Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 09/2015

Được đăng vào 07-09-2015

Chiến lược đầu tư tháng 09/2015

Chỉ trong hai tuần cuối tháng Tám, TTCK Việt Nam đã trải qua những thời điểm vô cùng biến động với những phiên giảm bất ngờ và mạnh mẽ không kém giai đoạn khủng hoảng giá dầu năm 2014. Sự kiện Trung Quốc phá giá đồng CNY và những tin đồn được giới đầu cơ “xáo lại” đã đẩy thị trường giảm sâu. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, TTCK chịu sức ép lớn từ hàng loạt các thông tin tiêu cực về kinh tế toàn cầu vốn đang ảnh hưởng đến tâm lý NĐTNN và kích thích mạnh mẽ hoạt động rút vốn ở hai quỹ ETF của Van Eck và FTSE.

Những quan ngại lớn của khối ngoại về bức tranh vĩ mô hiện tại, bao gồm: (1) kịch bản FED tăng lãi suất trong tháng Chín, (2) TPP không thể kết thúc trong năm nay và (3) sự ổn định của kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc giảm tốc. Giá trị bán ròng lớn ở nhóm cổ phiếu nông nghiệp, cho thấy NĐTNN đang giữ cái nhìn bi quan về thị trường hàng hóa thế giới và đặt cược nhiều vào khả năng FED tăng lãi suất và đồng USD mạnh lên trong năm nay

Đối với nhà đầu tư trong nước, ngoài những quan ngại chung tương đồng với NDTNN, họ còn chịu ảnh hưởng bởi động thái bán ròng của khối ngoại trong thời gian gần đây

Chúng tôi cho rằng, với những cú sốc như trong tháng Tám, thị trường luôn cần thời gian để lấy lại sự bình tĩnh. Do vậy, TTCK sẽ khó định hình ngay một xu hướng rõ ràng trong tháng Chín, ít nhất là trước ngày 18/09, thời điểm mà các ETF sẽ kết thúc đợt review định kỳ và FED sẽ có quyết định chính thức về việc nâng lãi suất. Với sự chuẩn bị tâm lý khá lâu cho các diễn biến này của giới đầu tư, mức độ ảnh hưởng của thông tin được công bố có thể không kéo dài quá 2-3 phiên. Chúng tôi cho rằng xu hướng sau ngày 18/09 của thị trường sẽ tùy thuộc vào diễn biến trước đó và theo hướng ngược lại, hay nói cách khác, sự điều chỉnh không đủ lớn sẽ không hứa hẹn một sự phục hồi mạnh mẽ. Chúng tôi kỳ vọng rằng, sau khi quyết định của Fed được đưa ra (dù theo hướng nào), NHNN cũng sẽ cân nhắc các diễn biến sau đó để gửi thông điệp về chính sách điều hành tỷ giá ít nhất từ nay đến cuối năm đến giới đầu tư. Tổng hòa các yếu tố này, theo chúng tôi, có ý nghĩa tâm lý quan trọng đồng thời giảm bớt “rủi ro bất định” giúp nhà đầu tư mạnh dạn hơn với quyết định đầu tư. Thanh khoản cải thiện sẽ là những tín hiệu cần quan sát trong giai đoạn này

Trước khi tất cả những điều trên xảy ra, sẽ khó có nhóm cổ phiếu nào đủ sức dẫn dắt thị trường và các chỉ số sẽ phải dừng chân trước những ngưỡng kháng cự và hỗ trợ quan trọng. Trong đó, chúng tôi lo ngại nhóm cổ phiếu blue-chips và vốn hóa lớn sẽ là những đối tượng dễ tổn thương trước biến động về vĩ mô và chuyển động của dòng vốn ngoại, nhất là giao dịch của các quỹ ETF. Một trong những đối trọng hiếm hoi có khả năng làm đảo chiều xu thế bán ròng của khối ngoại được chờ đợi trong ngắn hạn là việc Bộ KH-ĐT có thể sớm ban hành danh sách ngành nghề được nới room lên 100%.

Vùng điểm dự báo trong tháng này với VNIndex là 537 - 578 và HNIndex là từ 74 - 78. Với những lúc thị trường chững lại như giai đoạn này, chúng tôi cho rằng nhà đầu tư nên trở lại với cái nhìn 3-4 tháng như những gì chúng tôi đã từng khuyến nghị trong Báo cáo chiến lược tháng Năm. Chúng tôi cho rằng, cơ hội sẽ xuất hiện ở những cổ phiếu mà thị trường đã trừ điểm quá nhiều cho những ảnh hưởng khách quan bất lợi mà doanh nghiệp hứng chịu. Cụ thể một số đánh giá ngành điển hình sẽ được phân tích sâu trong nội dung bên dưới.

KINH TẾ THẾ GIỚI

Nhóm nước phát triển dẫn dắt trong khi nhóm nước đang phát triển đi chậm lại

Trong tháng vừa qua, các nền kinh tế lớn trên thế giới lần lượt công bố số liệu về tăng trưởng GDP Q2/2015. Nhìn chung, sự phân hóa rõ nét về tăng trưởng kinh tế hiện đang hiện hữu giữa hai nhóm nước phát triển và đang phát triển. Ở nhóm nước phát triển, sự phục hồi rõ nét được ghi nhận tại nền kinh tế Mỹ và Anh, với tăng trưởng GDP trong Q2/2015 đạt lần lượt 3,7% và 0,7%. Trong bối cảnh đó, một vài sự phục hồi nhỏ cũng được ghi nhận tại khu vực EU, minh chứng qua số liệu về tăng trưởng kinh tế cũng như thị trường việc làm. Tốc độ tăng trưởng của khu vực này đạt 0,3% trong GDP Q2/2015 song song với đó là sự cải thiện của tỷ lệ thất nghiệp, đạt 10,9% - mức thấp nhất kể từ năm 2012.

1

Trong khi đó, tại nhóm các nền kinh tế đang phát triển (BRICs), diễn biến tăng trưởng kinh tế lại diễn ra khá trái chiều với sự chững lại của nhiều nền kinh tế, trừ Ấn Độ. Trong nửa đầu năm 2015, Ấn Độ đã khẳng định vị thế của mình trên bản đồ kinh tế toàn cầu với mức tăng trưởng 7%. Theo dự báo của Morgan Stanley, tăng trưởng GDP năm 2015 của Ấn Độ ước đạt 7,5%, vượt qua con số dự báo cho tăng trưởng năm nay 6,6% của Trung Quốc. Theo nhận định của IMF, tình trạng suy giảm đà tăng trưởng của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đà tăng trưởng kinh tế tại nhiều nền kinh tế mới nổi, đồng thời, khu vực này còn phải đối mặt với nhiều rủi ro khi tình trạng dòng vốn đổ vào thị trường ít hơn, lãi suất cao hơn và biến động thị trường tài chính nếu Fed nâng lãi suất.

