Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 1/2016

Được đăng vào 05-01-2016

Chiến lược đầu tư tháng 1/2016

Ngay cả sau khi quyết định tăng lãi suất của FED được công bố, TTCK tháng Mười Hai không có nhiều sự đột phá và vẫn nằm trong xu thế chung của các tháng trước đó khi phần lớn các cổ phiếu luôn chực chờ đảo chiều và các chỉ số hầu như chỉ đi ngang. Đúng như dự đoán của chúng tôi, dòng tiền từ khối ngoại vẫn còn khá hờ hững với TTCK Việt Nam và việc thanh khoản suy yếu về cuối tháng là dấu hiệu cho thấy sự kiên nhẫn của các nhà đầu tư trong nước cũng đang cạn dần. Tính chung cả tháng, thanh khoản trên hai sàn giao dịch giảm 20,9% trong khi khối ngoại tiếp tục bán ròng 2.058 tỷ đồng. Trái với nhiều dự báo về một mức tăng lạc quan 10-15%, VNIndex kết thúc cả năm chỉ tăng 6% trong khi có đến 2/3 các nhóm ngành ghi nhận mức tăng giá dương trong cả năm.

Với tiền đề là một năm 2014 vượt xa mong đợi, sự xuất hiện của một bức tranh vĩ mô với nhiều điểm sáng tối đan xen là nguyên nhân chính khiến các chỉ số không thể thoát khỏi xu hướng đi ngang trong suốt một năm qua. Nếu như giai đoạn 2013-2014, khi thị trường tăng trưởng trên diện rộng, dòng tiền dễ bỏ qua những cổ phiếu giá trị nhưng có thanh khoản kém và ít biến động thì trong không gian “chập choạng” của năm 2015, dòng tiền đã có sự phân hóa mạnh mẽ giữa các nhóm ngành và cổ phiếu. Trong đó, những câu chuyện lợi nhuận bất thường, phát hành tăng vốn để đầu tư dự án… đã không thể đưa nhiều cổ phiếu “nóng” đi xa. Ngược lại đà tăng giá chỉ thực sự bền vững ở những cổ phiếu ít biến động theo thị trường và gần như chưa tăng giá trong thời gian dài như CTD, BMP, KSB, VSC, GMD… Mặt khác, các thống kê về KQKD cũng cho thấy những cổ phiếu có mức tăng giá đáng kể trong năm 2015 đều được hỗ trợ bởi sự tăng trưởng tích cực về doanh thu và lợi nhuận, trong đó, nhóm cổ phiếu ngành ô tô, vận tải, xây dựng và VLXD là những điển hình sinh động.

Chúng tôi tin rằng những xu hướng trên đây sẽ tiếp tục chi phối sự vận động của TTCK trong năm 2016. Theo hướng tiếp cận “từ trên xuống”, tăng trưởng kinh tế và cơ hội từ hiệp định thương mại như TPP và FTA sẽ đem lại cho những nhà đầu tư theo trường phái tăng trưởng nhiều lựa chọn hơn khi tập trung vào các ngành dịch vụ phục vụ trực tiếp cho quá trình phát triển hạ tầng (cứng, mềm) như xây dựng, xây lắp theo dự án, công nghệ, tiện ích công cộng, kho vận – logistics… Trong xu hướng đó, những doanh nghiệp đầu ngành và có nền tảng cơ bản tốt sẽ tiếp tục được hưởng lợi. Song song với đó, chiến lược đầu tư “ngược xu thế” dành cho những nhà đầu tư giá trị với khả năng chịu đựng rủi ro cao và khung thời gian đầu tư dài vẫn có thể áp dụng được đối với những nhóm ngành đang ở đáy của chu kỳ kinh doanh như dầu khí và nguyên liệu cơ bản.

Vùng điểm dự báo trong tháng Một đối với VNIndex là 555 - 580 và HNIndex là 78-80. Chúng tôi cho rằng tháng Một là giai đoạn mà thị trường sẽ có sự phân hóa rõ giữa các cổ phiếu có yếu tố cơ bản hỗ trợ và những cổ phiếu có triển vọng kinh doanh chưa rõ ràng. Hay nói cách khác, những cổ phiếu đang trong xu hướng tăng sẽ tiếp tục tăng giá và bứt khỏi mặt bằng chung. Do vậy, chúng tôi tin rằng chọn lọc cổ phiếu trong giai đoạn này vẫn quan trọng hơn là dự báo xu thế thị trường. Chúng tôi duy trì các khuyến nghị về ngành và danh mục cổ phiếu gợi ý được trình bày sơ bộ trong Báo cáo Chiến lược tháng 12/2015. Các phân tích và khuyến nghị cụ thể hơn sẽ được chúng tôi gởi đến quý nhà đầu tư trong báo cáo Thị trường chứng khoán năm 2016 sẽ được phát hành trong Quý 1/2016.

KINH TẾ THẾ GIỚI

Cuộc chạy đua để kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách nới lỏng tiền tệ

Như đã nhận định trong Báo cáo Thị trường chứng khoán năm 2015, làn sóng nới lỏng tiền tệ đã diễn ra ở hầu hết các nước, từ nhóm phát triển cho đến đang phát triển. Có thể nói, làn sóng này đã tạo nên nhiều chuyện đáng để kể lại trong năm 2015, đặc biệt là trong bối cảnh Mỹ - nền kinh tế lớn nhất toàn cầu đi ngược với xu hướng trên khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ

1

Năm vừa qua, các nhà điều hành tại các nền kinh tế lớn gồm châu Âu (ECB), Nhật Bản (BOJ) và Trung Quốc (PBOC) đều thực hiện nới lỏng tiền tệ thông qua nhiều biện pháp như cắt giảm lãi suất điều hành, hạ dự trữ bắt buộc và sử dụng các gói nới lỏng định lượng,... Tại Châu Âu, chính sách lãi suất âm tiếp tục được ECB sử dụng, đến cuối năm 2015, lãi suất điều hành của ECB giảm còn -0,3%, đồng thời, chương trình nới lỏng định lượng được kéo dài thời hạn đến tháng 03/2017. Tương tự như ECB, mức lãi suất điều hành của NHTW Nhật Bản (BOJ) duy trì mức 0% kể từ năm 2011. Bên cạnh chương trình mua tài sản đang thực hiện, BOJ sẽ thực hiện một chương trình mới nhằm mua các quỹ hoán đổi danh mục ETF với quy mô ~2,45 triệu USD. Sự kiện nổi bật nhất trong điều hành tiền tệ của năm đến từ PBOC. Dưới tác động suy giảm tăng trưởng, PBOC từ trạng thái trung lập đã rất mạnh tay trong việc thực hiện nới lỏng tiền tệ, đặc biệt trong nửa cuối năm 2015. Khác với chương trình mua tài sản của các NHTW khác, PBOC sử dụng nhiều biện pháp gồm cắt giảm các lãi suất điều hành, hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc và hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu.

