Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 07/2015

Được đăng vào 07-07-2015

Chiến lược đầu tư tháng 07/2015

Nhìn chung, trong tháng Sáu, hai chỉ số tăng điểm khá tốt với thanh khoản duy trì ổn định trên cả HSX và HNX. Dù vậy, có thể dễ dàng nhận thấy trong suốt tháng Sáu, TTCK vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của nhóm cổ phiếu lớn. Trong đó, nhóm cổ phiếu ngân hàng với VCB, BID, BVH, SHB và CTG lần lượt dẫn dắt VNIndex và HNIndex, đẩy các chỉ số này đi xa diễn biến thực trên thị trường.

Chúng tôi cho rằng, trong nửa đầu tháng Bảy, TTCK có thể tiếp tục đi lên nhờ đà tăng của nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Đồng thời, thanh khoản vẫn đang tăng lên sau khi VNIndex vượt ngưỡng tâm lý 600 điểm. Như vậy, xu hướng chung của các chỉ số là tích cực nhưng đại đa số cổ phiếu sẽ chỉ tăng nhẹ hoặc đi ngang. Từ giữa tháng, khoảng cách ngày càng xa giữa nhóm cổ phiếu lớn với phần còn lại của thị trường làm gia tăng rủi ro điều chỉnh.

Vùng biến động dự báo đối với VNIndex là 595-639 và HNIndex là 86-92. Chỉ số tăng điểm nhưng giá trị danh mục không có sự tăng trưởng là mối quan tâm chung của phần đông nhà đầu tư trong tháng Sáu. Với tâm lý sợ lỡ mất cơ hội, khối nhà đầu tư nhỏ, lẻ đã bắt đầu rời những cổ phiếu nhỏ và mang tính đầu cơ để tham gia vào “sóng” tăng của nhóm cổ phiếu lớn trong những ngày cuối tháng Sáu và đầu tháng Bảy.

Tuy nhiên, khi các chỉ số đạt đến một mặt bằng giá mới, định giá của nhiều cổ phiếu lớn trở nên giảm hấp dẫn tương đối. Khi đó, dòng tiền đã tìm đến và ở lại với những cổ phiếu có vốn hóa trung bình thấp và chưa tăng đáng kể có khả năng sẽ thu hoạch được thành quả. Đối với việc lựa chọn nhóm ngành, chúng tôi vẫn đánh giá tích cực đối với những ngành sản xuất và xuất khẩu sẽ được hưởng lợi từ TPP và các hiệp định FTA như dệt may và thủy sản, nhất là khi cả hai ngành này đều có cao điểm tiêu thụ rơi vào sáu tháng cuối năm.

Trong lĩnh vực BĐS, doanh số tiêu thụ ngày càng tăng và khả năng các doanh nghiệp sẽ lần lượt ghi nhận lợi nhuận từ các thương vụ chuyển nhượng dự án hoặc thanh lý tài sản cũng có thể hỗ trợ giá cổ phiếu trong quý 3 và quý 4. Thêm vào đó, thông tin về các công trình giao thông trọng điểm cũng có thể tác động tốt đến cổ phiếu các doanh nghiệp có quỹ đất ở những khu vực tiềm năng. Ngành ngân hàng cũng được kỳ vọng sẽ có sự cải thiện về lợi nhuận khi tiến độ xử lý nợ xấu được đẩy nhanh và tăng trưởng tín dụng hồi phục.

Tuy nhiên, các chỉ số định giá của ngành đang dần trở nên kém hấp dẫn khi các cổ phiếu như VCB và BID đã được đẩy đi quá xa bởi yếu tố kỳ vọng. Một sự điều chỉnh về mặt bằng giá hợp lý hơn sẽ giúp thanh khoản duy trì ở nhóm cổ phiếu này. Ngược lại, KQKD của các doanh nghiệp dầu khí có sự phân hóa, các công ty cung cấp dịch vụ và khai thác vẫn đang xoay sở với tác động tiêu cực của giá dầu trong khi một số công ty phân phối khí đang cho thấy xu hướng tích cực về lợi nhuận. Dù vậy, nhìn chung, biến động giá các cổ phiếu của ngành này vẫn đang đứng trước rủi ro giá dầu thô thế giới. Việc tăng tỷ trọng nắm giữ, do đó, chỉ nên thực hiện tại các mặt bằng giá hấp dẫn.

1

KINH TẾ THẾ GIỚI

Mỹ - Sức khỏe nền kinh tế có nhiều tín hiệu phục hồi trong quý 2

Như đã đề cập trong báo cáo chiến lược tháng 06, những chỉ báo vĩ mô tích cực trong tháng 06 càng củng cố cho lập luận về sự phục hồi bền vững hơn của kinh tế Mỹ, đặc biệt là trong hoạt động đầu tư vào lĩnh vực xây dựng. Theo HSBC, PMI tháng 06 của nước này đạt 53,4 điểm, mức thấp nhất kể từ tháng 10/2013. Mặc dù các chỉ tiêu thành phần trong lần khảo sát này như điều kiện sản lượng và đơn hàng đều tăng trưởng chậm lại, chỉ tiêu việc làm trong lần khảo sát này đã có nhiều chuyển biến đáng kể, với mức tăng cao nhất kể từ tháng 11/2014. Bên cạnh đó, chỉ số niềm tin tiêu dùng tiếp tục chứng minh độ bền khi tăng mạnh lên 96,1 điểm, mức cao nhất trong 5 tháng qua.

Bên cạnh đó, doanh số bán lẻ tháng 5 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, với mức tăng 1,2% so với tháng trước, trong đó hoạt động kinh doanh ô tô, thực phẩm và xăng dầu đều có mức tăng tích cực. Khác với những tranh luận và đề xuất trước đó đối với thời điểm tăng lãi suất thích hợp, trong những phát biểu gần đây, FED lại tỏ ra kiên quyết về việc sẽ tăng lãi suất ngay trong năm nay. Theo đại diện của tổ chức này, hiện tại đã có những dấu hiệu tích cực của việc tăng lương đang giúp nền kinh tế đạt mức toàn dụng nguồn lao động. Do đó, thay vì dựa trên hai yếu tố là lạm phát và thất nghiệp mục tiêu như trước, yếu tố trên sẽ là căn cứ chính để FED quyết định thời điểm tăng lãi suất sắp tới.