Trong báo cáo vào tháng 07/2015, IMF đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu xuống còn 3,3% và dự kiến sẽ tiếp tục điều chỉnh giảm trong kỳ báo cáo vào tháng 10 sắp tới. Mới đây, Morgan Stanley cũng đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2015 xuống còn 3,1% và 3,4% trong năm 2016, giảm lần lượt 30 điểm phần trăm và 50 điểm phần trăm so với dự báo hồi tháng 07 của tổ chức này.

2

Làn sóng nới lỏng tiền tệ tiếp tục lan rộng

3

Sự phân hóa về mặt tăng trưởng của các nền kinh tế cũng dần đến sự khác biệt trong định hướng chính sách của các NHTW. Trong nhóm các nước phát triển, theo nhiều dự báo, Cục dữ trữ liên bang Mỹ (FED) và NHTW Anh (BOE) sẽ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ trong thời gian tới. Ngược lại, NHTW của Nhật Bản (BOJ) và ECB sẽ tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ hiện nay của mình. Vào đầu tháng 09, ECB tuyên bố tiếp tục duy trì chính sách lãi suất thấp kỉ lục (0,05%) và đưa ra nhiều ẩn ý sẽ mở rộng chương trình mua tài sản tới Q3/2016.

Trong bối cảnh đó, đại bộ phận các NHTW thuộc khu vực các nền kinh tế mới nổi đều đang duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ. Từ cuối năm 2014 đến nay, PBoC đã thực hiện 5 lần cắt giảm lãi suất cho vay và 4 lần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm hỗ trợ cho tăng trưởng đang đi xuống. Mới đây, PBoC tiếp tục thực hiện kích thích kinh tế thông qua cắt giảm lãi suất cho vay xuống còn mức 4,6% - mức thấp nhất 10 năm qua. Cùng chung xu hướng này, các nền kinh tế còn lại như Nga, Indonexia, Thổ Nhĩ Kỳ,…đều đang thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ. Ngược lại, Brazil lại trở thành câu chuyện ngoài lề khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lại lạm phát cao ở quốc gia này.

4

Hiện nay, vấn đề đang được nhiều người quan tâm nhất là khả năng FED nâng lãi suất sẽ được quyết định trong cuộc họp thị trường mở FOMC (16-17/09). Sự suy yếu của nền kinh tế Trung Quốc gần đây khiến cho hai quan ngại của các nhà làm chính sách Mỹ gia tăng: (1) giá hàng hóa giảm sẽ ảnh hưởng tới mục tiêu lạm phát của Mỹ; (2) Triển vọng kinh tế toàn cầu có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự hồi phục của nền kinh tế Mỹ. Dựa trên các quan điểm của các thành viên có quyền biểu quyết trong FOMC và các lập luận về điều chỉnh chính sách tỷ giá sắp tới, chúng tôi cho rằng Fed sẽ rất thận trọng đối với quyết định tăng lãi suất, trong trường hợp nếu thực sự Fed nâng lãi suất thì mức tăng cũng sẽ rất khiêm tốn và không khác biệt nhiều so với trước đây.

Lập luận để Fed tăng lãi suất

Lãi suất Mỹ đã ở tình trạng 0% một thời gian dài (gần 6 năm). Kéo dài tình trạng lãi suất trên có thể dẫn đến những rủi ro khó lường trên thị trường tài chính.

• Thị trường lao động Mỹ đã phục hồi tích cực trong khoảng thời gian qua. Tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 5,1% và tăng trưởng kinh tế Mỹ trong quý 2 vừa qua đạt 3,7%. Nền kinh tế Mỹ đã đạt được mức toàn dụng về lao động

• Lương trung bình theo giờ tại Mỹ tăng 0,3% trong tháng 8/2015, so với cùng kỳ chỉ tăng 2,5%.

Lập luận để Fed không tăng lãi suất

Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc và các nền kinh tế đang phát triển sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại Mỹ.

• Triển vọng giá hàng hóa tiếp tục suy giảm có thể là nguyên nhân ảnh hưởng đến lạm phát kỳ vọng tại Mỹ. Lạm phát lõi hiện đang ở mức 1,2%, thấp hơn mức mục tiêu 2% của Fed.

• Theo tính toán của Goldman Sachs, một cú sốc giảm 10% trên thị trường chứng khoán có thể khiến cho mức tăng lãi suất của Mỹ giảm 0,15%. Chỉ số S&P 500 đã giảm 9% kể từ sau quyết định thay đổi chính sách của PBoC.

Những rủi ro đang hiện hữu trên kinh tế toàn cầu

Với việc vận hành không hề êm ả, những rủi ro không lường trước có thể khiến cho hoạt động của nền kinh tế toàn cầu chững lại. Những điều không tích cực đã dần bộc lộ, tuy nhiên, vẫn còn đó khả năng rủi ro tăng cao hơn nếu: (1) Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tồi tệ hơn hiện tại; (2) FED sẽ nâng lãi suất sớm hơn và với mức tăng cao hơn; và (3) Sự đình trệ của nhóm các nền kinh tế mới nổi.

Hiện tại, việc vận hành của nền kinh tế Trung Quốc vẫn là ẩn số và mang nhiều rủi ro đến kinh tế toàn cầu. Nếu chính phủ Trung Quốc chấp nhận tăng trưởng chậm lại hơn nữa để tập trung vào tái cấu trúc nền kinh tế, điều này có thể tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến các nền kinh tế khác, bao gồm cả nền kinh tế đang tăng trưởng tích cực là Mỹ.

Sự chững lại của Trung Quốc cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm của khối các nền kinh tế mới nổi, bên cạnh các yếu tố khác như giá hàng hóa thế giới ở mức thấp và thương mại toàn cầu suy giảm ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu. Sự phân hóa trong chính sách tiền tệ cũng như các bất ổn chính trị cũng là một rủi ro lớn khác có thể kéo giảm đà tăng trưởng của khu vực này nhanh hơn.