2

Làn sóng nới lỏng tiền tệ không chỉ dừng lại ở các nền kinh tế lớn và phát triển mà đã lan tỏa sang cả nhóm đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực châu Á. Theo Goldman Sachs, lãi suất điều hành của các nước ở khu vực này đều ghi nhận mức giảm từ 10-245 điểm phần trăm trong năm 2015. Trái ngược với xu hướng trên, trong kỳ họp định kỳ tháng 12/2015, FED đã nâng lãi suất điều hành thêm 0,25% khi các chỉ tiêu vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, hoạt động sản xuất, tiêu dùng và việc làm đều phát đi các tín hiệu tích cực.

3

Mỹ về nhất, các nước phát triển còn lại chật vật, Trung Quốc trải qua giai đoạn gập ghềnh trong tăng trưởng

Theo quan sát của chúng tôi, hiệu ứng từ chính sách nới lỏng tiền tệ đến sự hồi phục tăng trưởng là có nhưng chưa đồng nhất. Sau gần 10 năm thực hiện chính sách lãi suất thấp, nền kinh tế Mỹ đã gặt hái những “quả ngọt” đầu tiên trong năm nay khi các chỉ tiêu vĩ mô đều phát đi các tín hiệu tích cực, trong đó, hai yếu tố chính là lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp càng về cuối năm càng chạm dần đến mục tiêu của FED. Trong bức tranh chung đó, tiêu dùng là trụ đỡ cho tăng trưởng xuyên suốt cả năm 2015, khi người tiêu dùng Mỹ lạc quan với triển vọng kinh tế. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất của Mỹ liên tục ghi nhận đà mở rộng nhờ sự tích cực của nhu cầu nội địa. Đáng lưu ý, tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế đã chạm mức toàn dụng nền kinh tế và cũng là mức mục tiêu của FED (5%) đi cùng với sự khởi sắc của tốc độ tạo việc làm cũng như tăng trưởng tiền lương.

Trong năm qua, Ấn Độ trở thành câu chuyện nổi bật – thuộc nhóm có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, nhờ biện pháp giảm lãi suất điều hành từ năm 2011 đến nay, đồng thời cũng là quốc gia hưởng lợi từ sự sụt giảm của giá hàng hóa. Trong khi đó, khu vực EU và Nhật Bản phục hồi chậm chạp dù đã thực hiện nhiều chương trình kích thích kinh tế. Tuy vậy, chính sách điều hành đã phản ánh vào nền kinh tế ở một vài khía cạnh. Cụ thể, năm 2015, lĩnh vực sản xuất tại khu vực EU tương đối khả quan với chỉ số PMI duy trì ổn định ở ngưỡng mở rộng (>50 điểm). Cùng với đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm trong năm từ mức 11,4% xuống 10,7%. Đối với Nhật Bản, nhờ chính sách nới lỏng tiền tệ, tăng trưởng kinh tế cũng như hoạt động sản xuất cũng dần khởi sắc hơn vào nửa cuối năm 2015.

Riêng với câu chuyện của Trung Quốc, các chương trình nới lỏng tiền tệ được thực hiện trễ hơn các nước còn lại khi đà suy giảm tăng trưởng kinh tế chỉ mới bắt đầu. Tăng trưởng cả năm 2015 ước đạt 6,8% và dự kiến tiếp tục suy giảm trong năm 2016. Đa số các nhận định cho rằng kinh tế Trung Quốc đang bước sang một giai đoạn tăng trưởng thấp hơn, gập ghềnh hơn. Định hướng tăng trưởng tập trung vào tiêu dùng nội địa khó có thể cân bằng lại sự đi xuống của hoạt động sản xuất. Trong bối cảnh chính sách tiền tệ đối lập giữa Mỹ và đại bộ phận các nền kinh tế khác cũng như tăng trưởng không đồng đều giữa các quốc gia, diễn biến giá các đồng bản tệ có thể được coi là nét chấm phá nổi bật nhất trong bức tranh kinh tế toàn cầu năm 2015. Thống kê từ Bloomberg cho thấy chỉ số US Dollar trong năm 2015 tăng 7,4% so với cuối năm ngoái. Dưới sức ép đến từ sự mạnh lên của đồng USD, đại bộ phận các đồng tiền lớn trên thế giới, trừ Nhật Bản, đều mất giá.

Trong đó, xét riêng ở khu vực châu Á, các đồng tiền ở các nước này ghi nhận sự mất giá từ 4-23% trong cả năm 2015. Trong năm nay, Trung Quốc liên tục có những điều chỉnh về chính sách tỷ giá và tiền tệ để thực hiện mục tiêu đưa đồng NDT vào rổ tiền dự trữ đặc biệt (SDR) của IMF. Các biện pháp được áp dụng từ thay đổi chính sách tỷ giá tham chiếu, phát hành TPQT 5 tỷ NDT, dỡ bỏ trần lãi suất tiết kiệm,…Nhờ đó, vào cuối tháng 11/2015, đồng NDT đã chấp thuận vào rổ tiền SDR khi thỏa mãn các điều kiện được đưa ra. Trong khi đó, từ giữa tháng 12/2015, nhà điều hành nước này tiếp tục thay đổi chính sách tỷ giá khi quyết định neo giữ đồng NDT theo một rổ tiền tệ thay vì neo theo USD như trước kia. Tuy vậy, sau động thái mới này, đồng NDT vẫn tiếp tục mất giá, nâng tỷ lệ mất giá trong cả năm 2015 lên mức 4,6%.

