Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo chiến lược 2016

Được đăng vào 02-02-2016

Báo cáo chiến lược 2016 

KINH TẾ VĨ MÔ THẾ GIỚI: CƠN BÃO MANG TÊN TRUNG QUỐC

Những yếu tố vĩ mô chính của thế giới trong năm 2016 có thể kể ra đó là triển vọng tăng trưởng mờ nhạt, lạm phát thấp kéo dài và tình trạng duy trì nới lỏng tiền tệ của nhiều Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước trước các sự kiện liên quan đến nền kinh tế Trung Quốc suy giảm cùng với khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đang quay lại với chu kỳ tăng lãi suất. Kinh tế Trung Quốc suy giảm đang gây áp lực giảm giá các loại hàng hóa cũng như làm cho việc mất giá đồng Nhân dân tệ là điều gần như chắc chắn sẽ diễn ra. Theo quan điểm của Môi giới chứng khoán , biến động của đồng Nhân dân tệ sẽ là điểm nhấn trong bức tranh tiền tệ thế giới năm 2016. Thêm vào đó, việc suy giảm của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sẽ tác động đến hầu hết các quốc gia, trong đó khối nước đang phát triển sẽ bị tổn thương nhiều hơn các nền kinh tế phát triển.

Triển vọng tăng trưởng mờ nhạt

Theo dự báo của IMF, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng nhẹ trong năm 2016, một phần đến từ sự hồi phục nhẹ của các nước phát triển như Mỹ, Liên minh Châu Âu và Nhật Bản. Ngược lại, trong số các quốc gia mới nổi, chỉ có Ấn Độ là tiếp tục giữ được sự tăng trưởng tốt trong khi các quốc gia khác đều sẽ có sự giảm sút trong tăng trưởng. Đặc biệt, kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục suy giảm và quá trình tái cân bằng kinh tế của nước này sẽ có những tác động tiêu cực đến thương mại, giá cả hàng hóa và tài sản trên toàn thế giớ

Do tác động của giá dầu giảm mạnh, lạm phát dự báo là sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp. Điều này sẽ khiến các nước phát triển kéo dài chính sách nới lỏng tiền tệ, trong đó không loại trừ Mỹ. Theo khảo sát CME Fed Watch Tracking thì khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 3/2016 chỉ khoảng 14%. Ngoài ra, thị trường cũng nhận định Fed sẽ chỉ tăng lãi suất 2 lần trong năm 2016 thay vì 4 lần như dự kiến của Fed. Vì vậy, việc nâng lãi suất có thể được thực hiện từ từ và tốc độ mạnh lên của đồng USD cũng vì thế mà chậm hơn.

Trái với dấu hiệu thắt chặt tiền tệ của Fed, các NHTW khác (ECB, BOJ và POBC) đang gia tăng nới lỏng tiền tệ. Cuối tháng 01/2016, BOJ đã gia nhập nhóm các NHTW có chính sách lãi suất âm cùng với ECB. Tương tự, ECB có thể tiếp tục gia tăng mức lãi suất âm trong tương lai gần. Về phía Trung Quốc, NHTW nước này còn nhiều dư địa để kích thích tăng trưởng thông qua các chính sách nới lỏng tiền tệ. Trong bối cảnh trên, sự giảm giá của đồng Nhân dân tệ nhiều khả năng chưa dừng lại mặc dù đã có hàng loạt biện pháp hành chính để kiểm soát tốc độ mất giá đồng Nhân dân tệ được đưa ra. Các dự báo gần đây cho rằng có 55% khả năng đồng Nhân dân tệ sẽ phá giá 5-10% so với USD trong năm 2016, trong khi đó, khả năng phá giá trên 10% là vào khoảng 15%.

Hàng hóa: Giảm cung để tạo lập mức cân bằng

Triển vọng ảm đạm của các nền kinh tế lớn trên thế giới đem đến cục diện không khả quan cho nhu cầu sử dụng hàng hoá toàn cầu. Trong năm 2015, thế giới dần cảm nhận những cú sốc khi nền kinh tế Trung Quốc chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ tập trung cho đầu tư, xuất khẩu sang dịch vụ, tiêu dùng. Nhu cầu cho các mặt hàng năng lượng, các nguyên liệu cho hoạt động sản xuất công nghiệp từ đó bắt đầu giảm mạnh. Cùng với sự suy giảm nhu cầu từ Trung Quốc, đồng USD mạnh lên đang khiến cho chi phí sản xuất, giá cả các mặt hàng từ các nước xuất khẩu lớn trên thế giới rẻ đi. Mặt khác, giá năng lượng giảm mạnh do dư cung cũng kéo theo dây chuyền sụt giảm giá ở các ngành công nghiệp nặng - thâm dụng năng lượng. Tổng hòa các yếu tố trên đã tạo nên làn sóng giảm giá hàng hoá trên phạm vi toàn cầu.

1

Nhìn chung, giá hàng hoá đang gặp nhiều khó khăn để tìm được điểm cân bằng mới khi sự lệch pha giữa cung và cầu không thể giải quyết trong nhất thời. Hiện tại, giảm cung vẫn là yếu tố quyết định để đưa mặt bằng giá hàng hoá thế giới về điểm cân bằng. Năm 2016, giá cả các mặt hàng như nông sản, phân bón và nguyên liệu thô dự báo tiếp tục duy trì ổn định hoặc giảm nhẹ do tác động của hiện tượng Elnino đến sản lượng sản xuất. Đối với các mặt hàng năng lượng, kim loại công nghiệp, kim loại quý, xu hướng giảm sẽ tiếp tục do bị chi phối mạnh bởi yếu tố dư cung và hàng tồn kho lớn. (Xem thêm Phụ lục 2) Riêng đối với dầu thô, dư cung được dự báo kéo dài đến cuối năm 2016, ~65% số giàn khoan của Mỹ bị cắt giảm và việc OPEC chưa đưa ra thông điệp rõ ràng trong việc tiết cung của khối này khiến cán cân giá vẫn tiếp tục nghiêng về mặt bằng thấp hơn.