2

EU – Tiếp tục đà phục hồi

Tiếp đà phục hồi khả quan trong tháng 5, kinh tế khu vực EU ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong tháng 06. Theo số liệu công bố của Markit, chỉ số PMI của khu vực này trong tháng này đạt 52,5 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 04/2014. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất hầu hết các nước, trừ Hy Lạp đều có sự khởi sắc. Nhờ sự cải thiện mạnh mẽ của các chỉ số thành phần như đơn đặt hàng mới và sản lượng, PMI của Đức đạt 51,9 điểm trong tháng 06, tăng nhẹ so với mức 51,1 điểm của tháng 05. Bên cạnh đó, sự khởi sắc cũng diễn ra ở một số nền kinh tế lớn khác như Pháp, Ý và Tây Ban Nha, với chỉ số PMI lần lượt đạt 50,7, 54,1 và 54,6 điểm. Đáng chú ý, Pháp ghi nhận điểm sáng lớn khi lần đầu tiên trong vòng 14 tháng PMI của nước này đạt trên 50 điểm. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực vẫn đang duy trì mức cao hàm ý nhiều khó khăn mà khu vực này phải đối mặt trong nửa chặng đường còn lại của năm nay.

Đối với câu chuyện của Hy Lạp, trong một cuộc bỏ phiếu gần đây, cử tri nước này đã bác bỏ những đòi hỏi của các chủ nợ nước này về việc áp dụng thêm những biện pháp thắt lưng buộc bụng để đổi lấy nguy cơ giải cứu mới cho Chính phủ. Trong khi đó, tình hình trở nên căng thẳng hơn khi Bộ trưởng Bộ Tài Chính nước này tuyên bố từ chức. Theo Bloomberg, với những diễn biến gần đây các nhà kinh tế của JPMorgan Chase và Barclays đều cho rằng, hiện nay khả năng Hy Lạp rời khỏi khu vực EU là càng thêm có cơ sở. Ngoài ra, theo Tradingeconomics, tỷ giá EUR/USD đã mất 3,5% giá trị trong tháng 06.

3

Trung Quốc thực sự đối mặt với thách thức tăng trưởng

Những khó khăn trong nội tại của kinh tế Trung Quốc khiến NHTW Trung Quốc (PBOC) tiếp tục cắt giảm lãi suất cơ bản xuống còn 4,85% vào ngày 28/6/2015, mức thấp nhất từ trước đến nay, đồng thời giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở một số ngân hàng. Từ tháng 11/2014, đây là lần điều chỉnh lãi suất thứ 4 của chính quyền nước này. Đều cùng thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ như EU, tuy nhiên, hiệu quả của những động thái này vẫn chưa có những phản hồi tích cực lên nền kinh tế. Trong tháng 06, hoạt động sản xuất của TQ chưa có nhiều chuyển biến, với chỉ số PMI (HSBC) chỉ ghi nhận mức 49,4 điểm. Trong khi đó, hoạt động bán lẻ ghi nhận mức tăng trưởng 10,1% trong tháng 05, tuy nhiên mức tăng này thấp hơn so với mức tăng 12,5% của cùng kỳ. Ngoài ra, hoạt động đầu tư vào lĩnh vực BĐS cũng ghi nhận sự sụt giảm đáng kể

4

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI

Trong tháng 6 vừa qua, thị trường chứng khoán thế giới đã có một tháng giao dịch không thành công khi hầu hết các chỉ số chứng khoán trọng yếu đều đã giảm điểm. Tại Mỹ, các tín hiệu phục hồi của nền kinh tế như chỉ số niềm tin tiêu dùng tăng từ mức 90 điểm của tháng Năm lên 96 điểm trong tháng Sáu và chỉ số PMI duy trì trên mức trung bình 50 điểm đã không được NĐT trên sàn chứng khoán đón nhận một cách tích cực.

Cả ba chỉ số chứng khoán bao gồm Dow Jones, S&P500 và Nasdaq đều giảm trong tháng 6, với mức giảm lần lượt là 2,17%, 2,10% và 2,47%. Ở châu Âu, sự hồi phục ở các nền kinh tế lớn như Pháp, Đức và Tây Ban Nha đã không đủ mạnh để tác động lên thị trường chứng khoán. Thay vào đó, diễn biến ngày càng xấu đi ở Hy Lạp đã tiếp tục ảnh hưởng đến thị trường tháng thứ 2 liên tiếp. Vì vậy, trong tháng 6, FTSE100 có mức giảm nhiều nhất là 6,64% trong khi CAC 40 và DAX giảm lần lượt là 4,35% và 4,11%.

Với những nhận định không lạc quan về kinh tế Trung Quốc so với các nền kinh tết trụ cột của thế giới, chỉ số SSE đã giảm nhiều nhất trong tháng qua với 7,76%. Ngoài ra, một số chỉ số chứng khoán giảm điểm đáng lưu ý là JKSE (-5,86%), HangSeng (-4,28%), TSEC (-3,90%). Cũng trong tháng 6 vừa qua, phản ứng trước quyết định không cắt giảm sản lượng của OPEC, giá dầu đã giảm 1,38% so với tháng 5.