4

Chứng khoán thế giới: tiêu cực nhiều hơn tích cực

5

Thị trường chứng khoán thế giới đã kết thúc năm 2015 với những kết quả không thuận lợi. Những sự kiện lớn tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán năm nay có thể kể đến như: (1) sự suy giảm của giá hàng hóa mà đáng kể nhất là giá dầu. Sau khi đã giảm 45% trong năm 2014, giá dầu tiếp tục giảm sâu 30% trong năm 2015, về mức thấp nhất trong vòng 11 năm là $35/thùng; (2) những tín hiệu kém khả quan từ nền kinh tế Trung Quốc cũng như việc PBoC thay đổi chính sách tỷ giá làm đồng NDT mất giá, ảnh hưởng nặng nề đến thị trường tài chính trong Q3/2015; và (3) việc FED nâng lãi suất đã tác động tiêu cực đến dòng vốn vào các thị trường mới nổi và cận biên. Chỉ số MSCI All Country Index trong năm 2015 đã giảm 4,4%.

6

Tại Mỹ, ngoại trừ Nasdaq tăng 5,7% thì cả Dow Jones và S&P 500 đều ghi nhận mức giảm lần lượt 2,2% và 0,7%. Đáng nói, đây là năm giảm điểm đầu tiên của Dow Jones kể từ năm 2008 đến nay. Tại châu Âu, mặc dù trải qua những căng thẳng về địa chính trị, nhưng với tác động từ chính sách nới lỏng tiền tệ của ECB, chứng khoán lục địa già đã có 1 năm tăng trưởng khá tốt với CAC 40 (+8,53%), DAX (+9,56%) và chỉ có FTSE 100 giảm gần 5%.

Chỉ số chứng khoán châu Á nhìn tổng thể cũng không khả quan hơn so với các khu vực khác. Tính chung cả năm 2015, chỉ số MSCI Asia Pacific Index giảm 4,4%, là năm giảm điểm thứ 2 liên tiếp kể từ lần đầu vào năm 2002. Chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc khép lại 1 năm biến động mạnh khi đóng cửa năm tăng 9,4% sau khi sụt giảm 40% vào cuối tháng 8 bởi những đợt bán tháo bắt đầu từ giữa năm. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật và Kospi của Hàn Quốc sau phiên giao dịch cuối cùng ngày 30/12/2015 cũng đã ghi nhận mức tăng lần lượt 9,3% và 2,4% cho năm qua. Ở chiều ngược lại, Hang Seng Index lại giảm 7,2%. Riêng tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là thị trường tăng trưởng tốt nhất xấp xỉ mức 6%. STI (-15%) của Singapore, SET Index (-14%) của Thái Lan và Jakarta Composite Index (-12%) của Indonesia sụt giảm mạnh nhất khu vực.

KINH TẾ VIỆT NAM 2015

Tăng trưởng kinh tế tích cực hơn so với kỳ vọng

Như đã nhận định trong BCCL đầu năm 2015, Môi giới chứng khoán cho rằng cánh cửa phục hồi kinh tế của Việt Nam đang mở rộng nhờ các trụ đỡ chính gồm sản xuất công nghiệp và tiêu dùng. Khép lại một năm, cả nền kinh tế đi đúng hướng nhưng mức độ tăng trưởng tốt hơn so với kỳ vọng ban đầu của chúng tôi. Đối với sản xuất công nghiệp, độ bền tăng trưởng của khu vực này tiếp tục được giữ vững trong năm nay khi các điều kiện kinh doanh trong nước được cải thiện.

Theo Markit, chỉ số quản trị Nhà mua hàng (PMI) của Việt Nam duy trì mức mở rộng (>50 điểm) liên tục trong vòng 2 năm qua trong bối cảnh các nền kinh tế trong khu vực thu hẹp hoạt động. Sự tích cực của khối doanh nghiệp FDI và mặt bằng lãi suất thấp trong năm nay là nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng của hoạt động sản xuất.

7

Trong năm qua, nền kinh tế cũng ghi nhận sự khởi sắc đối với tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Theo TCTK, số lượng doanh nghiệp thành lập cũng như số vốn đăng kí ghi nhận mức tăng trưởng cao, lần lượt đạt 26,6% và 39,1% so với cuối năm 2014. Theo thống kê từ Bloomberg, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNY cũng tăng tốc trong năm qua. Tính tới cuối năm 2015, tỷ lệ này đạt 15,89%, tăng nhẹ so với mức 14,55% của cả năm 2014. Xét ở bình diện rộng hơn của nền kinh tế, điều kiện kinh doanh cải thiện cũng khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư. Trong năm 2015, khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong ba khu vực, lần lượt là 13% và 19,9% so với cùng kỳ. Ngoài ra, doanh nghiệp tự tin hơn trong việc vay vốn tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng phục hồi, tăng trưởng tín dụng cả năm ước đạt 18%, vượt 5% so với kế hoạch.

Đối với trụ cột còn lại của tăng trưởng kinh tế năm nay là tiêu dùng, chúng tôi nhận thấy có sự cải thiện vượt bậc. Hoạt động tiêu dùng được hưởng lợi nhờ yếu tố chính là giá dầu duy trì ở mức thấp, đà sụt giảm mạnh của giá dầu và hàng hóa giúp cho lạm phát cả năm lần đầu tiên trong nhiều năm giảm xuống dưới 1%. Lạm phát thấp tạo điều kiện để niềm tin tiêu dùng gia tăng, từ đó hỗ trợ thêm cho tiêu dùng trong nước. Niềm tin tiêu dùng cuối năm 2015 đạt 144,8 điểm, tăng 9,2 điểm so với cuối năm 2014. Đồng thời, theo khảo sát về điều kiện kinh doanh của Việt Nam và các nước trong khu vực của tổ chức IMA Asia, Việt Nam nằm trong top các nước có điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ tốt nhất trong khu vực.

