ tiếp diễn trong thời gian còn lại của năm 2016 – một năm đầy khó khăn và thử thách đối với các nhà đầu tư toàn cầu

KINH TẾ VĨ MÔ Q1/2016: Khởi đầu không dễ chịu

Tăng trưởng kinh tế quý đầu năm không khả quan

Trong quý 1/2016, tăng trưởng kinh tế chậm lại đáng kể, chỉ đạt 5,46% so với mức tăng trưởng 6,12% của cùng kỳ năm trước. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến kết quả trên:

- Lĩnh vực sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm hơn, đạt 7,9% trong quý đầu năm.

- Suy giảm của lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng, giảm lần lượt 2,7% và 1,2% so với cùng kỳ.

4

Nhận định: Nhìn chung, chúng tôi không quá bất ngờ về sự sụt giảm của ngành khai khoáng (chủ yếu đến từ sự sụt giảm của khai thác dầu thô) và tốc độ tăng chậm lại của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lĩnh vực nông nghiệp suy giảm là một hiện tượng ít khi xảy ra, ngay cả trong khủng hoảng kinh tế thì ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương.

Có thể thấy, hiện tượng El Nino đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất nông nghiệp ngay đầu năm 2016 với tác động nghiêm trọng hơn năm trước. Cụ thể, giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt giảm 6% so với cùng kỳ, trong đó, diện tích gieo cấy lúa giảm ít hơn so với diện tích hoa màu và cây trồng ngắn ngày. Nếu loại trừ đi hai yếu tố tăng trưởng âm trong GDP (nông nghiệp & khai khoáng), tăng trưởng kinh tế quý 1 ước đạt 7%.

Thương mại tăng trưởng yếu do kinh tế thế giới kém lạc quan

- Khối trong nước: Kim ngạch thương mại ở hai chiều tiếp tục yếu đi, đặc biệt là ở chiều xuất khẩu. Trong Q1, xuất khẩu giảm 4,7%, nhập khẩu giảm 3,6%. Lũy kế thâm hụt thương mại đạt 3,8 tỷ USD.

- Khối FDI: Chiếm 70% trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực FDI đang có dấu hiệu chững lại, tương ứng với mức tăng 7,9% và mức giảm 6,3% lần lượt ở hai chiều xuất và nhập khẩu.

5

Nhận định: Nhu cầu nhập khẩu suy yếu khiến cán cân nhập thương mại thặng dư nhẹ trong quý đầu năm. Trong đó, khối FDI ghi nhận thặng dư gấp đôi so với cùng kỳ. Hoạt động giao thương yếu đi do ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu có thể ảnh hưởng không tốt đến thương mại Việt Nam trong các quý tiếp theo, từ đó, gián tiếp tác động đến hoạt động sản xuất công nghiệp trong nước.

Lãi suất tăng trở lại

- Lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều nhích nhẹ ở các kỳ hạn ở mức 0,2-0,5% và 0,02-0,5% so với đầu năm 2016.

- Tăng trưởng huy động quý 1 ước tăng 2,26%, tín dụng cũng tăng nhẹ so với cùng kỳ, đạt 1,54%.

6

Nhận định: Theo UBGSTCQG, lãi suất huy động trong Q1/2016 biến động nhẹ ở kỳ hạn 6-12 tháng, tăng mạnh ở các kỳ hạn dài trên 12 tháng. Như vậy, lãi suất đang trải qua giai đoạn thiết lập đáy và tạo mặt bằng cao hơn. Diễn biến tăng lãi suất đã được chúng tôi đề cập nhiều lần trong các báo cáo vĩ mô trước đây. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất quý 1/2016 có bao gồm cả tác động từ dự thảo thông tư 36.