Về khả năng tăng lãi suất của FED, đây là mối quan tâm hàng đầu của giới tài chính toàn cầu khi việc thay đổi lãi suất có thể ảnh hưởng quan trọng đến việc định giá tài sản, từ đó có thể gây ra sự đảo chiều dòng vốn và làn sóng rút vốn khỏi các thị trường mới nổi. Do vậy, chúng tôi quan ngại, nếu FED tăng lãi suất sớm hơn so với kỳ vọng, thị trường tài chính toàn cầu sẽ có nhiều ảnh hưởng tiêu cực.

5

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI

Thị trường chứng khoán thế giới vừa trải qua một tháng khó khăn khi đồng loạt các thị trường chứng khoán Mỹ, châu Âu và châu Á đều giảm điểm mạnh. Diễn biến tiêu cực có thể bắt nguồn từ những quan ngại về nền kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng chậm lại, đặc biệt sau khi quốc gia này thay đổi chính sách điều hành tỷ giá và dẫn đến cuộc đua phá giá đồng nội tệ giữa các nước trong khu vực châu Á.

Số liệu kinh tế xuất nhập khẩu kém khả quan (giảm 8% so với cùng kỳ ) và PMI tiếp tục duy trì mức thấp cho thấy sự thiếu tích cực trong tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Ngoài ra, sự sụt giảm mạnh gần 20% của giá dầu từ đầu tháng đến ngày 24/08 kèm theo nhiều dự đoán về khả năng FED sẽ nâng lãi suất trong tháng Chín là những thông tin tiêu cực khác làm cho hầu hết thị trường chứng khoán thế giới giảm mạnh trong tháng Tám. Tại châu Á, TTCK Trung Quốc tiếp tục đà giảm với mức hơn 10% trong tháng 8. Đặc biệt trong phiên giao dịch ngày 24/08, chỉ số Shanghai Composite đã rớt 8,5% - xóa sổ hoàn toàn mức tăng trong năm.

Các thị trường chứng khoán khác ở châu Á cũng tiếp tục giao dịch ở trạng thái tiêu cực trong tháng 8 khi chỉ số chứng khoán một số nước khác trong khu vực cũng giảm điểm như Hang Seng (-12,04%), Nikkei 225 (-8,23%) và TSEC (-5,66%) sau một tháng giao dịch trong nỗi lo sợ đối với nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Làn sóng bán tháo cũng lan truyền sang thị trường chứng khoán Mỹ. Chỉ số Down Jones chứng kiến mức sụt giảm mạnh nhất trong vòng bốn năm gần đây vào thứ Hai ngày 24/08, mất 588 điểm (trong phiên giao dịch buổi sáng, chỉ số này mất ngay 1.000 điểm khi mở cửa, tương đương mức giảm 6%).

Hai chỉ số S&P 500 và Nasdaq cũng mất lần lượt 3,94% và 3,82% trong ngày “thứ hai đen tối”. Như vậy, Dow Jones (-6,57%), S&P 500 (-6,26%) và Nasdaq (-6,85%) đã trải qua một tháng giao dịch đầy biến động. Không phải ngoại lệ, “ngày thứ hai đen tối” cũng bao trùm lên thị trường chứng khoán châu Âu khi phiên giao dịch 24/08 là phiên giao dịch “tồi tệ” nhất kể từ năm 2011 của các thị trường chứng khoán lục địa già. Tính chung cả tháng, FTSE 100, CAC 40 và chỉ số DAX đã giảm lần lượt 6,70%, 8,45% và 9,28% so với trạng thái giao dịch tích cực của tháng Bảy.

6

KINH TẾ VIỆT NAM

Trong tháng 8/2015, sau khi PBoC thay đổi cơ chế tỷ giá, NHNN Việt Nam đã phản ứng trước biến động tỷ giá của đồng NDT bằng cách điều chỉnh nới biên độ tỷ giá USDVND lên +/- 2% (12/08/2015), tiếp theo đó là điều chỉnh biên độ lên +/-3% và nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1% (19/08/2015). Tính đến thời điểm hiện tại, tiền đồng đã mất giá 3% so với trước khi có biến động đến từ Trung Quốc, so với đầu năm, tiền đồng đã mất giá tổng cộng là 5,1%.

Ảnh hưởng của phá giá tiền đồng đối với lạm phát, lãi suất và nợ công

Tác động của phá giá tiền đồng lên lạm phát là không đáng kể nhưng ảnh hưởng đến chính sách điều hành lãi suất .Diễn biến mất giá của đồng nội tệ dấy lên lo ngại về lạm phát. Dữ liệu lịch sử cho thấy mỗi lần tiền đồng mất giá lạm phát đều tăng trở lại với độ trễ từ 3-6 tháng, tuy nhiên, lạm phát trong những lần điều chỉnh trước được đặt trong bối cảnh giá thực phẩm và năng lượng tăng cao trở lại. Trong lần điều chỉnh lần này, diễn biến có phần khác hơn khi giá hàng hóa đang trong xu hướng giảm và dự kiến xu hướng này sẽ còn tiếp diễn trong năm 2016. Ngoài ra, ảnh hưởng của hàng hóa nhập khẩu lên giá cả nội địa cũng được kiềm hãm bởi tốc độ mất giá của nhiều đồng tiền khác là cao hơn tiền đồng. Do đó, chúng tôi cho rằng tác động của phá giá tiền đồng lên lạm phát là không đáng kể.

7

8

Có thể thấy, việc phá giá tiền đồng trước mắt không ảnh hưởng đến lạm phát và lạm phát kỳ vọng nhưng có thể ảnh hưởng đến chính sách điều hành của NHNN đối với lãi suất. Theo báo cáo mới nhất của NHNN, lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm bằng VND đang ổn định ở mức 6,4-7,2%/năm, trong khi đó, lãi suất huy động bằng USD đối với tổ chức là 0,25%/năm và đối với dân cư là 0,75%/năm. Với mức mất giá của tiền đồng từ đầu năm đến nay, người gửi tiền bằng USD và VND thực chất có mức lợi suất gần như tương đương.

Như vậy, chính sách tỷ giá một phần đã gây áp lực lên khả năng điều hành và định hướng chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay ở mức khá (+9,54% so với đầu năm và là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm) cũng tạo nên áp lực đảm bảo thanh khoản để đáp ứng nhu cầu cho vay từ nay đến cuối năm. Trên thị trường trái phiếu sơ cấp, nhu cầu mua TPCP giảm mạnh trong nửa cuối tháng 8/2015 dù lợi suất được chào cao hơn.