Rủi ro Trung Quốc suy giảm đối với thương mại Việt Nam chủ yếu đến từ diễn biến tiêu cực của giá hàng hóa

Trong thời gian gần đây, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc vẫn tăng trưởng tốt và chưa thấy dấu hiệu rõ ràng của việc giảm sút. Năm 2015, xuất khẩu sang nước này tăng trưởng 15% so với năm trước, tỷ trọng hàng hóa xuất sang Trung Quốc trong cơ cấu xuất khẩu tăng nhẹ từ mức 10,4% lên mức 10,7%. Dù vậy, nền kinh tế Trung Quốc đang có những dấu hiệu giảm tốc và nhu cầu tiêu thụ hàng hóa được dự báo là sẽ giảm trong thời gian tới. Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Trong số 10 lĩnh vực xuất khẩu quan trọng thì nông sản; dầu thô; cao su; xơ, sợi và máy ảnh, máy quay phim & linh kiện là các lĩnh vực có tỷ trọng xuất sang Trung Quốc lớn và gia tăng mạnh trong năm vừa qua. Tuy nhiên, xuất khẩu các sản phẩm trên lại phân hóa thành hai câu chuyện khác nhau. Xơ, sợi và máy ảnh, máy quay phim và linh kiện là hai lĩnh vực có sự tham gia chủ đạo của các doanh nghiệp FDI trong khi nhóm nông sản, dầu thô và cao su có sự tham gia chủ yếu của các doanh nghiệp nội địa.

Trong hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp ngoại đa phần hoặc sở hữu hoặc có mối liên hệ mật thiết với một thị trường đầu ra ổn định. Ngược lại, các doanh nghiệp nội địa sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh về giá trong bối cảnh giảm sút nhu cầu hàng hóa. Có thể thấy, về mặt xuất khẩu, ảnh hưởng từ sự suy giảm của Trung Quốc tác động mạnh nhất đến lĩnh vực nông sản, nguyên liệu thô (dầu thô, cao su), trong đó đáng chú ý nhất là sự suy giảm về giá.

2

Trong hoạt động nhập khẩu, tác động của việc Trung Quốc giảm tốc cũng có sự phân hóa về thách thức và lợi ích. Việt Nam hiện tại là nước nhập siêu từ Trung Quốc với tổng giá trị nhập khẩu tăng 13% trong năm 2015 và gấp khoảng 2,9 lần tổng giá trị xuất khẩu. Việc hàng Trung Quốc nhập vào Việt Nam trở nên rẻ sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất các mặt hàng tương tự ở trong nước như sắt thép và kim loại, chất dẻo, ô tô… Đây là các sản phẩm sẽ phải cạnh tranh mạnh mẽ về giá cả và gây rủi ro nhiều nhất cho các doanh nghiệp có chi phí sản xuất cao. Ngược lại, lĩnh vực thương mại và các ngành có đầu vào là các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc như nguyên phụ liệu dệt may, da giày, vải các loại, hóa chất … sẽ là các ngành được hưởng lợi do giá đầu vào giảm. Tình hình hiện nay cho thấy nguy cơ gia tăng nhập siêu từ Trung Quốc là hiện hữu nếu nhà điều hành không có biện pháp đối phó, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại của Việt Nam.

3

Việc tăng lãi suất của FED trong năm 2016 sẽ không ảnh hưởng tiêu cực nhiều đến Việt Nam. Hiện tại, chênh lệch lãi suất tiết kiệm giữa Việt Nam và Mỹ vào khoảng 6%. So sánh một cách tương đối, một mức lãi suất tiết kiệm cao hơn hàm ý tỷ suất sinh lời kỳ vọng của các lĩnh vực đầu tư khác cao hơn khi các yếu tố vĩ mô khác không biến động mạnh. Với lộ trình tăng lãi suất khoảng 1% trong năm 2016 và giả định lãi suất VND tăng nhẹ thì chênh lệch lãi suất vẫn còn hơn 5%, đủ hấp dẫn để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp mặc dù có những dự báo về việc VND sẽ mất giá thời gian gần đây. Ngoài ra, việc ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do trong năm 2015 (như TPP, FTA VN – EU, FTA VN – HQ) cùng với lạm phát giảm thấp và niềm tin tiêu dùng cao đã khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư, đặc biệt là thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp.

So với tác nhân Trung Quốc, lộ trình và mức độ tăng lãi suất của FED khá minh bạch nên có cơ sở để nhận định tác nhân này sẽ phản ánh vào tỷ giá và kỳ vọng của thị trường ở một mức độ hợp lý. Kết hợp với chính sách tỷ giá mới, chúng tôi kỳ vọng tâm lý đầu cơ sẽ được giảm đáng kể cũng như khả năng linh hoạt với biến động trên thị trường tiền tệ quốc tế của NHNN Việt Nam sẽ tốt hơn giai đoạn trước.

KINH TẾ VIỆT NAM 2016: NÂNG CAO VỊ THẾ

4

Động lực tăng trưởng giữ nguyên dù tốc độ giảm nhẹ , Chúng tôi  dự báo tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam vào khoảng 6,5% trong năm 2016, giảm nhẹ so với mức 6,68% năm 2015 và thấp hơn dự báo chung là 6,7% dựa trên một số lập luận sau:

• Năm 2016, lĩnh vực sản xuất, xây dựng và tiêu dùng được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng và là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, ngành công nghiệp và xây dựng có thể sẽ không giữ được tốc độ tăng trưởng mạnh như trong năm 2015. Ngược lại, ngành tiêu dùng tiếp tục hưởng lợi từ giá dầu thấp và nhiều khả năng sẽ đạt một mức tăng trưởng cao hơn trong năm nay.

• Theo mô hình dự phóng tăng trưởng của chúng tôi, ngành công nghiệp khai khoáng sẽ đóng góp ít hơn vào GDP năm 2016. Giá dầu thấp đang là “con dao hai lưỡi” đối với nền kinh tế Việt Nam, tại mức giá hiện tại là 30 USD/thùng, nhiều khả năng sản lượng khai thác sẽ bị cắt giảm, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng GDP.