5

KINH TẾ VIỆT NAM

Những chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong nửa đầu năm 2015

Như tiêu đề của BCCL năm 2015, “Kỳ vọng vào những điều tốt nhất” là nhận định của RongViet Research về nền kinh tế Việt Nam trong năm nay. Nhìn lại một nửa chặng đường của năm 2015, cánh cửa phục hồi của nền kinh tế của Việt Nam đang rộng mở hơn qua sự tích cực của các chỉ báo vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát, hoạt động sản xuất công nghiệp, niềm tin tiêu dùng, tăng trưởng tín dụng… Bên cạnh đó, cán cân thương mại đã đảo chiều theo hướng nhập siêu, sự bấp bênh của cam kết ổn định tỷ giá, năng lực xử lý nợ xấu còn yếu và lộ trình tái cấu trúc còn chậm là những vấn đề còn đang để ngỏ.

Tăng trưởng GDP khả quan cùng với mặt bằng giá cả ổn định

Tổng kết 6 tháng đầu năm, tăng trưởng GDP tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khả quan 6,28%, cao nhất trong vòng 4 năm qua. Điểm sáng trong báo cáo này đến từ sự tăng trưởng vượt bậc của khu vực công nghiệp và dịch vụ, tăng 9,09% so với mức tăng 5,12% của cùng kỳ. Ngoài ra, khu vực này cũng đóng góp 2,98 điểm phần trăm trong mức tăng chung, chiếm tỷ trọng đóng góp cao nhất trong ba khu vực. Củng cố thêm cho lập luận về sự phục hồi này đến từ kết quả khảo sát Nhà Quản trị mua hàng (PMI) trong 6 tháng đầu năm. Theo đó, chỉ số này liên tục duy trì trên mức 50 điểm, đi cùng với sự cải thiện của các chỉ số thành phần như sản lượng, đơn hàng và việc làm, góp phần khẳng định sự tăng trưởng vững chắc trong 6 tháng đầu năm.

Lạm phát thấp trong nửa đầu năm 2015 là yếu tố để nhìn nhận sự ổn định trong bức tranh vĩ mô chung của kinh tế Việt Nam. Theo GSO, lạm phát danh nghĩa và lạm phát lõi hiện nay đều duy trì mức tăng thấp nhất kể từ năm 2007. So sánh với các nền kinh tế khác trong khu vực, Việt Nam hiện đang nằm trong nhóm có mức lạm phát thấp nhất với mức tăng lũy kế đạt 0,94%. Đây cũng là nhân tố hỗ trợ cho hoạt động bán lẻ và tiêu dùng trong nước. Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (nếu loại trừ yếu tố giá) ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân 9,38%, cao hơn so mức tăng 6,02% của cùng kỳ

Vốn đầu tư cải thiện

Trong 6 tháng đầu năm 2015, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 553,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, điểm sáng chính của tình hình đầu tư đến từ sự cải thiện tốc độ tăng trưởng của khu vực ngoài nhà nước, tăng 11,4% so với mức tăng 7,9% so với cùng kỳ. Với mặt bằng lạm phát và lãi suất cho vay ở mức thấp như hiện tại, khu vực này đã ghi nhận những chuyển động tích cực hơn so với năm trước.

Điều này cũng phù hợp với những nhận định trong Báo cáo chiến lược năm 2015 của chúng tôi. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam lại tiếp tục có sự sụt giảm về số vốn đăng ký. Lũy kế đến tháng 06, số vốn đăng kí mới và đăng kí thêm đều giảm mạnh, tương ứng với 21% và 17% so với cùng kỳ. Mặc dù có sự cải thiện về tốc độ giải ngân vốn thực hiện, tăng 9,6% so với cùng kỳ, việc giữ được tốc độ tăng trưởng và giải ngân vốn đầu tư trong tương lai có thể chịu ảnh hưởng do vốn đăng ký sụt giảm.

Thu chi ngân sách Nhà nước tốt hơn dự báo

Theo GSO, tình hình thu NSNN 6 tháng đầu năm tích cực hơn so với kỳ vọng từ đầu năm, đạt 406,2 nghìn tỷ đồng, tương đương với mức tăng 7,8% so với cùng kỳ. Đóng góp chính cho sự tăng trưởng này đến từ mức tăng khả quan của nguồn thu nội địa, với mức tăng 16,4% so với cùng kỳ. Trong đó, các khoản thu phí và lệ phí ghi nhận mức tăng tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ. Ở khía cạnh ngược lại, hoạt động chi NSNN 6 tháng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, đạt 11,5% so với cùng kỳ. Đáng lưu ý, khoản chi trả nợ và viện trợ tăng mạnh với mức tăng ~29%.

Tính đến ngày 15/6/2015, lũy kế thâm hụt NSNN đạt 95.000 tỷ đồng và chỉ tương đương với 42% dự toán năm nay. Với diễn biến tình hình thu chi NSNN nửa đầu năm nay, trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng bội chi ngân sách ảnh hưởng đến trần nợ công có thể được giảm bớt, tuy nhiên áp lực trả nợ vẫn đang khá cao khi kênh huy động vốn là TPCP đang gặp khó khăn.

6

Trong tháng 6, TPCP huy động tăng mạnh so với tháng trước nhưng nhìn chung kế hoạch phát hành TPCP trong năm nay chỉ mới đạt được ~1/3 kế hoạch cả năm 2015. Theo thống kê của chúng tôi, so với tháng 05, khối lượng trái phiếu chính phủ huy động trên thị trường sơ cấp trong tháng 06 đạt 7.381 tỷ đồng, trong đó tăng 116,6% so với tháng 05. Ngoài ra, lãi suất trúng thầu ở các kỳ hạn đang có dấu hiệu tăng lên cho thấy nhu cầu đầu tư vào kênh tín phiếu đang thu hẹp, cụ thể, lãi suất trúng thầu của trái phiếu kỳ hạn 5 năm là 5,45- 6,4%/năm, tăng ~39 điểm phần trăm so với đầu năm. Đối với kỳ hạn 10 năm và 15 năm, vùng lãi suất trúng thầu dao động quanh mức là 6,5-6,6% và 7,6-7,64%, tăng tương ứng ~10 điểm phần trăm và 4 điểm phần trăm so với đầu năm.