Đầu tháng 9/2015, một số ngân hàng thương mại đã điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn thêm 0,1-0,3%/năm. Với xu hướng tín dụng thường tăng trưởng mạnh trong những tháng cuối năm, mặt bằng lãi suất huy động có thể nhích nhẹ, điều này đồng nghĩa với khả năng lãi suất cho vay không giảm thêm. Tựu chung lại, chúng tôi cho rằng NHNN sẽ không điều chỉnh lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, tuy nhiên, cân đối cung-cầu vốn cộng với áp lực xử lý nợ xấu sẽ khiến các NHTM điều chỉnh lãi suất cho vay đối với các đối tượng khác.

9

Đợt điều chỉnh vừa qua có thể khiến rủi ro về nợ công đến sớm hơn 1 năm .Theo World Bank, tính đến cuối năm 2014, tổng dư nợ công của Việt Nam ước tính khoảng 110 tỷ USD, tương đương với 59,6% GDP. Trong cơ cấu vay nợ, nợ nước ngoài của Chính phủ ổn định khoảng 27-28%GDP, chiếm khoảng ½ tổng nợ công của Việt Nam. Trong những năm gần đây, tốc độ nợ vay trong nước tăng khá nhanh nhưng tốc độ tăng nợ vay nước ngoài chậm lại ở mức bình quân 5%.

10

Theo ước tính của chúng tôi, nợ vay bằng đồng USD chiếm khoảng 30-35% cơ cấu nợ vay nước ngoài, nợ vay bằng JPY cũng chiếm một tỷ lệ tương tương nợ vay bằng USD và nợ vay bằng EUR chiếm 6-7% tổng cơ cấu nợ vay. Dựa trên diễn biến của các cặp tỷ giá từ đầu năm đến nay, nghĩa vụ trả nợ gốc tính theo nội tệ có thể tăng thêm 15.000-20.000 tỷ đồng sau đợt biến động tỷ giá vừa qua, tuy nhiên, ảnh hưởng này sẽ được phân bổ theo thời gian dựa trên kỳ hạn trả nợ. Trong ngắn hạn, năm 2015, Việt Nam sẽ phải chi trả khoảng 1,5 tỷ USD để trả nợ gốc và lãi vay đối với nợ nước ngoài, ước tính tương đối cho thấy chi trả nợ có thể sẽ tăng thêm khoảng 1.000 tỷ đồng sau đợt điều chỉnh tỷ giá vừa qua.

Năm 2016, chi trả nợ và nợ gốc khoảng 2,5 tỷ USD, rủi ro về tỷ giá tiếp tục tạo ra áp lực lớn hơn đối với ngân sách trong năm sau nếu như không có biện pháp tìm nguồn tài trợ thêm. Dựa theo kết quả nghiên cứu từ báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội và UNDP về Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam, chúng tôi chọn mức thâm hụt ngân sách cơ bản/GDP trong năm 2015 ước tính là 2%, trong kịch bản tốt* thì nợ công của Việt Nam sẽ chạm ngưỡng giới hạn 65% vào năm 2019. Mô phỏng tỷ lệ nợ công theo tỷ giá cho thấy cứ 1% mất giá của đồng nội tệ sẽ làm tăng tỷ lệ nợ công thêm 0,8%. Như vậy, sau đợt điều chỉnh tỷ giá vừa qua, rủi ro khủng hoảng nợ công có thể đến sớm hơn 1 năm.

TTCK THÁNG 08/2015: GIẢM SÂU TRƯỚC CÁC BIẾN ĐỘNG VĨ MÔ

Trong BCCL tháng 7, chúng tôi đề cập về dấu hiệu dòng tiền lớn đứng ngoài thị trường trong giai đoạn cuối tháng 7 và kịch bản khả năng thị trường sẽ thiết lập mặt bằng giá mới hợp lý hơn trong tháng 8. Cùng với dòng suy luận đó, sự thất vọng về kết quả đàm phán TPP tại Hawaii ngày 31/7 và các biến động vĩ mô thế giới cũng như tại Việt Nam đã khiến thị trường tháng 8 giảm sâu (VNIndex: -9,0%, HNXIndex: -9,6%). Sau đợt giảm mạnh trong tháng 8, thị trường đã hình thành mặt bằng giá mới khá thấp so với trung bình năm nay, với PE thị trường VN (đại diện bởi VNIndex) cuối tháng 8 chỉ khoảng 11x thấp hơn 12,7% so với trung bình 7 tháng đầu năm (PE theo dữ liệu Bloomberg). Đặc biệt, thời điểm thị trường tạo đáy tháng (ngày 24/8/2015), PE của thị trường VN chỉ khoảng 10,3x.

11

Tuy nhiên, tại giai đoạn thị trường gần chạm mốc PE 10,3x (ngày 24/8/2015), dòng tiền bắt đáy đã tham gia rất tích cực tại nhiều nhóm ngành. Một số nhóm ngành giảm sâu trước đó đã bật lại khá mạnh như: dầu khí, dịch vụ tài chính, bán lẻ, ngân hàng. Đa phần các nhóm ngành này đều không thể phục hồi hoàn toàn, ngoại trừ nhóm cổ phiếu chứng khoán. Nhóm cổ phiếu này đã hồi phục mạnh hơn 14% sau khi bị giảm 10% giai đoạn thị trường lao dốc và đóng cửa tháng tăng 2%. Nguyên nhân chính đến từ lực cầu tích cực của khối nội và khối ngoại khi giới hạn sở hữu dành cho khối ngoại được chính thức nâng lên 100%. Trong tháng 8, khối ngoại đã mua ròng tại hầu hết các mã đầu ngành này như: SSI (+132 tỷ đồng), HCM (+6 tỷ đồng), VND (+7 tỷ đồng).

Ngoài ra, nhóm cổ phiếu truyền thông cũng có sức chống chịu rất tốt trước biến động của thị trường, nhóm duy nhất không giảm điểm trong giai đoạn thị trường tiêu cực. Nhóm cổ phiếu này bao gồm các cổ phiếu có vốn hóa và thanh khoản thấp, như: EID, PNC, SED, STC, EBS, ONE. Đồng thời, các cổ phiếu này cũng có KQKD khá tốt, với mức tăng trưởng doanh thu và LNST Q2 của ngành lần lượt là 40% và 35%. Trong ba năm gần đây, nhờ hoạt động kinh doanh tăng trưởng ổn định nên DN cũng chi trả cổ tức tiền mặt rất cao và đều đặn.