• Các dòng vốn ngoại đang đổ vào Việt Nam do sự hấp dẫn của các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết trong thời gian gần đây đang là một động lực quan trọng nâng đỡ tăng trưởng. Sự tăng trưởng nhanh của các dòng vốn đầu tư ngoại là yếu tố quan trọng giúp cân bằng lại với xu hướng giảm đầu tư công. Trong khi đó, đầu tư tư nhân sẽ ổn định nhờ hệ thống ngân hàng duy trì cung cấp tín dụng để phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

Lạm phát không phải là vấn đề lớn

Chỉ số giá tiêu dùng năm 2015 tăng không đáng kể (khoảng 0,6% so với năm trước) do tác động từ giá dầu thấp. Chúng tôi cho rằng lạm phát sẽ tăng khoảng 3% trong năm 2016 nhưng sự gia tăng sẽ chủ yếu diễn ra vào nửa cuối năm. Sau khi xem xét tổng thể những biến động tăng/giảm của nhóm hàng hóa trong rổ tính CPI, lạm phát sẽ không phải là vấn đề lớn trong năm nay.

Giá thực phẩm (mặt hàng chiếm 36% tỷ trọng trong rổ hàng hóa tính CPI), được kỳ vọng là sẽ ổn định trong năm nay. Trong lần điều chỉnh mới nhất, tỷ trọng nhà ở và vật liệu xây dựng trong rổ hàng hóa được điều chỉnh tăng từ mức 10% lên mức 15,7%. Mặc dù giá nhà đã có sự gia tăng nhẹ trong thời gian vừa qua nhưng giá vật liệu xây dựng giảm mạnh đã giúp cân bằng lại tác động của nhóm mặt hàng này lên lạm phát.

• Lạm phát lõi chỉ gia tăng khoảng 2% mặc dù giá năng lượng luôn ở mức thấp trong năm vừa qua. Trong năm 2016, giá các dịch vụ giáo dục và y tế công sẽ gia tăng. Tuy nhiên, do tỷ trọng các loại hàng hóa này trong rổ hàng hóa sẽ được điều chỉnh giảm từ mức 11,3% xuống còn 11% và độ trễ của nhóm hàng này khi phản ánh vào CPI, chúng tôi cho rằng mức độ tăng của KINH TẾ VĨ MÔ 2016 www.vdsc.com.vn | Bloomberg: VDSC 9 lạm phát lõi trong năm nay dưới tác động của các dịch vụ trên sẽ không đáng kể.

• Nhiều khả năng giá dầu sẽ phục hồi vào nửa cuối năm nay. Sự phục hồi của giá dầu tại vùng đáy có thể tác động mạnh đến kỳ vọng lạm phát và làm cho lạm phát tăng nhanh hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng giá dầu sẽ có sự hồi phục mạnh mẽ và lạm phát sẽ vẫn nằm trong vùng mục tiêu của chính phủ, thấp hơn 5%

Thương mại: sự phân hóa mạnh

Theo quan sát của chúng tôi, tăng trưởng xuất khẩu vẫn đang tiếp tục, chủ yếu đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Dưới tác động của sự suy giảm tăng trưởng toàn cầu cùng với cấu trúc thương mại của Việt Nam, sự phân hóa trong thương mại dự báo sẽ còn tiếp diễn trong dài hạn. Chúng tôi dự báo xuất khẩu sẽ tăng trưởng 11% và nhập khẩu sẽ tăng trưởng 13% trong năm nay, thâm hụt thương mại sẽ ở mức ~7 tỷ USD.

• Bất cân xứng giữa doanh nghiệp nội và ngoại: Trong năm 2015, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng trưởng vượt bậc so với các doanh nghiệp trong nước và chiếm 68% tổng xuất khẩu của Việt Nam. Trong khi các doanh nghiệp FDI thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu (17,7%) và nhập khẩu (15%) thì các doanh nghiệp nội địa lại ghi nhận một sự sụt giảm ~8% cả ở chiều xuất và nhập. Do hiện có rất nhiều doanh nghiệp ngoại đã và đang dịch chuyển đến Việt Nam nhằm tận dụng lợi thế về nhân công giá rẻ và các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký, sự chênh lệch về sức khỏe của các doanh nghiệp nội và ngoại ngày càng sâu sắc sẽ ảnh hưởng đến cân bằng thương mại của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi không nghĩ đây là xu hướng bền vững trong hoạt động ngoại thương.

• Sự phân hóa trong sản phẩm: Đặc trưng trong hoạt động thương mại của Việt Nam tạo ra 3 nhóm hàng hóa khác biệt: (1) Nhóm hàng gia công lắp ráp (sản phẩm điện tử), (2) Nhóm gia công sử dụng sản phẩm trung gian nhập khẩu (dệt may, túi xách…) và (3) nguyên liệu thô. Dưới tác động của sự suy giảm toàn cầu khiến giá hàng hóa xuống thấp, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực gia công, thương mại trung gian sẽ được hưởng lợi từ giá đầu vào thấp, trong khi đó các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cuối hoặc nguyên liệu thô sẽ đối diện nhiều thách thức từ cạnh tranh.

• Sự phân hóa giữa các thị trường xuất khẩu: Trong suy giảm của các nền kinh tế mới nổi và biến động mạnh của các đồng tiền tại các quốc gia này, Việt Nam đang cố gắng đẩy mạnh thương mại đến các thị trường phát triển như Mỹ, Châu Âu, Hàn Quốc… và giảm bớt phụ thuộc vào các thị trường đang phát triển như Nga, khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ… Trong nhóm các hiệp định thương mại tự do đã ký kết và đang đàm phán, chúng tôi nhận thấy thặng dư thương mại của Việt Nam với các thị trường TPP, Châu Âu và sự thâm hụt thương mại với khu vực Đông Nam Á đang tăng dần qua các năm. Ngoài ra, thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc có nguy cơ gia tăng trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc.