8

Thương mại Việt Nam yếu đi trước cánh cửa hội nhập ngày càng rộng

Trong năm 2015, Việt Nam ghi nhận mức thâm hụt thương mại xấp xỉ 6 tỷ USD. Nguyên nhân khiến cho cán cân thương mại đảo chiều đến từ sự suy giảm của hoạt động xuất khẩu, mà chủ yếu là đến từ khối doanh nghiệp nội địa. Năm 2014, thâm hụt thương mại của khu vực trong nước chỉ khoảng 8 tỷ USD thì con số này đã tăng lên hơn 2 lần trong năm nay, tương ứng mức thâm hụt hơn 17 tỷ USD. Ngược lại, khối FDI là đầu tàu giữ cho hoạt động xuất khẩu Việt Nam còn tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm của khối các doanh nghiệp FDI đạt ~112 tỷ USD (chiếm 69% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng gần 19% so với cùng kỳ). Thặng dư thương mại mở rộng lên trên 13 tỷ USD, duy trì mức tăng tương đương năm trước (+44% so với cùng kỳ).

9

Tính trọng yếu của khối doanh nghiệp FDI trong hoạt động thương mại củng cố đặc trưng gia công của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi thương mại toàn cầu. Tỷ trọng hàng hóa trung gian và hàng hóa thiết bị (phi tiêu dùng) chiếm hơn 75% cơ cấu nhập khẩu. Ở chiều xuất khẩu, tỷ trọng nguyên liệu thô và chế biến sơ của Việt Nam giảm đi do giá hàng hóa thế giới suy giảm, trong khi đó, tỷ trọng các mặt hàng gia công cho khối FDI tăng so với năm 2014.

Lĩnh vực hàng tiêu dùng vốn là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam có tăng trưởng nhưng không bằng cùng kỳ. Điển hình là giá trị xuất khẩu hàng dệt may chỉ tăng trưởng khoảng 9% trong năm nay. Tất cả những quan sát trên cho thấy cả năm nay, hoạt động xuất khẩu nội địa bị ảnh hưởng tiêu cực bởi xu hướng giá hàng hóa. Nếu không nhờ trụ đỡ của khối FDI, thương mại Việt Nam chắc có lẽ không phải là điểm sáng trong bức tranh thương mại khá xấu của toàn cầu. Qua bức tranh thương mại, tính gia công của nền kinh tế hiển hiện, năng lực chế biến sâu, nâng cao chất lượng để cải thiện giá trị xuất khẩu chưa thực sự rõ nét. Về độ mở rộng của hoạt động thương mại, Việt Nam khai phá khá tốt các thị trường mới ở khu vực Mỹ La Tinh và Châu Âu.

Trong khi đó, tình hình xuất khẩu sang khu vực thường xuyên trao đổi hàng hóa với Việt Nam là các nước châu Á – Thái Bình Dương không khả quan trong cả năm 2015. Thống kê hoạt động xuất khẩu giữa Việt Nam và các đối tác đã, đang và sắp ký kết các hiệp định thương mại chưa cho thấy tín hiệu tích cực. Cụ thể, năm 2015, tăng trưởng xuất khẩu sang khối TPP ước đạt hơn 7%, khối EU đạt ~11%, cộng đồng AEC đạt ~4%, đều giảm so với tốc độ tăng của năm trước. Xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng cao (hơn 25%) song thâm hụt thương mại của Việt Nam với nước này tăng mạnh từ 13 tỷ USD lên gần 18 tỷ USD trong năm 2015.

10

Năm 2015 đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng về quan hệ ngoại thương của Việt Nam khi hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc và cộng đồng kinh tế AEC bắt đầu có hiệu lực. Quan trọng hơn là tiến trình đàm phán TPP đi đến hồi kết vào tháng 10/2015, các nước đã đưa ra tuyên bố chung và mang lại nhiều hứng khởi cho các chủ thể trong nền kinh tế. Dù hiệp định TPP còn lâu nữa mới có hiệu lực nhưng chúng tôi cho rằng hiệu ứng kinh tế mà hiệp định này mang lại đã đi vào nền kinh tế thông qua sự cải thiện của dòng vốn FDI và tốc độ tăng trưởng của hoạt động sản xuất trong năm vừa qua. Có thể nói, niềm tin và hy vọng mà TPP mang lại đang được ươm mầm trên mảnh đất còn cằn cỗi và cần cải tạo rất nhiều của Việt Nam.

Bất ổn trong điều hành tỷ giá do cú sốc bên ngoài

Yếu tố tỷ giá vốn được nhiều quốc gia sử dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu cũng được NHNN Việt Nam (SBV) vận dụng trong năm vừa qua. Sau hai lần phá giá mang tính chủ động đầu năm và giữa năm 2015, SBV đối mặt với thách thức điều hành khi Trung Quốc thay đổi chính sách tỷ giá. Điều này cũng dễ hiểu bởi Trung Quốc là đối tác có tỷ trọng thương mại chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Tính chung cả năm, đồng Việt Nam mất giá khoảng 5,1%, tương đương mức giảm giá của đồng NDT. Yếu tố bất ngờ từ Trung Quốc khiến chúng tôi phải nhìn nhận thêm về chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam dưới tác động của quốc tế. Nhìn chung, đối với hoạt động thương mại, kết quả điều hành tỷ giá trong năm qua giúp hạn chế nguy cơ phình ra của thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Dù vậy, sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam có thể đã giảm so với một số nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan, nơi đồng bản tệ của các nước này mất giá mạnh trong năm 2015. Cam kết không phá giá thêm nữa tiền đồng từ sau đợt điều chỉnh vào tháng 08/2015 khiến SBV phải chịu tổn thất đối với tài khoản dự trữ ngoại hối. Theo ước tính của chúng tôi, SBV ít nhất đã dùng hơn 10 tỷ USD để ổn định tỷ giá trong nửa sau năm 2015, đưa cân đối vĩ mô là dự trữ ngoại hối về lại tình trạng bấp bênh.