Hụt thu ngân sách nghiêm trọng trong quý 1/2016

Tình hình thu chi ngân sách nhìn chung không tích cực trong quý đầu năm, trong đó, thu từ dầu thô và XNK bị ảnh hưởng tiêu cực bởi giá dầu và hoạt động thương mại yếu hơn. Nổi bật hơn là thu từ DNNN giảm mạnh (-42% so với cùng kỳ), yếu tố này kéo theo chi đầu tư phát triển đạt mức thấp so với dự toán (~16%) và giảm 9% so với cùng kỳ

7

Nhận định: Với diễn biến của tình hình thu ngân sách hiện nay, chúng tôi bảo lưu quan điểm về khả năng hạn hẹp của chính sách tài khóa để hỗ trợ cho tăng trưởng. Thêm vào đó, việc tập trung khắc phục hậu quả của thiên tai có thể khiến cho tốc độ triển khai dự án đầu tư xây dựng cơ bản (cơ sở hạ tầng giao thông) bị chững lại so với cùng kỳ.

Hoạt động sản xuất công nghiệp ổn định với tốc độ tăng trưởng thấp hơn cùng kỳ

Hoạt động SXCN trong 3 tháng đầu năm tiếp tục giữ đà mở rộng, tuy nhiên, tốc độ đã chậm lại so với năm ngoái.

- PMI trung bình 3 tháng đầu năm đạt 50,83 điểm, giảm nhẹ so với mức 51,3 điểm của cùng kỳ.

- Chỉ số SXCN trong Q1/2016 tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ, đạt 6,3% (năm 2015 tăng 9,3% yoy).

8

Nhận định: Chỉ số PMI đang duy trì khá ổn định, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chỉ số này khó có triển vọng tăng đột biến như quý 2/2015. Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu của khối FDI suy giảm đáng kể tác động gián tiếp đến xu hướng hoạt động SXCN trong ba tháng đầu năm và các tháng tiếp theo

Tỷ giá duy trì ổn định trong Q1/2016

Trong Q1/2016, tỷ giá USDVND bình quân đạt 22.382 đồng, giảm 0,5% so với cuối năm 2015. Việc thay đổi cơ chế tỷ giá trung tâm giúp diễn biến tỷ giá thị trường sát với cung-cầu ngoại tệ hơn thay vì yếu tố tâm lý. Dự trữ ngoại hối của NHNN có điều kiện cải thiện trong quý đầu năm, tăng lên khoảng 34-35 tỷ USD và tương đương với khoảng 2,6 tháng nhập khẩu.

9

Nhận định: Chính sách tỷ giá duy trì ổn định trong ba tháng đầu năm nhờ sự thuận lợi về diễn biến thị trường đến từ trong và ngoài nước.

- Bên trong: Cán cân thương mại thặng dư nhẹ đi cùng với tốc độ giải ngân vốn FDI tích cực trong ba tháng đầu năm tạo nguồn cung ngoại tệ dồi dào.

- Bên ngoài: Đồng USD mất giá 4,1% trong Q1/2016 và đồng CNY tăng giá so với USD làm giảm áp lực lên chính sách điều hành trong nước

TRIỂN VỌNG VĨ MÔ: Thiếu động lực cho tăng trưởng

El Nino và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Tác động đến các yếu tố vĩ mô: Tăng trưởng, lạm phát, xuất khẩu

Cuối năm 2015, nhiều cảnh báo về ảnh hưởng của hiện tượng El Nino lên ngành nông nghiệp đã được đưa ra. Tuy nhiên, thực tế diễn ra nghiêm trọng hơn dự báo, điều này thể hiện qua những con số thống kê không mấy tích cực trong quý 1/2016. Tính đến thời điểm hiện tại, khu vực Tây Nguyên có 160.000 ha diện tích cây trồng thiếu nước do hạn hán nghiêm trọng, 160.000 ha diện tích gieo trồng lúa tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long bị thiệt hai do xâm nhập mặn. Theo dự báo của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương (NCHMF), tình hình khô hạn và xâm nhập mặn sẽ kéo dài đến tháng 6/2016. Tuy nhiên, sau khi El Nino suy yếu, xác suất hiện tượng La Nina xuất hiện vào những tháng cuối năm 2016 khá cao, lên đến 50-60%