Kỳ vọng nới biên độ phá giá đồng VND

Quan ngại về vấn đề tỷ giá của chúng tôi đã được kiểm chứng khi NHNN đã tiến hành điều chỉnh hết biên độ tỷ giá mục tiêu cho năm 2015 ngay trong nửa đầu năm. Bối cảnh chung là đồng USD lên giá so với các tiền tệ khác tác động tiêu cực đến xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp và thủy sản. Ngoài ra, diễn biến trên cũng tác động tiêu cực đến ngành dịch vụ du lịch của Việt Nam. Tính đến hiện tại, tỷ giá đã tăng ~1,95% so với đầu năm, đồng thời việc tỷ giá giao dịch sát trần biên độ cho thấy kỳ vọng về việc phá giá tiền đồng vẫn đang hiện hữu. Trong Q2/2015, NHNN đã can thiệp để ổn định tỷ giá bằng cách sử dụng dự trữ ngoại hối, chúng tôi cho rằng công cụ này sẽ tiếp tục được sử dụng trong nửa cuối năm khi nhu cầu nhập khẩu ngày càng tăng.

Xử lý nợ xấu và tiến trình cổ phần hóa chưa có nhiều thay đổi

Trong khi vấn đề tỷ giá là đề tài nóng, tăng trưởng tín dụng vẫn giữ tốc độ tăng nhịp nhàng trong những tháng vừa qua. Theo đó, tín dụng tiếp tục ghi nhận mức tăng khả quan, đạt 6,09% - mức tăng cao nhất trong vòng 4 năm qua. Tuy nhiên, nợ xấu của hệ thống vẫn là một thách thức lớn. Theo thống kê của NHNN, tính đến cuối tháng 03/2015, tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng chiếm 5,53% tổng dư nợ, tăng mạnh so với mức 3,25% cuối tháng 12/2014. Trong khi đó, Chính Phủ đã ban hành thêm nhiều quyền hạn cho công ty quản lý tài sản (VAMC) thông qua việc ban hành nghị định 34 (ngày 05/04/2015). Tính đến tháng 06/2015, tổ chức này đã duyệt mua 28.194 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng, nâng tổng số nợ xấu tổ chức này đã mua là 143.800 đồng, trong đó, chỉ mới thu hồi và phát mãi được khoảng 8.670 tỷ đồng nợ xấu. Ngoài ra, vấn đề cổ phần hóa DNNN cũng đang được tiến hành với tiến độ khá chậm. Theo Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 05/2015, cả nước đã cổ phần hóa xong 43 doanh nghiệp, trong tổng số 289 doanh nghiệp theo kế hoạch năm nay. Trong 7 tháng còn lại của năm, tiến độ cổ phần hóa sẽ phụ thuộc nhiều vào việc các DNNN đã có công tác chuẩn bị cho bản thân các doanh nghiệp, hơn là ý chí chủ quan của Nhà nước.

Các nhân tố đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm và sẽ tiếp tục duy trì trong nửa cuối năm

Đầu tư tư nhân ghi nhận chuyển biến đáng kể

Theo số liệu của NHNN, 6 tháng đầu năm 2015, tín dụng của toàn hệ thống tăng trưởng 6,28% so với cùng kỳ, mức tăng cao nhất trong vòng 3 năm. Sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng là tín hiệu khả quan và gắn liền với tình hình đầu tư của khu vực tư nhân. Cụ thể, vốn đầu tư của khu vực tư nhân trong nửa đầu năm 2015 đạt 202.800 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ.

So với hai khu vực nhà nước và nước ngoài, khu vực tư nhân ghi nhận mức tăng trưởng tốt nhất trong 6 tháng. Đồng thời, chúng tôi nhận thấy đang có một sự thay đổi tích cực trong cơ cấu vốn đầu tư, theo đó, vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm khoảng 36,6% tổng vốn, gần bắt kịp khu vực Nhà nước với tỷ trọng trong vốn đầu tư ~38,6%.

Có thể nói, tăng trưởng tín dụng đặt trong chỉ tiêu lớn là tăng trưởng vốn đầu tư hàm ý hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân đã khởi sắc trở lại. Theo GSO, trong 6 tháng đầu năm 2015, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 21,7% và tổng vốn đăng ký tăng 22,3% so với cùng kỳ. Xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ được sự ổn định và tăng trưởng trong hoạt động sản xuất và đơn hàng mới. Đây là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không chỉ trong nửa đầu năm mà còn trong cả những tháng tiếp theo

7

Mặc dù sự phục hồi vừa mới định hình, tuy nhiên, những ngày cuối tháng 6/2015, lãi suất bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại. Đầu tiên là mức điều chỉnh nhỏ từ 0,05-0,5%/năm tại các ngân hàng nhỏ, sau đó là các ngân hàng lớn. Trong khi đó, lãi suất cho vay cũng có dấu hiệu nhích nhẹ từ 0,02-0,05%/năm. Kết quả này đến từ việc tự cân đối cung-cầu vốn của các NHTM, nhìn rộng ra có thể là do các nguyên nhân sau: (1) tăng trưởng huy động thấp hơn tăng trưởng cho vay; (2) ngân hàng cần thu hút tiền gửi để tài trợ cho nhu cầu tăng trưởng tín dụng trong những tháng cuối năm; (3) kênh tiền gửi trở nên kém hấp dẫn hơn so với kênh tài sản khác như bất động sản, USD, chứng khoán…Theo đánh giá của RongViet Research, tăng trưởng tín dụng sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt trong nửa cuối năm, và vượt mục tiêu 13-15% nhờ sự phục hồi của khu vực sản xuất và doanh nghiệp tư nhân. Xu hướng đảo chiều của lãi suất có thể không tác động tiêu cực đến hoạt động cho vay khi NHNN vẫn duy trì trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Ngoài ra, định hướng tiếp tục giảm nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro đối với các ngân hàng sẽ điều tiết để nguồn vốn được phân bổ hiệu quả hơn