11

Tái cấu trúc nền kinh tế đạt được bước nhảy về “lượng”

Trong phần triển vọng vĩ mô của Báo cáo Thị trường chứng khoán năm 2015, chúng tôi đã đưa ra một lời kết rằng nền kinh tế có thể sẽ ghi nhận những cột mốc quan trọng về “lượng” của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế trong năm 2015. Thực tế cho thấy nhiều chỉ tiêu về “lượng” đã đạt được trong năm qua.

Ngành ngân hàng đạt được kết quả đáng khích lệ trong công tác xử lý nợ xấu và tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém. Đến cuối năm 2015, SBV đã đạt được mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới mức 3% (số liệu mới nhất cuối tháng 11/2015 là 2,72%). Trong 11 tháng của năm 2015, VAMC đã mua được 98.000 tỷ đồng nợ xấu, nâng tổng số nợ mua được lên 227.000 tỷ đồng với giá trị mua qua phát hành trái phiếu đặc biệt là 199.000 tỷ đồng.

Theo NHNN, tổng số nợ xấu được xử lý từ năm 2012 đến nay khoảng 463.000 tỷ đồng, đồng nghĩa với việc xử lý gần như toàn bộ số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 09/2012. Đối với các ngân hàng yếu kém, NHNN đã đứng ra mua lại 3 NHTMCP với giá 0 đồng (NH Xây dựng, NH Đại Dương và NH Dầu khí toàn cầu). Đồng thời, 4 thương vụ sáp nhập cũng được thực hiện trong năm qua (gồm NH Phát triển Nhà ĐBSCL (MHB) và BIDV (BID), NH Xăng dầu Petrolimex (PGBank) sáp nhập vào VietinBank (CTG), NH Phát triển MêKông (MDB) vào MaritimeBank (MSB) và SouthernBank (PNB) vào Sacombank (STB)).

Song song với hoạt động tái cấu trúc, chúng tôi nhận thấy SBV thực hiện khá tốt đối với công tác đảm bảo thanh khoản hệ thống, bơm-hút vốn đều đặn đồng thời sử dụng triệt để các biện pháp hành chính trong những thời điểm thị trường tiền tệ biến động (chủ yếu do biến động tỷ giá). Như vậy, mục tiêu về “lượng” cơ bản đạt được đối với lĩnh vực ngân hàng, xương sống trong hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, về “chất” thì những khoản nợ xấu đã được VAMC vẫn chưa tìm được đầu ra khả dĩ và đội ngũ lãnh đạo sau tái cấu trúc chưa tạo được nhiều chuyển biến tích cực trong kinh doanh. Cả năm 2015, VAMC đã xử lý khoảng 17.000 tỷ đồng nợ xấu (tương đương 7,7% tổng số nợ xấu đã mua). Hệ thống NHTM vẫn nặng gánh đối với trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu, ăn dần vào lợi nhuận khiến cho hiệu quả kinh doanh chung khó cải thiện.

12

Trong năm nay, hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đạt được kết quả khả quan về “lượng” nhưng chúng tôi đánh giá rằng khu vực này bước đi còn chậm và chưa thực chất trong tiến trình tái cơ cấu của nền kinh tế. Theo Chính phủ, tính đến ngày 10/11/2015, cả nước đã sắp xếp được 471 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa được 408 doanh nghiệp (bằng 79,37% tổng số doanh nghiệp phải cổ phần hóa theo kế hoạch 2011 - 2015). Theo ước tính sơ bộ, trong trường hợp đẩy nhanh tiến độ thì năm 2015 sẽ cổ phần hóa được 210 doanh nghiệp, đưa kết quả cổ phần hóa tiệm cận mục tiêu cổ phần hóa giai đoạn 2011- 2015.

Hoạt động thoái vốn của DNNN tương đối hiệu quả với giá trị thu về đạt xấp xỉ 14.000 tỷ đồng, gấp 1,5 lần giá trị sổ sách. Trong đó, thu hồi từ bán vốn đầu tư ngoài ngành (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản) không tốt bằng bán vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ. Hoạt động IPO là chậm nhất và kém hiệu quả nhất khi chỉ bán được 38% tổng số cổ phần chào bán, số doanh nghiệp có tỷ lệ chào bán cổ phần thành công (>90%) chỉ là 55/93 doanh nghiệp. Nhìn chung, chúng tôi cho rằng lộ trình tái cấu trúc DNNN trong năm 2015 vấp phải một số vấn đề sau: (1) Sức ỳ trong cải cách còn lớn khiến cho quá trình cổ phần hóa diễn ra chậm; (2) Chất lượng và hiệu quả kinh doanh của các DNNN được cơ cấu lại là không đồng đều hạn chế sức hút từ quá trình tái cấu trúc đối với các NĐT, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài; (3) Khó khăn liên quan đến vấn đề pháp lý và tính công khai minh bạch của DNNN đang cản trở sự thay đổi về “chất”.

13

Mặt trận tái cấu trúc đầu tư công không thu hút sự quan tâm của dư luận nhưng là lĩnh vực chúng tôi nhận thấy hiệu quả rõ nét. Trong năm 2015, tỷ lệ đầu tư/GDP ước đạt 30,5%, giảm so với mức 31% của năm 2014. Trong đó, vốn từ ngân sách đạt hơn 220 nghìn tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ. Mục tiêu giảm tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực công đạt được trong năm qua, với tỷ trọng vốn nhà nước trong tổng cơ cấu đầu tư giảm còn 38% so với mức 40% của năm 2014. Những lĩnh vực mũi nhọn của hoạt động đầu tư Nhà nước trong năm 2015 là giao thông vận tải (+19% so với cùng kỳ), Y tế (+63,5%) và Giáo dục và đào tạo (+25,1%). Thể chế đầu tư có chuyển biến trong năm vừa qua nhờ các luật sửa đổi gồm Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật đấu thầu, Nghị định đầu tư theo hình thức đối tác công tư… Ví dụ điển hình về cải cách trong hoạt động đầu tư công là lĩnh vực giao thông. Trong năm 2015, tổng vốn giải ngân ước khoảng 80.437,3 tỷ đồng, trong đó 9% vốn từ NSNN, 39% vốn từ TPCP và còn lại khoảng 52% vốn ngoài ngân sách. Về cơ bản, công tác đầu tư công chắc chắn vẫn còn những lãng phí, kém hiệu quả nhưng chúng tôi lạc quan rằng hiệu quả đầu tư đã có chuyển biến tích cực so với trước đây.