Diễn biến thời tiết khắc nghiệt đã ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam ở nhiều khía cạnh. Như đã đề cập ở trên, ngành nông nghiệp tăng trưởng âm lần đầu tiên trong nhiều năm qua. Ngành nông nghiệp chiếm 10% trong tổng cơ cấu GDP, chiếm 44,3% lực lượng lao động cả nước và chiếm 8% cơ cấu xuất khẩu. Với triển vọng thời tiết không thuận lợi cho đến hết quý 2/2016, Môi giới chứng khoán  ước tính sản lượng lúa cả nước giảm 1,5 triệu tấn, tương đương 3,3% tổng sản lượng sản xuất cả năm 2015. Dựa trên kịch bản nông nghiệp giảm 1% trong năm 2016, tăng trưởng GDP ước chỉ đạt 5,8-6% trong năm 2016. Đối với hoạt động xuất khẩu gạo, sản lượng sản xuất giảm nhưng giá bán tăng có thể bù đắp lại do nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp tại các quốc gia nằm trong vùng ảnh hưởng của El Nino cũng tăng cao. Vì vậy, chúng tôi đánh giá tác động của hiện tượng El Nino lên giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam là khá tích cực. Trong 3 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu gạo và rau quả tăng trưởng rất tốt với mức tăng lần lượt là 26% và 71% so với cùng kỳ. Ngược lại, giá trị xuất khẩu của các cây nông nghiệp dài ngày như chè, cà phê, tiêu, điều… không mấy cải thiện. Về tiêu dùng của nền kinh tế, do cơ cấu lao động lĩnh vực nông nghiệp chiếm phần đông nên khi nông nghiệp đi xuống có thể ảnh hưởng đến tiêu dùng nói chung. Chúng tôi cho rằng giá lương thực tăng sẽ khiến phần tiết kiệm trong thu nhập của người dân giảm, từ đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của những mặt hàng không thiết yếu.

Ngoài ra, đối với những quan ngại gần đây liên quan đến khả năng lạm phát tăng cao, theo quan điểm của chúng tôi, khi giá dầu còn duy trì ở mặt bằng hiện tại 40$/thùng thì nguy cơ lạm phát cao trở lại sẽ không đáng kể. Hiện tại, lạm phát lõi vẫn ổn định ở mức 2%, giá dầu và giá gạo lần lượt chỉ tăng 5% và 8% so với cuối năm 2015. Trong cơ cấu tính CPI mới, tỷ trọng của nhóm lương thực được điều chỉnh giảm từ 8,2% còn 4,5%, ngược lại, tỷ trọng nhóm giao thông được tăng từ 8,9% lên 9,4%. Việc điều chỉnh giá các mặt hàng xăng dầu và diễn biến tăng của một số sản phẩm nông nghiệp, thủy sản có thể tác động đến lạm phát tháng 4/2016. Tuy nhiên, về xu hướng, chúng tôi đánh giá lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát.

Động thái hỗ trợ của chính phủ

Trong bối cảnh ngân sách khó khăn, tình hình thiên tai do thời tiết vẫn cần sự quan tâm hỗ trợ của chính phủ. Trong tháng 3, Bộ NN & PTNT đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét những biện pháp hỗ trợ theo từng khu vực với tổng kinh phí dự kiến là ~37.700 tỷ đồng (~1,7 CTCP Chứng khoán Rồng Việt – Báo cáo chiến lược Tháng 4/2016 11 tỷ USD). Ngoài ra, Bộ NN&PTNT cũng khởi động dự án nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu do chính phủ Đức tài trợ với tổng kinh phí cho Việt Nam là 700.000 USD, thực hiện trong 4 năm, bắt đầu từ 01/03/2016. Như vậy, việc bổ sung nguồn vốn ngân sách để hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến tốc độ giải ngân vốn ở các khu vực khác, trong đó có xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông.