Tiêu dùng sản phẩm công nghiệp và hàng hóa đang cải thiện

Tăng trưởng sản xuất công nghiệp ổn định là yếu tố chúng tôi thường xuyên đề cập trong các nhận định về bức tranh vĩ mô. Xét sâu hơn về tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ theo nhóm ngành chúng tôi nhận thấy ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang chia thành 3 nhóm sau:

(1) Tích cực - sản xuất trong nước và tiêu thụ khả quan: Thiết bị truyền thông, Sản phẩm điện tử, Xe có động cơ, Bao bì, giấy, Dệt sợi, Thức ăn chăn nuôi, Bê tông, thạch cao…

(2) Cơ hội mở rộng - sản xuất ổn định trong khi nhu cầu tăng trưởng tốt hơn: Sữa, Pin & Ắc quy, Dây cáp, Thép, Dược phẩm…

(3) Sản xuất tăng mạnh hơn nhu cầu: Xi măng, linh kiện điện tử, thực phẩm…

Kết quả về tình hình sản xuất và tiêu thụ đồng thời cũng mô tả phần nào bức tranh hoạt động của các doanh nghiệp mỗi ngành trong nửa đầu năm 2015. Đối với tiêu dùng hàng hóa, tỷ trọng doanh số bán hàng của khu vực tư nhân trong tổng doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ gia tăng liên tục từ đầu năm đến nay. Đặc biệt, tăng trưởng bán lẻ hàng hóa ghi nhận mức tăng khá tốt, đạt ~13% và cao hơn so với mức tăng 10% của cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 9,09% so với cùng kỳ, trong khi đó, lĩnh vực dịch vụ chỉ tăng trưởng 5,9%, lĩnh vực nông lâm nghiệp thậm chí có sự sụt giảm trong tăng trưởng chỉ còn 2,36%. Như vậy, trụ đỡ chính cho tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm là khu vực công nghiệp, với xu hướng mở rộng của chỉ số PMI thì chúng tôi kỳ vọng khu vực này tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng trong hai quý còn lại của năm.

Gần đây, trong Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 06/2015, Chính phủ đã đưa ra yêu cầu Bộ Công thương nâng sản lượng khai thác dầu thô trong nước. Đây là dấu hiệu cho thấy sự chuyển biến trong mục tiêu chính sách: nếu như đầu năm đảm bảo ổn định của kinh tế vĩ mô là mục tiêu quan trọng hàng đầu thì trong nghị quyết mới nhất, định hướng điều hành có phần nghiêng về việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vượt mục tiêu đầu năm. Tuy nhiên, giải pháp được đưa ra lại tập trung vào giải quyết diễn biến bất lợi giá dầu thô đối với tăng trưởng kinh tế thông qua tăng sản lượng khai thác.

Theo GSO, thu từ dầu thô tính đến 15/06 đạt 30.200 tỷ đồng, giảm 32,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tình hình ngân sách Nhà nước tích cực hơn dự báo của chúng tôi nhờ sản lượng dầu thô khai thác tăng cùng với sự gia tăng đến từ các nguồn thu khác. Trong 1H2015, sản lượng khai thác dầu thô ước đạt 9,26 triệu tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ và tương đương 55% kế hoạch của PVN. Thông thường, sản lượng khai thác dầu thô Chính phủ giao thấp hơn sản lượng muc tiêu của PVN, do đó, chúng tôi cho rằng việc tăng sản lượng khai thác như các phương tiện truyền thông đề cập là nằm trong kế hoạch của PVN. Như vậy, vấn đề ở đây là tăng khai thác liệu có hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế hay không? Theo quan điểm của chúng tôi, điều này đã diễn ra trong nửa đầu năm 2015. Cụ thể, tăng trưởng của ngành công nghiệp khai khoáng trong 6 tháng đạt 8,18%, trong khi cùng kỳ năm trước giảm 1,13%. Việc tăng sản lượng khai thác dầu thô có thể đã đóng góp đáng kể cho mức tăng của ngành công nghiệp này trong nửa đầu năm, từ đó hỗ trợ cho tăng trưởng GDP.

8

So sánh thế mạnh về thương mại của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

Trong các lần cập nhật trước, chúng tôi thường đề cập đến những điểm sáng của khối doanh nghiệp FDI. Đối với lần cập nhật này, chúng tôi muốn phân tích thế mạnh về thương mại của khối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Số liệu thống kê 5 tháng đầu năm cho thấy thành tích về tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu đến từ khối FDI, trong đó những sản phẩm tăng trưởng khá gồm có: (1) Điện thoại, linh kiện; (2) Máy vi tính, máy ảnh, quay phim và (3) Hàng dệt may.

Đây đều là các ngành thâm dụng lao động nên lượng lao động khu vực doanh nghiệp FDI tăng trưởng khá mạnh trong nửa đầu năm ~10,5%, đặc biệt, quy mô tuyển dụng tập trung tại Thái Nguyên (+61,7% so với cùng kỳ) – nơi đặt nhà máy của Samsung. Trong khi đó, nếu tách hẳn ra thì thế mạnh của doanh nghiệp nội địa gồm các sản phẩm như: (1) Thủy sản; (2) Nông sản; (3) Dệt may; (4) Gỗ và (5) Giày dép. Trong 5 tháng đầu năm, sản phẩm gỗ và giày dép ghi nhận mức tăng trưởng cao, dệt may tăng trưởng khá trong khi thủy sản và nông sản bị sụt giảm về tăng trưởng.

Trong điều kiện tỷ giá tiếp tục được giữ ổn định, rủi ro về giá tiếp tục sẽ là gánh nặng đối với các doanh nghiệp nội địa thuộc khu vực nông nghiệp và thủy sản trong thời gian còn lại của năm. Xét ở khía cạnh nhập khẩu, chúng tôi nhận thấy nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu của khối FDI rất tích cực (+58,1% so với cùng kỳ).