Bối cảnh chính sách

• Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 kết thúc vào cuối tháng 1/2016 với việc tái bổ nhiệm lãnh đạo Đảng đương nhiệm. Dựa vào kết quả trên, các chính sách nghiêng về chiều hướng thuận lợi cho việc theo đuổi chiến lược hạn chế rủi ro trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Bên cạnh đó, với việc kí kết hiệp định thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), lãnh đạo mới có thể nắm bắt cơ hội nhằm thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế, mặc dù chúng tôi cho rằng sẽ khó có một sự thay đổi nhanh chóng.

• Phần lớn sự bất ổn bên ngoài bắt đầu từ Q4/2015 đã ảnh hưởng đáng kể đến chính sách kinh tế và tiền tệ của Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam vẫn đang trong quá trình cải cách khi nền kinh tế toàn cầu không mấy vững vàng, định hướng chính sách tài khóa và tiền tệ sẽ thiên về hướng hỗ trợ cho tăng trưởng trong năm 2016.

Mặc dù vậy, nợ công tăng cao đang làm xói mòn sự hỗ trợ của chính sách tài khóa và khiến Việt Nam nhạy cảm hơn trước những cú sốc bên ngoài. Trong khi đó, mặc dù lạm phát đang ở mức thấp, lãi suất gần như đã chạm đáy và khó có khả năng Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) sẽ cắt giảm thêm lãi suất điều hành.

Chính sách tiền tệ: tiếp tục nới lỏng sẽ là nhiệm vụ khó khăn

• Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích kinh tế, NHNN có lẽ cũng không muốn đi ngược xu hướng. Tuy nhiên, lãi suất huy động và lãi suất trái phiếu chính phủ đã bắt đầu tăng lại, điều này nhiều khả năng sẽ làm gia tăng lãi suất cho vay. Với kế hoạch tăng lãi suất của Fed trong năm nay, chúng tôi cho rằng NHNN sẽ tăng lãi suất khoảng 25-50 điểm cơ bản nhằm giữ vị thế tiền đồng.

• Động lực tăng trưởng tín dụng năm nay sẽ không khác nhiều so với các năm gần đây, chủ yếu vẫn là ở tín dụng tiêu dùng và bất động sản. Tuy nhiên, nhờ chính sách hỗ trợ tín dụng đối với lĩnh vực ưu tiên, tín dụng cho nông nghiệp và công nghệ kỹ thuật cao sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.

• Mục tiêu tăng trưởng tín dụng của NHNN trong năm 2016 ở mức 18-20%, cao hơn so với cùng kỳ. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng mục tiêu trên có vẻ lạc quan. Với kịch bản tăng trưởng GDP là 6,5% trong năm nay, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng đạt khoảng 16% cho cả năm.

Chính sách tỷ giá: cải thiện uy tín

• Trong năm 2016, tỷ giá sẽ chịu tác động từ những yếu tố sau: (1) biến động của tiền tệ thế giới; (2) sự thay đổi xu hướng dòng vốn và mức độ thặng dư của tài khoản vãng lai; (3) lòng tin của thị trường về tính hiệu quả của các chính sách cũng như uy tín của nhà điều hành.

• Chúng tôi cho rằng (1) và (3) là hai yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công trong điều hành tỷ giá. Do đó, cần thiết phải thay đổi quan điểm điều hành theo hướng ổn định thị trường. Đầu năm 2016, NHNN áp dụng cơ chế tỷ giá mới, neo tiền đồng theo một rổ ngoại tệ thay vì đồng đô la như trước. Sau khi chính sách tỷ giá mới có hiệu lực, sự biến động của tiền đồng đã được kiểm soát và diễn biến tương đối ổn định.

• Trong chính sách tỷ giá mới, diễn biến của tiền đồng sẽ có mối liên hệ nhiều hơn với thâm hụt thương mại và tình trạng ra/vào của các dòng vốn. Chúng tôi kỳ vọng tiền đồng sẽ giảm giá trong năm nay khoảng 3,2%, đạt mức 23.200 đồng vào cuối năm 2016.

• Yếu tố rủi ro nhất ở thời điểm hiện tại theo quan điểm của chúng tôi là sự giảm giá của đồng nhân dân tệ do sự thiếu rõ ràng trong cách tính toán tỷ giá trung tâm. Khi rủi ro mất giá của đồng nhân dân tệ tăng cao, NHNN có thể buộc phải bán bớt dự trữ ngoại hối để ổn định tỷ giá trong nước. Với lượng dự trữ khá mỏng (khoảng 2 tháng nhập khẩu) thì đây sẽ là nhiệm vụ rất thử thách cho NHNN.

Chính sách tài khóa: tiến thoái lưỡng nan

• Tỷ lệ nợ công của Việt Nam đang khá cao (khoảng 61,3% tại thời điểm cuối năm 2015) nhưng chúng tôi cho rằng rủi ro về thanh khoản và không trả được nợ là không đáng lo ngại. Tuy nhiên, một mức nợ công cao kéo theo gánh nặng trả nợ (cả gốc và lãi) sẽ khiến cho Việt Nam khó triển khai thêm các chính sách kích thích tăng trưởng. Theo kế hoạch ngân sách, tổng số tiền lãi và gốc đến hạn phải trả trong năm 2016 sẽ vào khoảng 155.100 tỷ đồng, tăng khoảng 5% so với năm 2015.

• Chính phủ đặt kế hoạch thâm hụt ngân sách khoảng 5% GDP trong năm nay. Tuy nhiên, kế hoạch trên đang dựa trên giả định giá dầu vào khoảng 60$/thùng, với thực tế là giá dầu đang giảm mạnh trong thời gian gần đây, tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhiều khả năng sẽ gia tăng.