10

Đánh giá xu hướng sản xuất công nghiệp

Triển vọng kinh doanh quý 1/2016 theo ngành từ góc độ vĩ mô

Trong Q1/2016, ngành sản xuất vật liệu xây dựng tăng trưởng khá tốt; tăng xấp xỉ 10%, cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ, đồng thời là mức tăng cao nhất từ năm 2010 đến nay. Tình hình sản xuất một số mặt hàng vật liệu xây dựng cũng tương đối tích cực, sản lượng sắt thép và xi măng tăng trưởng lần lượt 23% và 11% so với cùng kỳ, giá bán thép xây dựng tăng nhờ chính sách hỗ trợ của nhà nước. Từ diễn biến trên, chúng tôi cho rằng có thể kỳ vọng lạc quan về kết quả kinh doanh quý đầu năm các doanh nghiệp xây dựng và cả các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như sắt thép, xi măng, gạch, đá…

Các ngành kỳ vọng có kết quả kinh doanh cải thiện nhẹ bao gồm sữa, điện, thức ăn chăn nuôi…Trong khi đó, ngành có khả năng có triển vọng tiêu cực là dầu khí do khai thác dầu thô Q1 giảm 1% so với cùng kỳ và giá dầu thấp trong giai đoạn đầu năm khiến cho hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí bị ảnh hưởng đáng kể.

1112

Triển vọng ổn định trong các quý tiếp theo

Nhìn theo xu hướng năm, có thể thấy hoạt động sản xuất công nghiệp đang thể hiện mức tăng trưởng không tích cực bằng hai năm trước. Tuy nhiên, chỉ số PMI cho thấy sự ổn định trong đơn hàng và sự cải thiện qua từng tháng, đồng thời quý 1 cũng là quý thấp điểm của hoạt động sản xuất công nghiệp. Do đó, chúng tôi kỳ vọng sản xuất công nghiệp ổn định vẫn là trụ đỡ cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Điểm đáng quan ngại là hoạt động thương mại của khối FDI chưa cho thấy sự cải thiện dù dòng vốn giải ngân khá tốt trong thời gian qua. Chỉ số tăng trưởng nhập khẩu trung bình 3 tháng gần nhất giảm 6%, trong khi chỉ số xuất khẩu tăng 8,6%, mức thấp nhất trong nhiều năm. Số liệu trên cho thấy dòng vốn giải ngân đang tập trung cho hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng trong khi hoạt động sản xuất của khối FDI có dấu hiệu chững lại. Từ đó, ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo. Yếu tố này cần được theo dõi và cảnh báo trong thời gian tới nếu không thể hiện sự phục hồi.

13

Thị trường tài chính tiền tệ: tỷ giá ổn định – quan ngại lãi suất

Xu hướng tỷ giá kỳ vọng vẫn ổn định

Chúng tôi cho rằng chính sách tỷ giá mới đã phát huy hiệu quả khi tỷ giá USDVND duy trì trong biên độ cho phép trong thời gian qua, đặc biệt là hiện tượng đầu cơ và yếu tố đột biến theo ngày đã giảm đáng kể. Như đã đánh giá trong báo cáo trước đây, trong chính sách tỷ giá mới, diễn biến của tiền đồng sẽ có mối liên hệ nhiều hơn với thâm hụt thương mại và tình trạng ra/vào của các dòng vốn. Diễn biến trong Q1/2016 cho thấy thặng dư thương mại được duy trì và nhập siêu cao chưa có dấu hiệu trở lại khi hoạt động xuất nhập khẩu nội địa đều suy giảm. Thêm vào đó, việc giải ngân vốn tích cực của khối FDI đang là tấm đệm hỗ trợ cho mặt bằng tỷ giá. Đồng thời, việc mua vào ngoại tệ nâng dự trữ ngoại hối của NHNN thời gian qua cũng phần nào đảm bảo cho khả năng ổn định trong chính sách điều hành tỷ giá của NHNN trong quý tiếp theo. Về yếu tố bên ngoài, đồng USD giảm giá song hành với lộ trình nâng lãi suất thận trọng kết hợp với triển vọng kinh tế Q1 của Trung Quốc không quá tiêu cực sẽ giúp nhà điều hành yên tâm hơn. Yếu tố tiêu cực về những quan ngại trong xu hướng tỷ giá đã được giảm bớt so với hồi đầu năm, tuy nhiên, ở mặt khác, hoạt động thương mại đang không được hỗ trợ. Việc cân bằng lợi ích tổng thể là những bước đi tiếp theo NHNN cần tính toán khi yếu tố hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế đang ngày một ít đ