12

13

Xét trên góc độ tương quan thị giá và KQKD: đóng góp của tăng trưởng KQKD Q2 đã bị chiết khấu bởi tâm lý hoảng loạn của thị trường tháng 8 Trên góc nhìn tổng quan toàn thị trường, tâm lý quan ngại trước các biến động vĩ mô đã chiết khấu gần như toàn bộ đóng góp của KQKD Q2 vào đà tăng của thị trường.

Thành tích tăng điểm trong quý 2 (từ ngày 15/5- nửa cuối tháng7) đạt được chủ yếu nhờ thông tin tích cực từ KQKD Q2. Theo thống kê của chúng tôi, KQKD của các DN niêm yết trong Q2 khá khả quan: 15/18 nhóm ngành chính đạt mức tăng trưởng LNST Q2 dương, với mức tăng trưởng trung bình (tính dựa trên trung bình số học không trọng số của tăng trưởng LNST Q2 của các nhóm ngành) vào khoảng 55%.

Tuy nhiên, sự hoảng loạn xuất phát từ các vấn đề vĩ mô trong tháng 8 đã khiến các đóng góp này (từ giữa tháng 5 đến tháng 7) bị “khấu hao” nhanh chóng. Xét trên góc nhìn nhóm ngành có sức chống chịu tốt trong hoàn cảnh thị trường hoảng loạn, một số nhóm ngành đang có KQKD tích cực vẫn là “nơi trú ẩn” tương đối tốt, tiêu biểu như: thực phẩm đồ uống, xây dựng và vật liệu xây dựng, dịch vụ tài chính, phân phối, truyền thông, vật dụng cá nhân gia đình, và du lịch giải trí. `Từ bảng tóm tắt diễn biến ngành và tăng trưởng LNST bên dưới, các nhóm ngành này tuy bị giảm điểm ở giai đoạn tiêu cực của thị trường nhưng mức độ rất nhẹ và sau đó hồi phục ngay trở lại khi thị trường bớt căng thẳng. Ở chiều ngược lại, gần như tất cả các ngành có KQKD tiêu cực (tăng trưởng LNST âm) đều nằm trong top giảm điểm mạnh nhất thị trường, chẳng hạn: dầu khí, tài nguyên.

14

GIAO DỊCH KHỐI NGOẠI: ETF và phần còn lại

Trong tháng Tám, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 123/2015/TT-BTC hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam song chưa giải quyết được nút thắt về ngành nghề kinh doanh bị giới hạn tỷ lệ sở hữu NĐT nước ngoài. Bên cạnh đó, mối quan ngại về khả năng FED nâng lãi suất trong tháng Chín và những biến động ngoài dự báo về vĩ mô thế giới dẫn đến việc NĐT nước ngoài bán ròng trên sàn chứng khoán Việt Nam sau bốn tháng mua ròng liên tiếp. Theo đó, sau khi Thông tư 123 được ban hành ngày 19/08 cùng với những cú sốc từ thị trường chứng khoán trên toàn thế giới, chỉ tính riêng từ ngày 20/08 đến 31/08 thì khối ngoại đã bán ròng hơn 672 tỷ đồng.

Tính chung cả tháng, khối ngoại bán ròng hơn 316 tỷ đồng. Trên sàn HSX, NT2 và SSI được mua ròng nhiều nhất với giá trị lần lượt là 220 tỷ đồng và 132 tỷ đồng trong khi HAG và VCB bị bán ròng mạnh nhất trong tháng qua với giá trị 227 tỷ đồng và 160 tỷ đồng. Trên sàn HNX, cổ phiếu CEO thuộc ngành bất động sản được mua ròng tốt nhất với giá trị 44 tỷ đồng còn PVS bị bán mạnh gần 149 tỷ đồng.

15

Xem xét giao dịch của khối ngoại ở từng nhóm ngành, chúng tôi nhận thấy các nhóm ngành được mua ròng mạnh nhất trong tháng 8 là điện (160 tỷ đồng), hóa chất (149,5 tỷ đồng), xây dựng & vật liệu xây dựng (133,8 tỷ đồng) và dịch vụ tài chính (111,6 tỷ đồng). Trong khi đó, ngành thực phẩm (-635,5 tỷ đồng) với nhiều cổ phiếu mía đường và “cổ phiếu TPP” bị bán ròng mạnh nhất. Có lẽ diễn biến tiêu cực của chỉ số hàng hóa trong tháng 8 đã ảnh hưởng đến quyết định của các NĐT NN. Lũy kế từ đầu năm đến hiện tại, ba nhóm ngành được mua ròng nhiều nhất là ngân hàng (mua ròng 2.294 tỷ đồng), dịch vụ tài chính (1.474 tỷ đồng) và xây dựng & vật liệu xây dựng (1.174 tỷ đồng).

16

Ở một khía cạnh khác, giá trị giao dịch của NĐT NN tích lũy đạt mức cao nhất 6.360 tỷ tại ngày 12/08. Diễn biến này khá tương đồng với giai đoạn 2014 khi mà giá trị tích lũy đạt 6.327 tỷ đồng tại ngày 31/07/2014 và sau đó cũng bước vào giai đoạn bán ròng trong tháng 8 (khối ngoại bán ròng 313,4 tỷ đồng tháng 8/2014). Do đó, có thể nhìn nhận việc bán ròng của khối ngoại dưới góc nhìn khác đó là khả năng hấp thụ của thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt đến ngưỡng. Để có thể thu hút thêm lượng vốn từ NĐT nước ngoài thì việc gia tăng lượng cung giao dịch thông qua những việc như tăng tốc cổ phần hóa doanh nghiệp, nới room là cần thiết cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trong tháng 8, giao dịch của 2 quỹ ETF diễn ra trái chiều. Theo đó, FTSE phát hành thêm 509.000 CCQ và mức thặng dư/chiết khấu cũng diễn biến tương đối ổn định (trừ ngày giao dịch 24/08 bị chiết khấu gần 3,62%). Ngược lại, VNM ETF bị rút ròng 2,35 triệu CCQ cùng với việc bị chiết khấu tất cả các ngày giao dịch trong tháng với mức chiết khấu mạnh nhất 5,34% vào ngày 24/08. Theo chúng tôi ước tính, trong cả tháng 8, cả 2 quỹ ETF này đã bán ròng khoảng 382 tỷ đồng (FTSE ETF mua ròng 279 tỷ đồng còn VNM ETF bán ròng 661 tỷ đồng trên TTCK Việt Nam). Riêng giai đoạn từ sau ngày 20/08, giá trị mua bán ròng của 2 quỹ ETF rơi vào khoảng -491 tỷ đồng. Thời gian này, thống kê giá trị giao dịch của NĐT NN cũng cho kết quả bán ròng hơn 672 tỷ đồng (trong khi giai đoạn từ 20/08 trở về đầu tháng, số liệu thống kê NĐT NN đang mua ròng hơn 356 tỷ đồng). Như vậy, từ số liệu thống kê giao dịch ETF, của NĐT NN nói chung và mốc thời gian thống kê, chúng tôi cho rằng giá trị bán ròng của khối ngoại trong tháng qua có phần bị thiên lệch bởi 2 quỹ ETF. Nếu loại trừ tác động của ETF, chúng tôi ước tính các NĐT NN đã mua ròng nhẹ khoảng 66 tỷ đồng trên thị trường trong tháng 8.