• Kích thích kinh tế thông qua đầu tư công và hỗ trợ sản xuất, tiêu dùng: Chi đầu tư phát triển không tăng trưởng trong năm qua do nguồn thu từ dầu thô giảm mạnh. Tuy nhiên, theo kế hoạch, đầu tư công trong năm nay sẽ tăng trưởng mạnh dù khả năng thực thi vẫn là một vấn đề đáng quan ngại. Ngoài ra, thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được giảm từ mức 22% xuống mức 20% và lương cơ bản được điều chỉnh tăng 5% từ 01/05/2016 nhằm kích thích sản xuất và tiêu dùng.

CHỦ ĐỀ VĨ MÔ CHÍNH NĂM 2016

Năm 2016 mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế khi Việt Nam tham gia sâu và rộng hơn vào mạng lưới giao thương toàn cầu. Từ đó, Việt Nam có thể vận dụng được những lợi thế hiện có để nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh hiện tại. Trong bối cảnh đó, chúng tôi cho rằng chiến lược đầu tư từ vĩ mô đến ngành có thể được cân nhắc và được đề cập trong hai câu chuyện về Nâng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu và Điểm sáng tiêu dùng dưới đây. Cuối cùng, tiếp nối câu chuyện đã được kể trong nhiều năm, chúng tôi cho rằng những nút thắt còn lại trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế (ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công) đang được tiến hành là những nút thắt khó cởi bỏ nhất.

CHỦ ĐỀ 1: Nâng cao vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu và những ngành được hưởng lợi

Với việc ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA), Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới. Trong khi Cộng đồng Kinh tế Đông Nam Á (AEC) và FTA Việt Nam – Hàn Quốc đã đi vào thực tiễn từ năm 2016 thì hai hiệp định thương mại lớn là TPP và FTA Việt Nam – EU cần một thời gian chuyển tiếp 2 năm để có hiệu lực, dự kiến vào khoảng năm 2018. Do đó, Việt Nam có thể tận dụng khoảng thời gian này để chuẩn bị nhằm tận dụng tốt cơ hội hội nhập và tăng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Có 3 yếu tố quan trọng giúp cải thiện tính hiệu quả của thương mại Việt Nam, bao gồm: (1) Thủ tục pháp lý; (2) Chuỗi cung ứng; và (3) Dịch vụ vận tải và hậu cần. Để có thể gặt hái được lợi ích từ việc hội nhập với khu vực và thế giới, Việt Nam cần phải thay đổi theo chiều hướng cải thiện các yếu tố trên.

5

1. Cơ sở hạ tầng cứng: Cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong 5 năm trở lại đây. Tuy nhiên, hạ tầng Việt Nam vẫn xếp ở vị trí thấp nếu so sánh với các nước trong khu vực và càng thấp nếu so sánh với các đối tác TPP. Cụ thể, hạ tầng đường xá của Việt Nam đang xếp ở vị trí thấp nhất và hạ tầng hàng không xếp ở vị trí thứ 2 cuối bảng. Với lưu lượng giao thông ngày càng tăng, việc mở rộng đường xá là yêu cầu bắt buộc trong tương lai gần. Thêm vào đó, sự gia tăng tỷ trọng hàng điện tử trong xuất khẩu của Việt Nam sẽ thúc đẩy cải thiện hạ tầng hàng không. Các quá trình trên đem đến cơ hội giúp cho các ngành xây dựng và vật liệu xây dựng hồi phục mạnh mẽ trong thời gian gần đây.

2. Cơ sở hạ tầng mềm: Năm 2015, Việt nam xếp thứ 99 trên tổng số 189 nước về chỉ số thương mại qua biên giới, thấp hơn các nước trong khu vực Đông Nam Á. Trong khi chi phí xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn các nước trong khu vực thì Việt Nam lại là một trong những nước có thời gian làm thủ tục xuất nhập khẩu lâu nhất. Thủ tục hành chính chậm chạp được coi là một vấn đề lớn tại Việt Nam. Ngoài ra, dịch vụ tài chính cũng là một mảng Việt Nam cần cải thiện nhiều để có thể bắt kịp các nước trong khu vực cũng như các đối tác TPP. Việc chưa có các ngân hàng lớn đạt tầm khu vực cũng như nợ xấu cao làm giảm uy tín và tính hiệu quả của hệ thống tài chính trong việc hỗ trợ thương mại. Bên cạnh đó, Việt Nam cần gia tăng ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình nghiệp vụ và tái cấu trúc mạnh mẽ hệ thống tài chính nhằm gia tăng năng lực cho cơ sở hạ tầng mềm.

3. Chuỗi cung ứng: Hoàn thiện chuỗi cung ứng là một nhân tố quan trọng giúp Việt Nam gia tăng giá trị trong thương mại toàn cầu. Sự thay đổi trong cấu trúc của chuỗi cung ứng sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nói chung và ngành nói riêng. Đối với ngành dệt may và hàng điện tử, lợi thế cạnh tranh từ trước đến nay của Việt Nam chủ yếu đến từ chi phí nhân công rẻ và lao động có tay nghề. Để cải thiện tính cạnh tranh cũng như giá trị của các mặt hàng này, yếu tố đầu vào cần được chú trọng để đáp ứng tiêu chuẩn nguồn gốc xuất xứ của TPP (dệt may) cùng với phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ (sản phẩm điện tử). Quá trình này đang diễn ra với sự hoạt động năng nổ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với sản phẩm nông nghiệp, hiện có một làn sóng đầu tư trên quy mô lớn và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được thực hiện bởi các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, diễn biến giá giảm của các sản phẩm nông nghiệp và việc hội nhập ngày càng sâu sẽ là thách thức mà các doanh nghiệp này trước hết cần phải vượt qua.