Xu hướng tăng lãi suất huy động sẽ kéo theo điều chỉnh lãi suất cho vay

Theo Chúng tôi ,  tín hiệu điều chỉnh lãi suất huy động gần đây sẽ tác động tiêu cực đến niềm tin của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Với việc thay đổi đồng loạt lãi suất huy động ở nhiều kỳ hạn, chi phí đi vay của doanh nghiệp sẽ tăng so với trước đây, đồng thời gây ra quan ngại trong hoạt động đầu tư và mở rộng sản xuất. Đối với hệ thống ngân hàng, chúng tôi nhận thấy sự ổn định về mặt thanh khoản nhưng những ràng buộc về tỷ lệ an toàn và trích lập dự phòng nợ xấu nhìn chung sẽ kiềm hãm khả năng tăng trưởng lợi nhuận. Trong bối cảnh cần ra sức hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, việc điều chỉnh lãi suất cho vay cho dù ở biên độ thấp cũng là yếu tố không thuận lợi đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÁNG 3: Kỳ phân phối đỉnh đầu tiên trong năm 2016

Thị trường phân phối nên cơ hội đầu tư sinh lời trong tháng 3 chỉ đến từ vài dòng cổ phiếu. Cả hai chỉ số VNINdex và HNX-Index đều phát lên tín hiệu phân phối đỉnh mạnh, với đỉnh thị trường xác lập vào giai đoạn giữa tháng 3. Do đó, cả hai chỉ số này đều đóng cửa tháng 3 với mức điểm gần như không thay đổi so với giá đóng cửa tháng 2. Đợt điều chỉnh giảm này đến từ hai lý do chính: (1) Thông tư 07 đi vào hiệu lực (ngày 15/3/2016) tạo nên áp lực bán ngắn hạn và (2) giá hàng hóa trên thế giới có dấu hiệu điều chỉnh giảm.

Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn có cơ hội đạt mức sinh lời rất cao tại một số nhóm ngành và cổ phiếu, tiêu biểu như: ngành tài nguyên (+12,2%), Xây dựng và VLXD (19,9%), Tiện ích công cộng (+9,2%) và cổ phiếu Upcom (+25,7%). Trong giai đoạn động lực tăng bị giảm, thị trường đã tìm đến dòng cổ phiếu thị giá thấp (penny) và thậm chí là cổ phiếu Upcom. Điều này giúp nhiều nhà đầu tư kiếm được lợi nhuận rất lớn nếu tham gia vào giai đoạn đầu sóng cổ phiếu penny này, tiêu biểu như dòng cổ phiếu khoáng sản, nhiều cổ phiếu thị giá thấp (ATA, HDO,…) và một số mã trên sàn Upcom (MSR, GEX, SDI, XPH).