17

Cuối tuần qua, quỹ FTSE ETF cũng công bố danh mục mới sau đợt đánh giá lại lần thứ 3 trong năm. Theo kết quả, BID, PDR và TTF được thêm vào rổ chỉ số FTSE Vietnam Index và không loại mã nào trong danh mục. Đối với chỉ số FTSE Vietnam All-Share Index thì có 5 mã được thêm vào gồm BID, DCM, BMP, TTF và HHS trong khi DRC và JVC bị loại khỏi danh mục này. Đối với VNM ETF, RongViet Reseasrch dự báo quỹ này sẽ loại DRC đồng thời thêm vào HHS, HT1 và VHC.

18

19

CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ THÁNG 09/2015

Chỉ trong hai tuần cuối tháng Tám, TTCK Việt Nam đã trải qua những thời điểm vô cùng biến động với những phiên giảm bất ngờ và mạnh mẽ không kém giai đoạn khủng hoảng giá dầu năm 2014. Sự kiện Trung Quốc phá giá đồng CNY và những tin đồn được giới đầu cơ “xáo lại” đã đẩy thị trường giảm sâu. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, TTCK chịu sức ép lớn từ hàng loạt các thông tin tiêu cực về kinh tế toàn cầu vốn đang ảnh hưởng đến tâm lý NĐTNN và kích thích mạnh mẽ hoạt động rút vốn ở hai quỹ ETF của Van Eck và FTSE.

Đến cuối tháng Tám, con số tích lũy mua của khối ngoại từ đầu năm đã giảm 8,6%. Trong đó, lượng bán mạnh tập trung chủ yếu ở ba nhóm cổ phiếu: (1) bất động sản (VIC, KBC), (2) dầu khí (PVD, PVS, GAS) và (3) thực phẩm/nông nghiệp (HAG, KDC, SBT, HNG). Ngược lại, với nhóm ngành tài chính, lượng mua ròng của BID đã cân bằng được phần lớn lượng bán ở VCB trong tháng Tám và tính từ đầu năm, NĐTNN đã tích lũy thêm gần 2.300 tỷ đồng các cổ phiếu ngân hàng và gần 1.500 tỷ các cổ phiếu chứng khoán. Những quan ngại lớn của khối ngoại về bức tranh vĩ mô hiện tại, bao gồm: (1) kịch bản FED tăng lãi suất trong tháng Chín, (2) TPP không thể kết thúc trong năm nay và (3) sự ổn định của kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc giảm tốc.

Giá trị bán ròng lớn ở nhóm cổ phiếu nông nghiệp, cho thấy NĐTNN đang giữ cái nhìn bi quan về thị trường hàng hóa thế giới và đặt cược nhiều vào khả năng FED tăng lãi suất và đồng USD mạnh lên trong năm nay. Đối với nhà đầu tư trong nước, ngoài những quan ngại chung tương đồng với NDTNN, họ còn chịu ảnh hưởng bởi động thái bán ròng của khối ngoại trong thời gian gần đây.

Chúng tôi cho rằng, với những cú sốc như trong tháng Tám, thị trường luôn cần thời gian để lấy lại sự bình tĩnh. Do vậy, TTCK sẽ khó định hình ngay một xu hướng rõ ràng trong tháng Chín, ít nhất là trước ngày 18/09, thời điểm mà các ETF sẽ kết thúc đợt review định kỳ và FED sẽ có quyết định chính thức về việc nâng lãi suất; đồng thời khả năng nối lại đàm phán TPP cũng có thể sẽ được công bố trong khoảng thời gian này. Với sự chuẩn bị tâm lý khá lâu cho các diễn biến này của giới đầu tư, mức độ ảnh hưởng của thông tin được công bố có thể không kéo dài quá 2-3 phiên.

Chúng tôi cho rằng xu hướng sau ngày 18/09 của thị trường sẽ tùy thuộc vào diễn biến trước đó của nó và theo hướng ngược lại, hay nói cách khác, sự điều chỉnh không đủ lớn sẽ không hứa hẹn một sự phục hồi mạnh mẽ. Chúng tôi kỳ vọng rằng, sau khi quyết định của Fed được đưa ra (dù theo hướng nào), NHTW Việt Nam cũng sẽ cân nhắc các diễn biến sau đó để gửi thông điệp về chính sách điều hành tỷ giá ít nhất trong vòng 3 tháng (từ này đến cuối năm) đến giới đầu tư. Tổng hòa các yếu tố này, theo chúng tôi, có ý nghĩa tâm lý quan trọng đồng thời giảm bớt “rủi ro bất định” giúp nhà đầu tư mạnh dạn hơn với quyết định đầu tư. Thanh khoản cải thiện sẽ là những tín hiệu cần quan sát trong giai đoạn này.

Trước khi tất cả những điều trên xảy ra, sẽ khó có nhóm cổ phiếu nào đủ sức dẫn dắt thị trường và các chỉ số sẽ phải dừng chân trước những ngưỡng kháng cự và hỗ trợ quan trọng. Trong đó, chúng tôi lo ngại nhóm cổ phiếu blue-chips và vốn hóa lớn sẽ là những đối tượng dễ tổn thương trước biến động về vĩ mô và chuyển động của dòng vốn ngoại, nhất là giao dịch của các quỹ ETF. Một trong những đối trọng hiếm hoi có khả năng làm đảo chiều xu thế bán ròng của khối ngoại được chờ đợi trong ngắn hạn là việc Bộ KH-ĐT có thể sớm ban hành danh sách ngành nghề được nới room lên 100%. Vùng điểm dự báo trong tháng này với VNIndex là 537 - 578 và HNIndex là từ 74 - 78.