Ngân sách nỗ lực để giảm bội chi, kiềm hãm đà tăng của nợ công

Trong năm vừa qua, hoạt động huy động vốn của Chính phủ gặp nhiều khó khăn do thay đổi phương thức về kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ trong khi tín dụng khu vực tư nhân phục hồi. Tính cả năm 2015, tổng khối lượng trái phiếu chính phủ đạt hơn 197.745 tỷ đồng, đạt 80% kế hoạch năm. Việc huy động vốn nhà nước gặp những thời điểm khó khăn vào tháng 5 và tháng 9 khi tỷ lệ trúng thầu rớt về mức thấp, chưa đến 20%. Tuy nhiên, nhà điều hành đã điều chỉnh chính sách để huy động vốn qua kênh trái phiếu dễ thở hơn. So với đầu năm, lãi suất trái phiếu chính phủ tăng ở hầu hết các kỳ hạn với mức tăng từ 0,5-1%, trong đó mức tăng cao nhất thuộc về kỳ hạn 3 năm.

Trong bối cảnh chi phí đi vay tăng trở lại, Chính phủ đã tìm cách để đẩy mạnh thu thông qua tăng các khoản thuế, phí và lệ phí. Tính đến 15/12/2015, thu ngân sách nhà nước đạt 884,8 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ. Trong đó, các khoản thu thuế môi trường, tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ đều vượt dự toán từ 30-80%. Ở chiều ngược lại, hoạt động chi NSNN năm 2015 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, đạt 10% so với cùng kỳ. Đáng lưu ý, khoản chi trả nợ và viện trợ tăng mạnh với mức tăng ~24%. Tính đến ngày 15/12/2015, lũy kế thâm hụt NSNN đạt 179.700 tỷ đồng và chỉ tương đương với 80% dự toán năm nay. Bằng nhiều biện pháp, bội chi năm 2015 nằm trong tầm kiểm soát giúp cho nợ công được kiềm chế ở ngưỡng an toàn. Dù vậy, rủi ro nợ công tăng cao đã được cảnh báo nhiều lần trong năm 2015 và sắp tới cũng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

14

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NĂM 2015: GẬP GHỀNH TĂNG TRƯỞNG

Diễn biến thị trường trong năm 2015

Thị trường chứng khoán Việt Nam 2015 kết thúc với VNIndex tăng khoảng 6% trong khi HNIndex giảm 3,5%. Trung bình thanh khoản năm nay trên cả 2 sàn chỉ đạt khoảng 2.500 tỷ đồng, sụt giảm 19,2% so với năm 2014 bởi dòng vốn tín dụng vào TTCK đã bị hạn chế do TT36/2014/TT-NHNN. Vốn hóa toàn thị trường ghi nhận ở mức 58 tỷ USD, tăng 14,35% so với cùng kỳ 2014. Thị trường chứng khoán năm 2015, lấy VNIndex làm đại diện đã trải qua 3 sóng tăng và 3 sóng giảm rõ ràng.

15

Về các chính sách định hướng phát triển cho TTCK Việt Nam trong năm qua, đáng chú ý là Nghị định 60/2015/NĐ-CP về quyết định mở room không hạn chế cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các doanh nghiệp đại chúng không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện và thông tư 203/2015/TT-BTC về hướng dẫn giao dịch trên thị trường chứng khoán. Mặc dù còn một số hạn chế nhưng những chính sách như vậy có thể giúp cho thị trường Việt Nam tiến một bước dài hơn trong việc được xét nâng hạng lên thị trường mới nổi theo các tiêu chí của MSCI.

16

Năm 2015, thị trường chứng khoán chịu nhiều tác động từ bên ngoài, cụ thể 2 yếu tố tác động mạnh nhất là sự sụt giảm của giá dầu và biến động mạnh của tỷ giá. Nhà đầu tư nước ngoài cũng với những động thái bán ròng mạnh vào tháng Ba, tháng Tám và tháng Mười Hai cũng gây áp lực tâm lý lên nhà đầu tư trong nước. Đây là hoạt động cơ cấu vốn của thị trường tài chính toàn cầu chứ không riêng gì tại Việt Nam.

Mặc dù vậy, theo Chúng tôi , so với các thị trường trong khu vực, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn tỏ ra hấp dẫn hơn thể hiện qua (1) P/E của thị trường năm 2015 ở mức 11,8x, thấp hơn rất nhiều so với mức 16x của các thị trường chứng khoán trong khu vực, (2) thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường duy nhất ghi nhận chỉ số Sharpe (*) dương và (3) là số ít thị trường hút ròng dòng vốn đầu tư gián tiếp

17

Xét riêng dòng vốn đầu tư vào cổ phiếu, năm 2015 nhà đầu tư nước ngoài đã rót ròng khoảng 3.000 tỷ đồng vào thị trường, sụt giảm khoảng 5,5% so với năm 2014. Dòng vốn ngoại mang tính chất khá chọn lọc, tập trung ở 3 nhóm chính là nhóm ngân hàng (khoảng 3.100 tỷ đồng), nhóm dịch vụ tài chính (khoảng 1.900 tỷ đồng) và nhóm xây dựng, vật liệu xây dựng (khoảng 1.000 tỷ đồng).

Xét về 2 quỹ ETF, giao dịch của 2 quỹ này cũng gây khá nhiều bất ngờ cho nhà đầu tư từ việc “mua nhầm” BID, không thêm HHS vào rổ (mặc dù các CTCK Việt Nam đều dự báo HHS đầy đủ tiêu chuẩn thêm vào rổ FTSE ETF). Ngoài ra, một điểm khá thú vị nữa đó là trong kỳ review cuối năm 2015, VNM ETF đã nâng tỷ trọng cổ phiếu Việt Nam trong rổ từ 77,5% lên 82%.