14

Dòng tiền vào thị trường khá ổn định và cải thiện đáng kể. Thị trường tháng 3 chứng kiến thanh khoản và cả dòng tiền cải thiện đáng kể. Trung bình KLGDKL và GTGDKL trên VNIndex đạt lần lượt 133,4 triệu cổ phiếu và 2.040 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 44% và 31% so với cùng kỳ. Đồng thời, dòng tiền này chủ yếu đầu tư vào nhóm cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ, với tăng trưởng GTGDKL trên cổ phiếu thuộc nhóm VNMid và VNSmall lần lượt là 72% và 32% so với cùng kỳ. Mặt khác, dòng tiền vào thị trường Upcom cũng tăng mạnh, với GTGDKL trung bình phiên gần 83 tỷ đồng, tăng 77% so với cùng kỳ. Tuy nhiên sự phân hóa dòng tiền trên sàn này vẫn không cải thiện, với hơn 70% giá trị giao dịch chỉ tập trung tại 5-6 mã cổ phiếu niêm yết trên sàn này, tiêu biểu như: GEX, MSR, SWC, SDI, VEF, VGG.

15

KQKD năm 2015: tốc độ tăng trưởng toàn thị trường giảm nhẹ so với các năm trước nhưng một số nhóm ngành ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc. Tổng doanh thu và LNST của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HSX và HNX (không tính nhóm ngân hàng và dịch vụ tài chính (bảo hiểm, chứng khoán)) tăng trưởng lần lượt 7% và 10% trong năm 2015. Đây là mức tăng trưởng khá thấp so với mức 15% và 13% trong năm 2014. Tuy nhiên, một số nhóm ngành ghi nhận mức tăng trưởng LNST vượt bậc so với trung bình toàn thị trường như:

16

17

Diễn biến dòng vốn ngoại: Khác thường trong Q1 không đáng lo ngại

18

Song hành với các nhà đầu tư trong nước, dòng vốn ngoại trong quý đầu năm cũng có những điểm nhấn riêng. Trái với diễn biến mua ròng vào quý 1 trong vòng 3 năm trở lại đây, năm nay khối ngoại lại chuyển sang bán ròng tổng giá trị hơn 742,2 tỷ đồng. Đà bán ròng của khối ngoại bắt đầu từ tháng 8/2015 và kéo dài đến hết tháng 2/2016. Giá trị bán ròng của khối ngoại tính riêng trong năm 2016 theo đó giảm dần qua các tháng, cụ thể tháng Một khối này bán ròng cao gần như kỷ lục 1.128 tỷ đồng, tháng Hai giá trị này sụt giảm mạnh còn khoảng 216 tỷ đồng và trạng thái bán ròng hoàn toàn chuyển sang mua ròng trong tháng Ba với giá trị 727 tỷ đồng. Trên sàn HSX, MBB được mua ròng mạnh nhất với giá trị hơn 812 tỷ đồng nhờ thông tin hở room của cổ phiếu này. Ở chiều ngược lại, VIC bị bán ròng rất mạnh gần 1.903 tỷ đồng. Đối với HNX, SCR là mã được mua ròng mạnh nhất 82 tỷ đồng còn DBC bị bán ròng nhiều nhất 50 tỷ đồng. Nếu bóc tách hoạt động bán ròng của khối ngoại thì sự khởi đầu khác thường này không thật sự quá lo ngại bởi nước ngoài chỉ bán mạnh nhắm vào một số cổ phiếu và nhóm ngành nhất định như VIC thuộc ngành bất động sản, HHS và DRC thuộc ngành ô tô, phụ tùng ô tô. Đó là chưa kể đến lực bán mạnh ở VIC chủ yếu là bán ra phần cổ phiếu từ việc chuyển đổi trái phiếu của VIC.

19

Về hoạt động hai quỹ ETF, hoạt động cơ cấu danh mục trong quý đầu năm không có bất ngờ. Tuy nhiên xu hướng rút vốn đã diễn ra tại hai quỹ này. Chẳng hạn VNM ETF đã bị rút vốn khoảng 28,0 triệu USD trong khi FTSE ETF đã bị rút khoảng 13,7 triệu USD. Đây là quý 1 đầu tiên trong 6 năm kể từ 2011 dòng vốn bị rút ra khỏi hai quỹ ETF này. Với xu hướng tăng lãi suất của FED đã được định hình từ trước, áp lực rút vốn đối với hai quỹ ETF có thể sẽ vẫn còn tiếp diễn trong năm 2016 này.