Trong khi đó, khu vực trong nước có phục hồi thể hiện qua nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị có tăng trưởng tuy nhiên không mạnh bằng khối FDI, chỉ tăng ~16% so với cùng kỳ. Nhu cầu đầu tư mới của doanh nghiệp nội địa có vẻ còn hạn chế và chúng tôi cho rằng sử dụng từ “phục hồi” đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong nước là phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy có sự phân hóa trong xu hướng sản xuất giữa khối FDI và khối doanh nghiệp nội địa.

Cụ thể, những sản phẩm khối FDI có nhu cầu nhập khẩu mạnh gồm có (1) sản phẩm từ sắt thép; (2) máy vi tính, điện tử linh kiện; (3) điện thoại và linh kiện. Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước tăng cao ở các mặt hàng như (1) thức ăn gia súc; (2) sản phẩm từ giấy; (3) kim loại thường; (4) hàng điện gia dụng và linh kiện và (5) nguyên phụ liệu dệt may.

Ngoài ra, mặt hàng nhập khẩu nổi bật của khu vực doanh nghiệp nội địa là ô tô trong nước với mức tăng trưởng lên đến 189% so với cùng kỳ, tuy nhiên mặt hàng này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng cơ cấu nhập khẩu ~1,8% trong 5 tháng đầu năm. Có thể thấy, mặt hàng nhập khẩu của khu vực FDI phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất từ đó đáp ứng đơn hàng xuất khẩu, trong khi các mặt hàng nhập khẩu chính yếu của khu vực trong nước chưa cho thấy ảnh hưởng rõ rệt lên cơ cấu xuất khẩu của khối này.

TTCK THÁNG 06/2015: Kỳ vọng của nhà đầu tư đang dần được hiện thực hóa

Sự hiện thực hóa các kỳ vọng liên quan đến TPP và nới room đối với khối ngoại,… đã hình thành trụ đỡ duy trì xu hướng tăng của thị trường trong tháng Sáu. Tuy nhiên, trái với sóng tăng phi mã của giai đoạn nửa cuối tháng Năm, kênh tăng giá tháng Sáu trải qua nhiều gập ghềnh hơn.

Tại nhiều thời điểm khi đa số cổ phiếu gần như hết động lượng tăng điểm thì lực kéo từ một số mã vốn hóa lớn được NĐTNN mua mạnh như VCB, SSI, BID, BVH… đã giúp các chỉ số chinh phục mốc cao mới. Rong Viet Research cho rằng sự đan xen các phiên tăng giảm trong tháng 6 sẽ mang lại tâm lý tích cực đối với thị trường trong giai đoạn tiếp theo. Trong một xu hướng tăng bền vững, các nhịp giảm nhẹ sẽ giúp NĐT bớt lo ngại rủi ro “tăng nóng” và tạo cơ hội cho NĐT tích lũy các cổ phiếu ưa thích, đặc biệt là các NĐT theo trường phái đầu tư theo dòng tiền trên thị trường.

Chốt phiên cuối tháng Sáu, VNIndex đạt 593,05 điểm và HNIndex đạt 84,94 điểm, lần lượt tăng 4,1% và 2,1% so với phiên cuối tháng Năm. Tính chung 6 tháng đầu năm, VNIndex tăng 8,7% và HNIndex tăng 2,4%.

9

Đợt tăng điểm hiện tại duy trì khá tốt về mặt thời gian, hơn 1,5 tháng. Trước đó, thị trường từng trải qua đợt sóng tăng dài hơn 2,5 tháng (từ cuối năm 2014 đến cuối tháng 2/2015). Tuy nhiên, sự tích cực của đợt tăng điểm lần thứ hai trong năm là thu hút dòng tiền tham gia nhiều hơn. Giá trị khớp lệnh trung bình trong 1,5 tháng qua đạt 2.700 tỷ đồng/phiên, cao hơn mức trung bình của đợt tăng đầu năm khoảng 28%. Trái với sóng tăng điểm đầu năm chỉ phản ánh sự tích cực cục bộ ở nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng, đợt tăng điểm hiện tại được dẫn dắt luân phiên của nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng và một số trụ cột khác, tạo được sức lan tỏa đến nhiều nhóm thành viên tham gia thị trường.

Ngoài ra, nhịp sóng đầu năm tuy kéo dài hơn hai tháng nhưng biên độ biến động rộng và biến đổi trạng thái tăng giảm đột ngột trong khi con sóng lần này khá hài hòa và đông đủ các thành viên lẫn nhóm cổ phiếu tham gia, với nhịp tăng mạnh (nửa cuối tháng 5) tạo tâm lý hưng phấn kết hợp cùng kênh tăng giá dập dềnh (tháng 6). Dòng tiền đầu tư vào thị trường theo đó gia tăng dần. Trung bình tháng 6 có khoảng 228,9 triệu cổ phiếu giao dịch khớp lệnh mỗi phiên, tăng hơn 23% so với tháng 5 và 61% so với trung bình năm. Trong sự hưng phấn chung của thị trường, một số ngành đã có diễn biến tích cực trên diện rộng và thu hút lượng lớn dòng tiền của thị trường như: ngân hàng, dịch vụ chứng khoán, xây dựng và vật liệu xây dựng, bất động sản, công nghệ,…

Ngoài nhóm ngành thu hút được dòng tiền của thị trường, nhóm cổ phiếu phòng thủ, điển hình như ngành bảo hiểm cũng đã ghi nhận mức tăng điểm hơn 7,6% trong tháng Sáu và 22% trong sáu tháng đầu năm. Theo chuyên viên ngành của chúng tôi, triển vọng ngành trong tương lai khá tích cực. Trong khu vực, năm 2014, ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng tốt hơn so với các nước khác, chẳng hạn: Indonesia (bắt đầu tái cấu trúc lại ngành BH), Malaysia (cắt giảm ngân sách cho cơ sở hạ tầng), Thái Lan (tình hình chính trị không ổn định). Đồng thời, thị trường bảo hiểm tại VN vẫn còn nhiều tiềm năng tăng trưởng (ngành BH chỉ góp khoảng 2% vào GDP) nên thị trường này thu hút nhiều đối tác bảo hiểm nước ngoài. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm đang tìm cách mở rộng thị trường ra nước ngoài, đến các thị trường mới hơn để tối ưu hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, đặc biệt tại Lào và Campuchia.