4. Khung thể chế: Trong quá trình hội nhập, sự hỗ trợ của khung thể chế hoàn thiện (hệ thống pháp lý và quản lý) là vô cùng cần thiết để nền kinh tế phát triển hiệu quả. Với việc gia nhập TPP, nhà làm chính sách có sự hậu thuẫn và động lực nhiều hơn để thực hiện những thay đổi quan trọng về thể chế. Trong giai đoạn 2014-2015, sự thay đổi tập trung vào hệ thống pháp lý với nhiều luật mới được ban hành (Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở và Luật Đấu thầu…). Sự thay đổi trên được xem như phương pháp tiếp cận mới về nhận thức trong điều hành chính sách tại Việt Nam và song hành với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Tuy nhiên, để luật pháp đi vào thực tiễn sẽ còn mất nhiều thời gian. Bên cạnh đó, chính phủ cần lưu ý về hiệu quả trong vận hành bộ máy hành chính bằng cách giảm bớt sự lãng phí trong chi tiêu công. Trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu, mức độ hiệu quả trong chi tiêu công của Việt Nam đang được đánh giá ở mức kém nhất so với mức trung bình của khu vực ASEAN và khối TPP.

Cuối cùng, Việt Nam cần phải thực hiện nhiều cam kết về chất lượng điều hành, quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ nhà đầu tư, quản lý doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn về lao động và môi trường, chi tiêu công và tự do hóa dịch vụ cho phù hợp với các tiêu chuẩn của TPP. Có thể nói, việc nâng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu sẽ còn là một chặng đường dài đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, như một lộ trình, sẽ có những ngành được hưởng lợi đầu tiên trong chặng đường trên có thể kể đến là (1) xây dựng và vật liệu xây dựng; (2) dịch vụ vận tải và hậu cần; (3) công nghệ; (4) công nghiệp phụ trợ; ngành dịch vụ tài chính (ngân hàng, bảo hiểm) và nông nghiệp cũng đang trong lộ trình được khuyến khích phát triển gắn liền với những thách thức cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

1

7

CHỦ ĐỀ 2: Tiêu dùng đã và đang là điểm sáng của nền kinh tế

Nổi bật ở khu vực châu Á, hoạt động tiêu dùng Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 6-9% mỗi năm (sau khi loại trừ yếu tố giá). Nền tảng cho sự tăng trưởng trên đến từ cấu trúc dân số vàng của Việt Nam, với khoảng 60% dân số tập trung dưới độ tuổi 30. Ngoài ra, tốc độ mở rộng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu Việt Nam (bình quân tăng khoảng 2 triệu người mỗi năm) đang có nhiều đóng góp đáng kể đối với tăng trưởng của ngành bán lẻ.

Bên cạnh sự thuận lợi đến từ cấu trúc dân số, hoạt động bán lẻ trong năm 2015 sôi động hơn do giá dầu giảm mạnh và lạm phát thấp hỗ trợ tích cực cho tiêu dùng. Theo ước tính của chúng tôi, người tiêu dùng trong nước tiết kiệm được ~15.000 tỷ đồng trong năm 2015 nhờ giá xăng trong nước giảm mạnh (~30% so với năm 2014). Dự báo của World Bank cho thấy giá dầu sẽ tiếp tục xu hướng thấp và đạt bình quân ~37 USD/thùng trong năm nay. Dựa trên giả định này, người tiêu dùng Việt Nam có thể tiết kiệm thêm được ~8.000 tỷ đồng. Điều này sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sức mua trong nước và đặc biệt là niềm tin của người tiêu dùng.

8

Hiện tại, tác động của cơ cấu dân số và nhu cầu tiêu dùng cũng tạo ra sự phân hóa về mặt tăng trưởng giữa các nhóm hàng. Về xu hướng, thế hệ trẻ của Việt Nam (tuổi từ 21-34) đang hội nhập rất nhanh và sẵn sàng chi tiêu cho những nhu cầu mới như thời trang, điện thoại thông minh, xe hơi, sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và sức khỏe, các loại hình giải trí và du lịch. Ngoài ra, theo Nielsen, trong số những ngành lớn thuộc nhóm hàng tiêu dùng nhanh (đồ uống, thực phẩm, sữa, đồ dùng cá nhân, gia đình, thuốc lá, đồ dùng chăm sóc trẻ em), ngành đồ uống có triển vọng khả quan nhất trong cả ngắn và dài hạn. Đồng thời, khảo sát niềm tin tiêu dùng cho thấy người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quan tâm đến sức khỏe, do đó, những sản phẩm thực phẩm an toàn được kỳ vọng sẽ tăng trưởng nhanh trong thời gian tới. Có thể nói, cơ hội tăng trưởng được mở rộng với những doanh nghiệp hoạt động trong ngành hàng tiêu dùng đã và đang đón đầu được các xu hướng trên.

9

10

Mặc dù thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất hấp dẫn song đây là lĩnh vực đang đứng trước sức ép bành trướng lớn của khối FDI. Theo thống kê của Bộ Công thương, nhóm các doanh nghiệp FDI hiện có khoảng 90 điểm bán lẻ trên tổng số 750 siêu thị cả nước. Tuy vậy, so sánh trên quy mô và doanh số bán, các điểm bán lẻ của nhóm FDI gấp 3-4 lần, thậm chí 7-8 lần so với các siêu thị nội, từ đó, chiếm đến 1/3 thị phần bán lẻ. Một thực tế là các doanh nghiệp FDI có tốc độ chiếm lĩnh thị phần nhanh chóng thông qua các thương vụ M&A với các doanh nghiệp sản xuất và bán lẻ trong nước có chuỗi phân phối lớn (Bảng 3). Bằng cách làm này, các nhà bán lẻ nước ngoài đang dần từng bước xâm nhập vào thị trường Việt Nam và đặt các doanh nghiệp nội vào bài toán khó trong cạnh tranh.

Trong năm 2016, việc mở rộng thị trường nội địa khi các hiệp định thương mại đã và đang được kí kết sẽ tiếp tục đặt ra thách thức cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa. Do đó, chỉ những doanh nghiệp mạnh về năng lực tài chính và có khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và dịch vụ hậu cần… mới có thể đứng vững trước thách thức trên.

11

CHỦ ĐỀ 3: Tái cấu trúc – những vấn đề còn tồn đọng là những nút thắt lớn

Những kỳ vọng từ cải cách

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN): tiếp tục cổ phần hóa và nhiều doanh nghiệp được niêm yết

Trong giai đoạn 2016-2020, Chính Phủ đặt mục tiêu cổ phần hóa 123 DNNN, thoái hơn 15.600 tỷ đồng vốn từ các hoạt động kinh doanh ngoài hoạt động cốt lõi, phần lớn tại ngân hàng và bất động sản.