Với những lúc thị trường chững lại như giai đoạn này, chúng tôi cho rằng nhà đầu tư nên trở lại với cái nhìn 3 -4 tháng như những gì chúng tôi đã từng khuyến nghị trong Báo cáo chiến lược tháng Năm. Chúng tôi cho rằng, cơ hội sẽ xuất hiện ở những cổ phiếu mà thị trường đã trừ điểm quá nhiều cho những ảnh hưởng khách quan bất lợi mà doanh nghiệp hứng chịu. Cụ thể một số đánh giá ngành điển hình sẽ đượcphân tích sâu trong nội dung bên dưới.

Bên cạnh kỳ vọng KQKD đột biến ở một số doanh nghiệp như chúng tôi đã phân tích trong các tháng trước, việc nới room sẽ là động lực cho các cổ phiếu BĐS trước làn sóng M&A và dòng vốn FDI ngày càng mạnh mẽ. Sau khi giá chạm đáy trong tháng Tám, chúng tôi nhận thấy cân bằng cung-cầu dầu thô trên thế giới đang có sự chuyển động tích cực. Với Beta cao với giá dầu thế giới, cổ phiếu của các doanh nghiệp dầu khí đầu ngành cũng sẽ có nhiều cơ hội hồi phục trong tháng Chín.

Cú sốc tỷ giá vừa rồi là điểm trừ đối với triển vọng lợi nhuận của một số doanh nghiệp có dư nợ ngoại tệ lớn như các công ty vận tải biển và các doanh nghiệp xi măng. Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là các khoản lỗ tỷ giá sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến dòng tiền cũng nhưng triển vọng kinh doanh của các doanh nghiệp này trong bối cảnh hoạt động thương mại và xây dựng trên cả nước đang tăng trưởng tốt

20

Lỗ tỷ giá không ảnh hưởng nhiều đến triển vọng kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp vận tải biển và xi măng

Lĩnh vực vận tải biển đang trên đà phục hồi nhưng vẫn ở tốc độ cải thiện khá chậm và KQKD 6T2015 tiếp tục cho thấy sự phân hóa giữa các doanh nghiệp.Trong đó, các doanh nghiệp vận tải dầu khí như PVT, VIP, VTO và GSP vẫn hoạt động ổn định và có sự tăng trưởng nhẹ về doanh thu và lợi nhuận nhờ: (1) đội tàu cho thuê định hạn với hiệu suất khai thác tàu ở mức cao (trên 80%), (2) giá cước được điều chỉnh giảm nhưng chậm hơn tốc độ giảm giá nhiên liệu, (2) nhu cầu tiêu thụ sản phẩm dầu khí tăng, (4) hoạt động liên tục của NMLD Dung Quất. Trong khi đó, kinh tế Trung Quốc giảm tốc làm cho hoạt động vận chuyển các loại nguyên liệu như clinker, xi măng, quặng sắt, than… suy giảm và khiến đội tàu hàng rời Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn dù ngành vẫn đang được sự hỗ trợ lớn gián tiếp từ chính sách kiểm soát tải trọng đường bộ, ưu tiên tàu mang cờ Việt Nam trên tuyến nội địa và đề án quy hoạch tái cơ cấu vận tải biển (Quyết định 1481/QĐ-BGTVT hiệu lực từ 27/4/2015).

1

Trong quý 3 và quý 4, chúng tôi nhận thấy một số doanh nghiệp vận tải biển với số dự nợ vay ngoại tệ lớn sẽ phải đối mặt với nguy cơ lỗ tỷ giá ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Đồng thời trước khả năng VND tiếp tục mất giá so với USD, một cách tương đối, chi phí sử dụng vốn của các DN không rẻ hơn so với vay VND, làm giảm lợi thế vốn có của họ. Tuy nhiên, nhà đầu tư cần lưu ý các khoản lỗ chênh lệch tỷ giá này chỉ phản ánh quá trình đánh giá lại các khoản công nợ bằng đồng ngoại tệ (ở đây là USD) của các doanh nghiệp và không hoàn toàn tác động đến khả năng chi trả hiện tại của doanh nghiệp.

2

3

Nhìn vào diễn biến HĐKD hiện tại và triển vọng trung hạn, chúng tôi đánh giá cao hai doanh nghiệp PVT và GSP. Trong đó, PVT với vị thế là doanh nghiệp độc quyền vận tải dầu thô ở Việt Nam đang hưởng lợi từ việc nhà máy lọc dầu Dung Quất tăng cường nhập dầu thô giá rẻ. PVT cũng vừa đưa tàu FSO Đại Hùng Queen đi vào hoạt động từ tháng Năm. Do biên lợi nhuận của mảng FSO tốt hơn hẳn mảng vận tải (~30% so với 12%), tàu FSO Đại Hùng Queen sẽ hỗ trợ tích cực cho KQKD của PVT hai quý cuối năm.

Do đặc tính kỹ thuật (cố định với một mỏ) nên các hợp đồng FSO thường kỳ hạn dài và có thể đem lại doanh thu ổn định qua nhiều năm. Hơn nữa, từ năm 2015, PVT đã có thêm nguồn thu từ vận chuyển than cho nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng với sản lượng vận tải khoảng ~1 triệu tấn (so với 500.000 tấn năm 2014). Tuy có thể phải gánh chịu khoản lỗ đáng kể do chênh lệch tỷ giá, nguồn thu ngoại tệ lớn từ cho thuê tàu sẽ hạn chế tác động của tỷ giá đến khả năng thanh toán của PVT.

Việc nhà máy Dung Quất hoạt động liên tục và không dừng bảo dưỡng cũng sẽ giúp GSP, doanh nghiệp độc quyền trong mảng vận tải khí LPG ở Việt Nam (~90% sản lượng LPG vận chuyển bằng đường biển) gia tăng sản lượng vận chuyển trong năm 2015. Đồng thời, do hai tàu Hồng Hà và Việt Gas đã hết khấu hao, biên lợi nhuận gộp trong mảng vận tải đã tăng lên đáng kể so với năm trước. Sáu tháng đầu năm, DT của GSP tăng 11,9% và LNST cũng tăng gần 70% so với cùng kỳ.