10

GIAO DỊCH KHỐI NGOẠI: Hình thành sự ổn định

11

Hoạt động giao dịch của khối ngoại tiếp tục được duy trì tích cực với trạng thái mua ròng trong tháng 6. Giá trị giao dịch ròng vào khoảng 1.532 tỷ đồng, tăng gần 10% so với tháng 5. Qua ½ chặng đường của năm 2015, có thể thấy tâm lý của khối ngoại trong quý 2 đã được cải thiện rất đáng kể so với hồi đầu năm. Trong quý 1, thị trường đã đón nhận những thông tin xấu như việc khả năng nâng lãi suất từ FED và biến động không ổn định của giá dầu.

Bên cạnh đó, thông tin nới room ngoại vẫn chưa có nhiều diễn biến tích cực đã gây nên tâm lý khá dè dặt cho khối ngoại. Cụ thể, giao dịch của khối ngoại trong quý 1 không có sự ổn định khi bán ròng trong tháng 1 (179,7 tỷ đồng) và tháng 3 (874,3 tỷ đồng). Cho đến cuối quý 1, giá trị giao dịch tích lũy ròng chỉ là 108,9 tỷ đồng, giảm 86% so với Q1/2014. Tuy nhiên, khối ngoại đã thể hiện một “bộ mặt” khác trong Quý 2. FED đã có những dấu hiệu ngập ngừng về quá trình nâng lãi suất.

Bên cạnh đó, việc chính thức ra nghị định nới room ngoại (Nghị định 60) cũng đã tác động khá tích cực lên thị trường. Do đó, đóng cửa ngày 30/6, giá trị giao dịch tích lũy ròng đã đạt 4,881.2 tỷ đồng, chỉ còn giảm 13,2% so với Q2/2014. Đặc biệt, với thông tin hỗ trợ về nới room ngoại trong tháng 6, khối ngoại đã tập trung vào một số nhóm ngành như chứng khoán (SSI, VND), ngân hàng (BID, STB, VCB). Một số cổ phiếu nổi bật khác được khối ngoại mua ròng là BVH (94,4 tỷ đồng), PVS (192,7 tỷ đồng). Giá (P) chứng chỉ quỹ (CCQ) của hai ETF có ảnh hưởng lớn trên sàn chứng khoán Việt Nam là VNM ETF và FTSE ETF đã cao hơn so với NAV từ nửa cuối tháng Sáu. Số lượng CCQ lưu hành nhờ vậy cũng tăng lên, khoảng 450.000 CCQ FTSE và 1,1 triệu CCQ VNM.

Với lượng tiền tăng thêm, hai quỹ ETF đã giao dịch khá sôi động trên TTCK Việt Nam trong nửa cuối tháng Sáu, với tổng giá trị vốn rót ròng khoảng 1.300 tỷ đồng, chiếm 85% tổng giá trị mua ròng tháng Sáu của NĐT nước ngoài. Tính chung 6 tháng đầu năm, khối lượng CCQ lưu hành của hai quỹ này biến động trái chiều. Theo đó, số lượng CCQ của FTSE ETF đã giảm từ 14,07 triệu CCQ còn 14,01 triệu CCQ, tương ứng khoảng 323 tỷ đồng bị rút ra.

Ngược lại, số lượng CCQ của VNM ETF đã tăng hơn 11% lên 28 triệu CCQ, tương ứng khoảng 896 tỷ đồng được thêm vào thị trường Việt Nam. Như vậy, tổng giá trị hai quỹ đã rót vốn vào thị trường trong 6 tháng đầu năm là xấp xỉ 573 tỷ đồng, chiếm khoảng 12% giá trị giao dịch ròng của khối ngoại trong 6 tháng đầu năm. Trong 6 tháng cuối năm, chúng tôi cho rằng những thông tin về điều kiện ngành nới room sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng giao dịch của khối ngoại.

Tuy nhiên, theo đánh giá của chuyên viên vĩ mô, khả năng FED sẽ nâng lãi suất vào tháng 9. Do đó, dòng vốn ngoại từ Mỹ có thể sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, đặc biệt là quỹ VNM ETF. Chúng tôi cho rằng khả năng một số cổ phiếu trong rổ VNM ETF có thể sẽ bị khối ngoại rút vốn trong 6 tháng cuối năm nếu việc nâng lãi suất được thực hiện.

12

THÁNG 07/2015: Cẩn trọng trước sự hồ hởi

Nhìn chung, trong tháng Sáu, hai chỉ số tăng điểm khá tốt với thanh khoản duy trì ổn định trên cả HSX và HNX. Dù vậy, có thể dễ dàng nhận thấy trong suốt tháng Sáu, TTCK vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của nhóm cổ phiếu lớn.

Trong đó, nhóm cổ phiếu ngân hàng với VCB, BID, BVH, SHB và CTG lần lượt dẫn dắt VNIndex và HNIndex, đẩy các chỉ số này đi xa diễn biến thực trên thị trường. Tính chung cả tháng vừa rồi, mức tăng trưởng của chỉ số ngành ngân hàng vượt qua VN30 và VNIndex lần lượt 9,3% và 9,9%. Với nhận định này, chúng tôi cho rằng, trong nửa đầu tháng Bảy, TTCK có thể tiếp tục đi lên nhờ đà tăng của nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Đồng thời, thanh khoản sẽ tăng lên sau khi VNIndex vượt ngưỡng tâm lý 600 điểm.