Thông thường dòng vốn nước ngoài sẽ hoạt động mạnh trong thời gian quý 1 trong khi khoảng thời gian giao thoa giữa tháng Tư và tháng Năm thường là lúc các giao dịch bán chiếm ưu thế bởi thị trường có xu hướng điều chỉnh trong khoảng thời gian này (hiệu ứng Halloween đã được " Tìm môi giới chứng khoán tốt " trình bày vào ngày 31/10/2015). Tuy vậy, với xu hướng mua/bán ròng của khối ngoại đã dần ổn định cùng với câu chuyện nới room sẽ là chủ đề nóng trong mùa đại hội cổ đông, chúng tôi kỳ vọng giai đoạn sắp tới dòng vốn ngoại sẽ sớm quay trở lại thị trường chứng khoán Việt Nam.

TRIỂN VỌNG TTCK THÁNG TƯ: Mua chọn lọc khi thị trường giảm

TTCK đã đi trọn một chu kỳ tăng-giảm để rồi quay trở xuất phát điểm trong tháng Ba; trong đó, VNIndex giảm 2% và HNIndex giảm 3% so với đầu tháng. Giao dịch trên thị trường sôi động hơn hẳn so với hai tháng trước đó với việc khối ngoại trở lại mua ròng hơn 727 tỷ đồng trên cả 2 sàn. Ở HSX và HNX, sự bùng nổ trở lại của nhóm cổ phiếu dầu khí, điện, nổi bật là GAS, PPC, NT2, BTP và VCB là tâm điểm chính của thị trường. Tuy nhiên, “gia vị lạ” của tháng vừa rồi lại không đến từ sàn niêm yết chính thức mà từ những mã cổ phiếu Upcom như MSR, TOP, VGC, VEF.... Từ giữa tháng Ba, nhóm cổ phiếu này thu hút dòng tiền đầu cơ lớn và đồng loạt tăng giá mạnh mẽ. Dù vậy, với biên độ giao dịch lớn, áp lực cũng chốt lời tăng lên nhanh chóng và khiến nhóm cổ phiếu này lao dốc. Nhìn chung, do thị trường diễn biến quá nhanh và giữa các nhóm cổ phiếu sự phân hóa mạnh, tình trạng chung của nhiều nhà đầu tư là có lãi nhưng tỷ suất lợi nhuận chỉ dừng lại ở mức vừa phải.

Chúng tôi nhận thấy diễn biến của TTCK tháng vừa rồi phản ánh khá sát các góc cạnh của kinh tế vĩ mô 3 tháng đầu năm. Trong khi vấn đề tỷ giá đã tạm lắng xuống thì biến động của giá dầu thế giới khiến cho thu từ dầu thô thấp hơn đáng kể so với dự toán đồng thời giá trị thu ngân sách từ khu vực DNNN cũng bị ảnh hưởng bởi việc giảm thu từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Mặt khác, giá trị khai thác dầu thô giảm cộng với tác động của El Nino lên giá trị sản xuất nông nghiệp là những nguyên nhân chính khiến GDP quý 1 chỉ tăng trưởng 5,45%. Dù vậy, ở chiều hướng tích cực, ba khu vực là (1) sản xuất điện, (2) xây dựng và (3) VLXD đều có ghi nhận mức tăng vượt bậc về giá trị sản xuất.