• Các thương vụ IPO lớn trong năm 2016 bao gồm: Sông Đà, HUD, IDICO, VICEM, Mobifone, Vinalines, Tổng cty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), Tập đoàn Cao Su Việt Nam (VRG)...

• Nút thắt cổ chai trong những đợt IPO của DNNN đến từ quy mô bán ra đại chúng không đủ lớn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược khi Nhà nước vẫn duy trì là cổ đông chi phối. Điều này có thể sẽ chưa có sự thay đổi đáng kể trong ngắn hạn.

• Điều kiện niêm yết (trong vòng 1 năm) cho các DNNN sau những đợt IPO có thể tạo ra một làn sóng niêm yết trên Upcom vào năm 2016.

Ngân hàng: giải quyết nợ xấu là một quá trình kéo dài

• Xóa bỏ nợ xấu là một quá trình lâu dài khi (1) chưa có thị trường thực sự cho việc mua bán nợ xấu và (2) trái phiếu đặc biệt không phải là một phương pháp rốt ráo nhằm tái cơ cấu những ngân hàng yếu kém.

• Với tăng trưởng kinh tế tiếp tục được cải thiện, các ngân hàng có thể dần dần xóa bỏ nợ xấu. Tuy nhiên, tiến trình sẽ chậm.

• Nâng giới hạn sở hữu nước ngoài cho các ngân hàng trong nước (hơn 30%) có thể là một phương án khả thi nhưng sự thận trọng vẫn được duy trì.

• Về những thay đổi trong quy định, BASEL II sẽ là một bước đi lớn trong năm 2016 cho hệ thống ngân hàng.

• Mặc dù số lượng thương vụ M&A ngày càng tăng, mục tiêu giảm số lượng ngân hàng thương mại xuống còn 15 – 17 ngân hàng đến năm 2017 vẫn là một nhiệm vụ đầy thử thách.

Đầu tư công: tăng cường kiểm soát kỷ luật ngân sách

• Với những hạn chế trong ngân sách nhà nước, tăng cường kiểm soát ngân sách là mục tiêu hàng đầu.

• Do nhu cầu cao đối với đầu tư công, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng giao thông vận tải, việc đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư thông qua huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân có sự hỗ trợ quản lý của nhà nước sẽ ngày càng phổ biến.

TRIỂN VỌNG NGÀNH & LỰA CHỌN CỔ PHIẾU

Trong phương trình tăng trưởng kinh tế dài hạn, Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào nhưng có quy mô vốn đầu tư chưa cao và có năng suất tổng hợp thấp. Trong đó, sự kém phát triển về hạ tầng, bao gồm cả những công trình hữu hình như hạ tầng giao thông và cả những hạ tầng” mềm” như hệ thống viễn thông và CNTT là yếu tố cơ bản hạn chế tăng trưởng. Giải quyết được vấn đề này sẽ tạo đà để Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài song song với việc cải thiện hiệu quả sản xuất trong nước. Nhưng trước hết, quá trình chuẩn bị sẽ đem lại cơ hội lớn cho những doanh nghiệp phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây dựng và phát triển hạ tầng.

Mặt khác, suốt 2 năm qua, chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực cải cách kinh tế và nền kinh tế Việt Nam liên tục được định vị để đặt mình vào giữa dòng chảy thương mại và đầu tư toàn cầu. TPP và các hiệp định FTA không phải là mục tiêu cuối cùng mà là bước tiến trong một quá trình. Sự mở rộng trong lĩnh vực sản xuất và hoạt động xuất nhập khẩu dưới dẫn dắt bởi khu vực FDI đang tạo ra động lực tăng trưởng cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics bên cạnh các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ. Với các nhận định đó, dưới đây là những nhân tố sẽ cấu thành bức chân dung của các nhóm ngành có triển vọng vượt trội trong năm 2016

Yếu tố chu kỳ: Khi Việt Nam bước qua giai đoạn phục hồi và đi vào giai đoạn tăng trưởng cao, các ngành có doanh số và lợi nhuận có tương quan cao với sự mở rộng kinh tế nên là những ngành được chú ý đầu tiên. Trong đó, sự gia tăng về nhu cầu do (1) sản xuất mở rộng, (2) thương mại được thúc đẩy và (3) tăng trưởng thu nhập cao hơn sẽ là động lực chính cho các lĩnh vực như: xây dựng, dịch vụ logistics, BĐS và VLXD trong năm nay. Về khía cạnh thương mại, trừ ngành tàu biển đang chịu sức ép từ giá cước quốc tế, hầu hết các khâu trong chuỗi giá trị logistics từ khai thác cảng đến dịch vụ hậu cảng (kho bãi, vận tải) đều sẽ được hưởng lợi từ tăng trưởng xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, nhờ tính chu kỳ của dầu thô, 2016 sẽ tiếp tục là một năm thuận lợi đối với các doanh nghiệp vận chuyển dầu mỏ và khí đốt khi nhà máy lọc dầu Dung Quất gia tăng công suất để tận dụng nguồn dầu mỏ giá rẻ.

Phát triển cơ sở hạ tầng là chìa khóa để thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Tại Hội nghị lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thể hiện sự đồng thuận mạnh mẽ về việc Việt Nam tham gia vào TPP. Trong nỗ lực để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Chính phủ Việt Nam cũng đã có nhiều biện pháp để thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng trong hai năm qua. Năm 2015, Việt Nam đã tăng chín bậc trên bảng xếp hạng chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng của Ngân hàng Thế giới trong khi giá trị sản xuất ngành xây dựng cũng tăng 11,4% so với 2014. Trong năm 2014 và 2015, Việt Nam đã chứng kiến sự bùng nổ về số lượng các dự án năng lượng và giao thông với nhiều dự án lớn như cao tốc Bến Lức - Long Thành, cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, nhiệt điện Duyên Hải 3, v.v. trong khi nhu cầu về nhà xưởng, kho bãi, đất công nghiệp cũng tăng vọt. Trong câu chuyện này, các lĩnh vực “đầu nguồn" như xây dựng, VLXD và phát triển KCN tiếp tục là những đối tượng hưởng lợi lớn nhất.