Như vậy, xu hướng chung của các chỉ số là tích cực nhưng đại đa số cổ phiếu sẽ chỉ tăng nhẹ hoặc đi ngang. Từ giữa tháng, khoảng cách ngày càng xa giữa nhóm cổ phiếu lớn với phần còn lại của thị trường làm gia tăng rủi ro điều chỉnh. Vùng biến động dự báo đối với VNIndex là 595-639 và HNIndex là 86-92. Chỉ số tăng điểm nhưng giá trị danh mục không có sự tăng trưởng là mối quan tâm chung của phần đông nhà đầu tư trong tháng Sáu

. Với tâm lý sợ lỡ mất cơ hội, dòng tiền của từ khối nhà đầu tư nhỏ, lẻ đã bắt đầu rời những cổ phiếu nhỏ và mang tính đầu cơ để tham gia vào “sóng” tăng của nhóm cổ phiếu lớn trong những ngày cuối tháng Sáu và đầu tháng Bảy. Tuy nhiên, khi các chỉ số đạt đến một mặt bằng giá mới, định giá của nhiều cổ phiếu nhỏ sẽ trở nên hấp dẫn hơn một cách tương đối. Dòng tiền khôn ngoan khi đó sẽ tìm đến những cổ phiếu có vốn hóa trung bình thấp và chưa tăng đáng kể.

13

LỰA CHỌN CÁC NHÓM NGÀNH TRIỂN VỌNG: CƠ HỘI VẪN CÒN

Như chúng tôi đã phân tích ở phần Kinh tế vĩ mô, sự mất cân đối trong cơ cấu xuất nhập khẩu của khối DN nội và khối FDI có nhiều hàm ý cho việc lựa chọn nhóm ngành đầu tư. Trong đó, các ngành sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh sẽ là những ngành có KQKD được kỳ vọng tích cực. Trong quý 1, KQKD của các doanh nghiệp ngành dệt may nhìn chung khá khả quan.

TNG ghi nhận mức tăng vượt bậc 45% DT và 180% về LNST trong quý 1 trong khi TCM ghi nhận LNST giảm 10% do ảnh hưởng từ biến động của thị trường sợi; GMC chỉ tăng trưởng tương đối. Dù vậy, giá cổ phiếu ngành dệt may hầu như không có nhiều biến động so với thời điểm đầu năm. Với thông tin TPA cuối cùng đã được Quốc Hội Mỹ thông qua, mở đường kết thúc đàm phán TPP, giá cổ phiếu dệt may bắt đầu thoát xu thế đi ngang trong hai tuần cuối tháng Sáu.

Trong tháng 7, giá cổ phiếu có thể cũng sẽ phản ứng có với thông tin KQKD quý 2. Với mức tăng 10,1% trong kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong quý vừa rồi, chúng tôi kỳ vọng KQKD của các doanh nghiệp dệt may sẽ được củng cố đáng kể trong quý 2. Nửa sau quý 3 và quý 4 thường là cao điểm xuất khẩu hàng may mặc. Theo khảo sát của Tổng Cục Thống Kê, đa số doanh nghiệp trong ngành đều kỳ vọng tích cực về xu hướng kinh doanh quý 3, đặc biệt là sản lượng (55,9%) và số lượng đơn hàng xuất khẩu (65,4%). Đồng thời, sau khi TPA có hiệu lực, tiến trình đàm phán TPP sẽ được đẩy nhanh. Do vậy, hai quý cuối năm cũng có thể là điểm rơi của thông tin hỗ trợ ngành liên quan đến TPP. Dù các cổ phiếu dệt may đã có mức tăng khá tốt trong tháng vừa rồi, cơ hội tích lũy là vẫn còn nếu nhóm cổ phiếu này điều chỉnh theo thị trường chung.

Trái với ngành dệt may, tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong ba tháng đầu năm không mấy khả quan (giảm 14% so với quý 1/2014), đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng 2015, giá trị xuất khẩu tôm đã giảm 29% trong khi giá trị xuất khẩu cá tra giảm 10% so với cùng kỳ; giá bán tại các thị trường cũng giảm từ 7-10% đối với tôm và 2-3% đối với cá. Trong đó, nhu cầu thị trường tại các nước xuất khẩu như Mỹ, EU, Nhật Bản giảm do đồng USD mạnh lên trong khi nguồn cung của Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia tăng mạnh là những yếu tố gây áp lực lên sản lượng xuất khẩu và giá bán. Trong quý 2/2015, xuất khẩu thủy sản ước tính tăng 22% so với quý 1 nhưng thấp hơn 14% cùng kỳ. Do vậy, chúng tôi cũng nhận định KQKD quý 2 của các công ty thủy sản là sẽ tiếp tục giảm so với cùng kỳ dù có phần khả quan hơn quý 1.

Trong tháng Bảy, nhiều khả năng sẽ có sự phân hóa trong diễn biến giá cổ phiếu giữa các doanh nghiệp lớn có KQKD khả quan và các doanh nghiệp nhỏ với mức tăng trưởng kém tích cực hơn. Nhìn về cuối năm, quý 3 thường là quý có tăng trưởng doanh thu tốt nhất của ngành. Sự phục hồi trong nhu cầu của thị trường Mỹ khi lượng hàng tồn kho từ cuối năm ngoái được tiêu thụ hết được kỳ vọng sẽ đem lại nhiều chuyển biến tích cực về giá bán và sản lượng xuất khẩu trong hai quý cuối năm. Hiện tại, chúng tôi vẫn cho rằng cổ phiếu ngành thủy sản còn cơ hội tăng giá và lợi thế vẫn thuộc về những cổ phiếu có cơ cấu hàng tinh chế cao và khả năng tự chủ nguyên liệu tốt như VHC, FMC.

CHỈ SỐ CÁC NHÓM NGÀNH

14

15

CHỈ SỐ VĨ MÔ 06 THÁNG ĐẦU NĂM

16

17

2

 

 

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds 

hotline