Nếu báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hé lộ nhiều về xu hướng KQKD trong quý 1 thì các kế hoạch kinh doanh được đưa ra trong kỳ họp ĐHĐCĐ tới đây thể hiện phần nào sự lạc quan của các doanh nghiệp về triển vọng kinh doanh cả năm 2016. Thống kê trong danh sách quan tâm của " Môi giới chứng khoán có tâm " cho thấy doanh nghiệp trong các ngành xây dựng, VLXD, công nghệ và dệt may có mức độ lạc quan cao về KQKD năm 2016. Ngược lại, doanh nghiệp ngành dầu khí, cao su tự nhiên và ô tô hầu hết đều đặt kế hoạch doanh thu lợi nhuận thấp hơn mức thực hiện 2015. Đáng chú ý, trong khi giá cổ phiếu tăng mạnh, các doanh nghiệp ngành điện, cả nhiệt điện và thủy điện tỏ ra khá dè dặt về khả năng tăng trưởng KQKD 2016.

Bên cạnh hai yếu tố nói trên, chúng tôi tin rằng những hé lộ về vấn đề “nới room” cũng là thông tin được chờ đợi nhiều trong mùa ĐHĐCĐ. Đến thời điểm này, không ít công ty vẫn chưa tổ chức họp ĐHĐCĐ. Theo dõi một số doanh nghiệp đã tổ chức họp ĐHCĐ như REE, FPT, PNJ và VSC, có thể nhận thấy những bước tiến trong thủ tục pháp lý để nới room đến nay là rất hạn chế và không phải doanh nghiệp nào cũng mặn mà với việc tăng tỷ lệ sở hữu cho NĐTNN. Dù vậy, chúng tôi đánh giá những công ty nằm trong danh sách thoái vốn của SCIC như BMP, DHG và đặc biệt là VNM mới là nhân vật chính trong mùa ĐHCĐ năm nay và trong ngắn hạn, thông tin nới room từ các doanh nghiệp này vẫn có thể tác động tích cực đến diễn biến chung của thị trường.

Vùng điểm dự báo trong tháng này là 540 – 574 với VNIndex và 75-81 với HNIndex. Trong hai tuần đầu tháng Tư, khi mà rủi ro điều chỉnh đang ở mức cao, chúng tôi cho rằng việc giảm tỷ trọng cổ phiếu là sự “thích nghi” cần thiết. Đồng thời, biến động phức tạp và sự hồi phục thiếu bền vững của giá dầu và nguyên liệu khiến cho việc tham gia vào nhóm cổ phiếu dầu khí, khoáng sản sẽ phù hợp hơn với nhà đầu tư có khả năng chịu đựng rủi ro cao. Tương tự, việc theo đuổi các cổ phiếu nóng trên sàn Upcom với biên độ giao dịch lớn nhưng biến động bất ngờ và không ổn định về thanh khoản là khá rủi ro và do đó nên được hạn chế, ít nhất cho đến khi thị trường ổn định trở lại. Mặt khác, cơ hội mua mới sẽ mở ra cho những người đang nắm giữ tiền mặt và nhà đầu tư dài hạn trong khoảng giữa tháng Tư khi đợt điều chỉnh lớn . 

Thời điểm này nhà đầu tư nên tập trung vào những nhóm ngành có KQKD quý 1 dự báo tích cực như xây dựng, VLXD, công nghệ, bất động sản, ô tô – phụ tùng, bảo hiểm, v.v. Bên cạnh đó, việc thận trọng hơn với các cổ phiếu dầu khí và điện, những nhóm ngành đã tăng mạnh trong thời gian gần đây, là điều cần thiết. Sản lượng khai thác dầu thô giảm dự báo một năm khó khăn với doanh nghiệp dầu khí ngay cả khi giá dầu có sự hồi phục tương đối. Trong khi đó, thời tiết khô hạn chỉ có thể giúp các công ty nhiệt điện có lợi về giá và sản lượng trong ngắn hạn vì cơ chế điều tiết bằng hợp đồng mua bán điện của EVN sẽ khiến các nhà máy khó lòng đạt được mức lợi nhuận cao đột biến.

20

CHỈ SỐ VĨ MÔ THÁNG 03

21

22

23

CHỈ SỐ CÁC NHÓM NGÀNH

24

25

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hotline