Đánh giá chung, tỷ lệ tham gia của dòng vốn ngoại vẫn duy trì ở mức 8-15%/phiên và dòng tiền cũng khá chọn lọc, tập trung cao ở vài nhóm ngành, thậm chí vài nhóm cổ phiếu. Theo chúng tôi thống kê, có khoảng 94% số doanh nghiệp trên sàn vẫn còn hở room nhưng chỉ có 10% trong số này hiện đang trong tình trạng kín room.

18

Xu hướng KQKD của các DN niêm yết trong năm 2015: lợi nhuận vẫn tăng trưởng tốt nhờ cải thiện biên lợi nhuận gộp và lợi nhuận đột biến tại một số DN lớn nhưng tốc độ tăng trưởng doanh thu đang chậm lại.

Tổng kết KQKD của các DN phi tài chính (loại trừ ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và chỉ tập hợp dữ liệu các doanh nghiệp có đầy đủ dữ liệu KQKD 9T từ năm 2011-2015), cho thấy doanh thu của các DN này chỉ tăng trưởng 6,2%, gần như chỉ bằng một nửa tốc độ tăng trưởng của năm 2014. Nguyên nhân chính đến từ các “đầu tàu kinh tế” trên sàn chứng khoán bị tụt giảm nghiêm trọng (xem hình dưới).

19

Tuy nhiên, lợi nhuận của các DN niêm yết vẫn tăng trưởng khá ấn tượng (với LNTT tăng 28% so với cùng kỳ 9T2014) nhờ (1) lợi nhuận đột biến tại một số doanh nghiệp lớn (KDC, MSN) và cải thiện biên lợi nhuận gộp từ xu hướng giảm mạnh của giá hàng hóa thế giới, tiêu biểu như VNM. Trong đó, KDC ghi nhận lợi nhuận đột biến từ việc bán mảng bánh kẹo và MSN ghi nhận lợi nhuận gộp tăng trưởng mạnh 44% so với cùng kỳ do hợp nhất kết quả kinh doanh từ mảng kinh doanh đạm động vật (Proconco và Anco). Biên lợi nhuận gộp cải thiện hơn 1 điểm phần trăm nên lợi nhuận gộp của các DN này đã tăng trưởng 14,1% trong 9T2015. Do đó, LNTT cũng tăng trưởng 14,5% (sau khi đã loại trừ tác động của lợi nhuận đột biến tại KDC).

20

TRIỂN VỌNG TTCK THÁNG MỘT

Ngay cả sau khi quyết định tăng lãi suất của FED được công bố, TTCK tháng Mười Hai không có nhiều sự đột phá và vẫn nằm trong xu thế chung của các tháng trước đó khi phần lớn các cổ phiếu luôn chực chờ đảo chiều và các chỉ số hầu như chỉ đi ngang. Đúng như dự đoán của chúng tôi, dòng tiền từ khối ngoại hiện vẫn khá hờ hững với TTCK Việt Nam và việc thanh khoản suy yếu về cuối tháng là dấu hiệu cho thấy sự kiên nhẫn của các nhà đầu tư trong nước cũng đang cạn dần. Tính chung cả tháng, thanh khoản trên hai sàn giao dịch giảm 20,9% trong khi khối ngoại tiếp tục bán ròng 2.058 tỷ đồng. Trái với nhiều dự báo về một mức tăng lạc quan 10- 15%, VNIndex kết thúc cả năm chỉ tăng 6% trong khi có đến 2/3 các nhóm ngành ghi nhận mức tăng giá dương trong cả năm.

Với tiền đề là một năm 2014 vượt xa mong đợi, sự xuất hiện của một bức tranh vĩ mô với nhiều điểm sáng tối đan xen là nguyên nhân chính khiến các chỉ số không thể thoát khỏi xu hướng đi ngang trong suốt một năm qua. Nếu như giai đoạn 2013-2014, khi thị trường tăng trưởng trên diện rộng, dòng tiền dễ bỏ qua những cổ phiếu giá trị nhưng có thanh khoản kém và ít biến động thì trong không gian “chập choạng” của năm 2015, dòng tiền đã có sự phân hóa mạnh mẽ giữa các nhóm ngành và cổ phiếu. Trong đó, những câu chuyện lợi nhuận bất thường, phát hành tăng vốn để đầu tư dự án… đã không thể đưa nhiều cổ phiếu “nóng” đi xa. Ngược lại đà tăng giá chỉ thực sự bền vững ở những cổ phiếu ít biến động theo thị trường và gần như chưa tăng giá trong thời gian dài như CTD, BMP, KSB, VSC, GMD… Mặt khác, các thống kê về KQKD cũng cho thấy những cổ phiếu có mức tăng giá đáng kể trong năm 2015 đều được hỗ trợ bởi sự tăng trưởng tích cực về doanh thu và lợi nhuận, trong đó, nhóm cổ phiếu ngành ô tô, vận tải, xây dựng và VLXD là những điển hình sinh động.

Chúng tôi tin rằng những xu hướng trên đây sẽ tiếp tục chi phối sự vận động của TTCK trong năm 2016. Theo hướng tiếp cận “từ trên xuống”, tăng trưởng kinh tế và cơ hội từ hiệp định thương mại như TPP và FTA sẽ đem lại cho những nhà đầu tư theo trường phái tăng trưởng nhiều lựa chọn hơn khi tập trung vào các ngành dịch vụ phục vụ trực tiếp cho quá trình phát triển hạ tầng (cứng, mềm) như xây dựng, xây lắp theo dự án, công nghệ, tiện ích công cộng, kho vận – logistics… Trong xu hướng đó, những doanh nghiệp đầu ngành và có nền tảng cơ bản tốt sẽ tiếp tục được hưởng lợi. Song song với đó, chiến lược đầu tư “ngược xu thế” dành cho những nhà đầu tư giá trị với khả năng chịu đựng rủi ro cao và khung thời gian đầu tư dài vẫn có thể áp dụng được đối với những nhóm ngành đang ở đáy của chu kỳ kinh doanh như dầu khí và nguyên liệu cơ bản.