Tăng trưởng thương mại sẽ tăng tốc dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do: Với việc ký kết TPP và bốn hiệp định FTA năm 2015, giá trị xuất khẩu của Việt Nam được dự báo tăng trưởng hơn 11% và giá trị nhập khẩu hơn 13% trong năm 2016. Tận dụng thị trường sẵn có và các lợi ích về thuế quan, các doanh nghiệp FDI sẽ tiếp tục nhập khẩu lượng lớn nguyên vật liệu và máy móc trong khi xuất khẩu hàng hóa thành phẩm vào thị trường toàn cầu. Dù thị phần nhỏ, các công ty dịch vụ logistics trong nước vẫn có cơ hội tăng trưởng từ sự mở rộng này trong ngắn hạn. Trong đó, những công ty khai thác cảng biển ở phía Bắc vẫn có thể duy trì được tốc độ gia tăng doanh thu cao nhờ nhu cầu khai thác hàng hóa tăng nhanh hơn công suất cảng. Riêng đối với ngành dệt may, việc ký kết TPPA, EVFTA và VKFTA chắc chắn sẽ tiếp tục mang lại nhiều đơn hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, cạnh tranh gia tăng từ đối thủ lớn, giàu nguồn lực hơn từ Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan sẽ hạn chế khả năng gia tăng doanh số và biên lợi nhận của các công ty dệt may trong nước.

Giá hàng hóa giảm hỗ trợ giảm chi phí đầu vào: Môi trường giá hàng hóa thấp đã có tác động mạnh đến lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn trong năm 2015. Trong đó, BMP, NTP, VNM, PLC, DPM đều có mức tăng lợi nhuận gộp và LNST vượt trội so với các năm trước. Trước dự báo đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên và nhu cầu từ Trung Quốc kéo dài đà suy giảm, triển vọng giá nhiều TRIỂN VỌNG NGÀNH VÀ LỰA CHỌN CỔ PHIẾU www.vdsc.com.vn | Bloomberg: VDSC 31 loại hàng hóa vẫn khá ảm đạm. Một số mặt hàng có thể bị ảnh hưởng là ngô và đậu nành dùng cho thức ăn chăn nuôi, sữa nguyên liệu, hạt nhựa và bột nhựa dùng trong sản xuất bao bì và ống xây dựng, chì cho pin ắc quy và đồng cho dây cáp điện. Tuy nhiên, nguồn cung giảm do hiện tượng El Nino sẽ hạn chế khả năng giảm giá sâu ở một số sản phẩm nông nghiệp. Trong khi đó, khả năng giá dầu duy trì ở mức thấp tiếp tục là thuận lợi cho ngành sản xuất hóa chất từ dầu, bao gồm cả các doanh nghiệp phân bón vốn đang phải đối mặt với tình trạng dư cung trong nước.

Rủi ro tỷ giá thấp ảnh hưởng trọng yếu đến lợi nhuận ròng: Kể từ khi Trung Quốc bất ngờ cho đồng CNY giảm 3% so với USD cuối tháng Tám 2015, rủi ro biến động tỷ giá đã trở thành mối lo ngại thường trực đối với nhà đầu tư. Rủi ro tỷ giá gồm ba thành phần là rủi ro trong giao dịch ngoại tệ, rủi ro lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại tài sản/nợ và rủi ro kinh tế do tỷ giá. Rủi ro trong giao dịch ngoại tệ là khá thấp đối với những công ty nhập khẩu có doanh thu xuất khẩu. Tuy nhiên, hai thành phần còn lại có tác động lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong cả ngắn và dài hạn. Sự mất giá của tiền đồng khoảng 3-5% tuy có thể giúp duy trì sức cạnh tranh về giá của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam tại thị trường nước ngoài nhưng sẽ buộc các công ty có nợ ngoại tệ ghi nhận lỗ tỷ giá chưa thực hiện. Rủi ro tỷ giá đặc biệt trọng yếu đối với các công ty xi măng, điện, dệt may và thủy sản. Việc giảm tỷ trọng cổ phiếu trong các ngành chịu rủi ro tỷ giá là điều cần được cân nhắc.

Niềm tin tiêu dùng cao sẽ thúc đẩy chi tiêu: Sự mở rộng của tầng lớp trung lưu tại Việt Nam là động lực tăng trưởng dài hạn các ngành sản xuất và phân phối hàng tiêu dùng lâu bền và hàng hóa xa xỉ. Tuy nhiên, tăng trưởng thu nhập kỳ vọng mới là yếu tố thúc đẩy chi tiêu trong ngắn hạn. Nhờ tăng trưởng kinh tế và cơ hội nghề nghiệp (đặc biệt là trong các doanh nghiệp FDI) ngày càng nhiều, niềm tin tiêu dùng đang hồi phục khả quan. Theo ANZ - Roy Morgan, người tiêu dùng Việt Nam có niềm tin cao nhất trong khu vực châu Á. Điều này đã cải thiện doanh số các loại xe ô tô, đồ gia dụng, nội thất, trang sức… và dẫn đến sự nhảy vọt về doanh thu và lợi nhuận của các công ty cung cấp những mặt hàng hoá trên trong năm 2015. Dưới tác động của AEC và TPP, các công ty phân phối sản phẩm đặc thù như ô tô sẽ có lợi thế hơn những nhà bán lẻ đa chủng loại do sự tham gia và cạnh tranh khốc liệt từ các chuỗi bán lẻ nước ngoài. Trong đó, mức độ nhận diện thương hiệu cao, mạng lưới phân phối mạnh, khả năng tiếp cận các địa điểm bán hàng mới sẽ là vũ khí chính của các doanh nghiệp trong nước.

12

13

14

15

16

 

hotline