Chúng tôi ước tính LNST hợp nhất năm 2015 của GSP sẽ đạt khoảng 55 tỷ đồng (+70%), tương ứng với EPS 2015 là 1.830 đồng và mức P/E forward khá hấp dẫn là khoảng 7 lần. Nhờ tỷ lệ đòn bẩy thấp và dư nợ gốc USD chỉ ~30 tỷ nên rủi ro tỉ giá đối với GSP là không đáng kể. Theo kịch bản cơ sở là cuối quý 3, tỷ giá VND/USD đạt 22.500 đồng và tỷ giá EUR/USD là 1,15 EUR thì trong quý 3, hầu hết các doanh nghiệp xi măng lớn đều phải ghi nhận lỗ do đánh giá lại các khoản vay EUR. Tuy nhiên, nếu đến hết năm nay, tỷ giá VND/EUR còn khoảng 25,425 đồng thì có khả năng các doanh nghiệp như HT1, BCC, BTS và HOM vẫn được ghi nhận lợi nhuận từ tỷ giá cho cả năm 2015

4

Sáu tháng đầu năm, sản lượng tiêu thụ của các doanh nghiệp nói trên đều có sự tăng trưởng tích cực trong nhờ sự hồi phục của thị trường BĐS và hoạt động xây dựng. Tính đến hết tháng Tám, sản lượng xi măng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu ước đạt 46,92 triệu tấn, tăng 10% so với cùng kỳ và hoàn thành 65% kế hoạch của Bộ Xây dựng. Trong đó, HT1 và BTS ghi nhận mức tăng trưởng sản lượng tốt nhất, lần lượt là 20% và 17% (xem hình). Riêng HT1, chúng tôi ước tính sản lượng tiêu thụ năm 2015 có thể tăng gần 17% và biên LNG có thể cải thiện so với năm 2014 và đạt khoảng 21%.

Do quý 3 là mùa mưa nên hoạt động xây dựng thường không sôi động như quý 2 hơn nhưng chúng tôi kỳ vọng KQKD của các doanh nghiệp ngành xi măng, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu ngành như HT1 vẫn sẽ khả quan hơn so với cùng kỳ 2014. Quý 4 là mùa cao điểm của xây dựng nên đây cũng sẽ là điểm rơi doanh và lợi nhuận của ngành. Nhìn chung, chúng tôi cho rằng biến động tỷ giá cả năm 2015 sẽ không ảnh hưởng trọng yếu đến KQKD của các công ty xi măng và tăng trưởng sản lượng tích cực sẽ có thể giúp hạn chế tác động của tỷ giá lên lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngắn hạn.

6

Triển vọng giá dầu tích cực hơn

Bước sang tháng Chín, triển vọng kinh tế thế giới hay những thông tin về sản lượng dầu thô từ Mỹ và OPEC theo chúng tôi sẽ là những nhân tố chính dẫn dắt thị trường dầu thô. Theo số liệu từ EIA, mặc dù số lượng giàn khoan tại Mỹ đã giảm 57,24% so với cùng kì, trong tháng 8/2015, sản lượng dầu thô từ Mỹ vẫn tăng trưởng 8,19% so với cùng kỳ. Sản lượng tháng Tám từ OPEC ước đạt 32,32 triệu thùng/ngày, tăng 108.000 thùng/ngày so với tháng 7 và tăng 6% so với cùng kỳ. Theo tìm hiểu của chúng tôi, sự cải thiện trong công nghệ dầu đá phiến gần đây đã giúp mức giá hòa vốn của các nhà sản xuất dầu đá phiến đã giảm về mức thấp nhất khoảng USD20-24/thùng.

7

Giá dầu sụt giảm mạnh vào cuối tháng Tám cũng đã khiến OPEC lên tiếng về một cuộc họp bất thường liên quan đến thỏa thuận về sản lượng. Điều này là lực đẩy tâm lý khá tốt cho giá dầu thế giới. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cần nhiều tháng để OPEC đạt được thỏa thuận và ngay cả khi có sự đồng thuận, khối này cũng sẽ không cắt giảm đột ngột sản lượng. Theo Morgan Stanley, thị trường dầu thô thế giới đang khá nhạy cảm với những thông tin về cung cầu. Do đó, những thông tin dù chính thức hay không chính thức hay những thống kê trái chiều đều có thể có thể dễ dàng dịch chuyển xu hướng trên thị trường dầu thô. Ba kịch bản dự phóng giá dầu trong quý 4/2015 lần lượt là: (1) 44$/thùng đối với kịch bản cơ sở; (2) 58$/thùng đối với kịch bản tích cực; (3) 35$/thùng đối với kịch bản tiêu cực. Năm 2016, giá dầu Brent được EIA dự báo sẽ có sự phục hồi đến 59USD/thùng và 61USD/thùng theo dự báo của World Bank.

Với một kịch bản xấu nhất khi (1) OPEC không đồng thuận giảm sản lượng, (2) FED tăng lãi suất trong năm nay, (3) kinh tế Trung Quốc tiếp tục giảm tốc, (4) triển vọng tiêu cực từ s các nền kinh tế như Mỹ và Châu Âu, chúng tôi nghĩ rằng mức giá 30 USD/thùng đối với dầu thô là có thể xảy ra. Tuy nhiên, mức giá này sẽ gây ra phản ứng từ các nước sản xuất dầu như Mỹ hay OPEC. Trong tháng Tám, Venezuela đã kêu gọi bình ổn giá trong khi Cơ quan Năng lượng Mỹ - EIA đưa ra cách thức thống kê nguồn cung mới ngay khi giá rời ngưỡng 40 USD/thùng. Do đó, chúng tôi nghiêng về kịch bản tích cực (Morgan Stanley) trong quý 4 sắp tới.

Đọc thêm : Thị trường nợ 

8

Trong các cổ phiếu dầu khí mà chúng tôi quan tâm, PVS và PVD có hệ số beta với giá dầu cao nhất. Tuy nhiên, PVS đối mặt với ít rủi ro từ giá dầu thô hơn PVD nhờ tham gia sâu các công trình năng lượng trên bờ (Nhiệt điện Sông Hậu, nhà máy loc dầu Nghi Sơn). Trong khi đó, với các hợp đồng cho thuê giàn PVD 1,2,3,6 đang bị neo theo giá dầu,

hotline