Vùng điểm dự báo trong tháng Một đối với VNIndex là 555 - 580 và HNIndex là 78-80. Chúng tôi cho rằng tháng Một là giai đoạn mà thị trường sẽ có sự phân hóa rõ giữa các cổ phiếu có yếu tố cơ bản hỗ trợ và những cổ phiếu có triển vọng kinh doanh chưa rõ ràng. Hay nói cách khác, những cổ phiếu đang trong xu hướng tăng sẽ tiếp tục tăng giá và bứt khỏi mặt bằng chung. Do vậy, chúng tôi tin rằng chọn lọc cổ phiếu trong giai đoạn này vẫn quan trọng hơn là dự báo xu thế thị trường. Chúng tôi duy trì các khuyến nghị về ngành và danh mục cổ phiếu gợi ý được trình bày sơ bộ trong Báo cáo Chiến lược tháng 12/2015. Các phân tích và khuyến nghị cụ thể hơn sẽ được chúng tôi gởi đến quý nhà đầu tư trong báo cáo Thị trường chứng khoán năm 2016 sẽ được phát hành trong Quý 1/2016

Diễn biến các nhóm ngành năm 2015 cho thấy sự phân hóa sâu sắc

Năm 2015 có thể nói là một năm “khó” đối với nhà đầu tư trên TTCK theo nghĩa là các chiến lược đầu tư được áp dụng trong những năm trước hầu như đều không thể phát huy tác dụng một cách rõ nét trong khi sự phân hóa diễn ra mạnh mẽ không chỉ ở cấp độ ngành mà còn ở từng cổ phiếu trong mỗi nhóm ngành. Theo thống kê của Môi giới chứng khoán  đối với 33 ngành nghề khác nhau, có 23 ngành có chỉ số giá tăng trưởng dương trong năm 2015, trong đó có 18 ngành đạt mức tăng trên 10%. Chỉ có 10 ngành có tăng trưởng giá âm trong năm vừa rồi.

Những ngành có diễn biến giá vượt trội và tương đối bền vững trong năm 2015 bao gồm: (1) xây dựng & VLXD, (2) bán lẻ ô tô, (3) bảo hiểm phi nhân thọ, (4) vận tải, (5) ngân hàng; tiếp đến là (6) dịch vụ hỗ trợ, (7) viễn thông, (8) phần mềm, (9) vật dụng cá nhân, (10) bán lẻ, (11) BĐS. Như vậy, tính chung cả năm, có đến 10/12 nhóm ngành được " Môi giới chứng khoán tốt nhất "  đánh giá tích cực từ đầu năm (trừ đồ uống và xe hơi & phụ tùng) đã ghi nhận mức tăng giá khả quan. Ở chiều ngược lại, dầu khí, xe hơi & phụ tùng, dược phẩm, thiết bị y tế, đồ uống, kim loại công nghiệp là những ngành có biến động tiêu cực trong suốt năm 2015.

21

22

23

24

Nhìn lại diễn biến giá của các nhóm ngành năm qua, chúng tôi nhận ra hai xu hướng chủ đạo. Trong xu hướng thứ nhất, những kỳ vọng lớn vào chính sách như nới room, thoái vốn của Nhà Nước, các văn bản pháp lý hỗ trợ ngành vv... là động lực tăng trưởng của “bộ ba” ngân hàng, bảo hiểm và BĐS khi mà KQKD của các doanh nghiệp trong ngành, kể cả những doanh nghiệp lớn có hiệu quả hoạt động tốt như VIC, VCB, BID, MBB vẫn chưa thực sự bứt phá. Tương tự, cú sốc tỷ giá đã ảnh hưởng đến sản lượng và kéo theo là doanh thu của các công ty dệt may (ngành vật dụng cá nhân) và thủy sản (ngành thực phẩm) xuất khẩu như HVG, VHC, TCM, STK và FMC dù kỳ vọng về TPP cũng đã tạo được không ít sự hứng khởi cho dòng cổ phiếu này trong nửa sau của năm 2015.

Trong xu hướng thứ hai, diễn biến giá của các ngành kinh doanh ô tô, xây dựng & VLXD, vận tải, dịch vụ hỗ trợ, bán lẻ… phản ánh khá trung thực mức tăng trưởng nổi trội về KQKD của các ngành này. Như một quy luật, các cổ phiếu giá trị thường ghi nhận mức tăng vượt trội trong những năm thị trường vận động kém tích cực. Trong nhóm này, CTD, NCT, GMD, VSC, KSB, BMP, NTP là những cổ phiếu đạt được mức tăng tốt trong cả năm nhờ “công thức vàng” (1) tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận tích cực khi ngành bước vào chu kỳ kinh doanh, (2) doanh nghiệp có vị thế đầu ngành, (3) định giá cổ phiếu tương đối thấp trong thời gian dài, (4) tỷ lệ cổ phiếu tự do lưu hành không cao. Chúng tôi tin rằng khi các ngành nói trên bước sang giai đoạn tăng trưởng nhanh, triển vọng kinh doanh cũng như diễn biến giá của nhóm cổ phiếu này sẽ tiếp tục duy trì tích cực trong năm 2016.

Tính đến thời điểm hiện tại, trong số 36 cổ phiếu được Chúng tôi  khuyến nghị trong năm 2015, có 24 cổ phiếu đã tăng giá từ thời điểm chúng tôi đưa ra khuyến nghị; trong số đó, có 11 cổ phiếu có mức tăng cao hơn 20% từ thời điểm khuyến nghị, chủ yếu vẫn thuộc các ngành: bán lẻ ô tô, VLXD và vận tải. Dưới đây là bảng tóm tắt diễn biến của những cổ phiếu đạt hiệu quả khuyến nghị cao trong năm qua.

25

26

CHỈ SỐ VĨ MÔ THÁNG 12

30

31

CHỈ SỐ CÁC NHÓM NGÀNH

32

34

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hotline