Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo chiến lược 2015( Phần 1 )

Được đăng vào 01-01-2015

Báo cáo chiến lược 2015

Xét về mặt tổng thể, kinh tế thế giới năm 2015 như một guồng quay nước không hoàn thiện, chỗ đầy và lên cao, chỗ thiếu và đi xuống. Trong điều kiện đó, chính sách điều hành của NHTW các nước đang cố gắng làm đầy những chỗ còn thiếu hoặc hãm lại để không cho nước tràn ra. Việc giá hàng hóa đi xuống có thể ví là một dòng chảy mạnh có thể mang nước lên những chỗ cao đồng thời cũng có thể tàn phá những chỗ yếu ớt. Trong bối cảnh thiếu đi sự thuận lợi về tổng thể, chúng tôi cho rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ nhận lấy cả những lợi ích và rủi ro mà môi trường kinh tế toàn cầu năm 2015 mang lại

Tăng trưởng không đồng đều. Theo báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu của IMF cập nhật ngày 19/01/2015, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2015 ước đạt 3,5%, giảm 0,3% so với dự báo trước đó. Theo đó, triển vọng trong năm nay dự báo tiếp tục có sự phân hóa giữa các nền kinh tế, nổi bật là tốc độ tăng trưởng là Mỹ và Ấn Độ, trong khi đó, hầu hết các nền kinh tế còn lại đều đang trong tình trạng phục hồi chậm hoặc thậm chí suy giảm về tăng trưởng. Xét trong nhóm các nước phát triển, Mỹ được xem là một điểm sáng với triển vọng kinh tế khả quan trong năm nay nhờ sự cải thiện của nhiều yếu tố như tăng trưởng GDP, thị trường lao động, niềm tin tiêu dùng và hoạt động sản xuất. Ngược lại, hai nền kinh tế lớn khác là EU và Nhật Bản tiếp tục vấp phải nhiều khó khăn trong việc tìm lại động lực hồi phục kinh tế.

Các báo cáo kém khả quan về tăng trưởng GDP, đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp còn duy trì mức cao (EU) hàm ý nhiều khó khăn mà nền kinh tế này phải tiếp tục đối mặt. Đối với nhóm các nền kinh tế còn lại, bức tranh tăng trưởng có thể xem là đầy đủ các thái cực. Trong khối các nước BRICs, Ấn Độ nổi lên với kỳ vọng đột phá trong năm 2015 đến từ sự cải thiện chỉ tiêu lạm phát và thâm hụt NSNN. Theo World Bank, tăng trưởng GDP năm 2015 của nước này ước đạt 6,4% và thuộc top các nền kinh tế tăng nhanh nhất thế giới.

Ngược lại, nền kinh tế Trung Quốc dự báo sẽ bắt đầu bước vào một giai đoạn phát triển kinh tế chậm hơn sau thời gian dài tăng trưởng nóng được thúc đẩy bởi đầu tư Chính Phủ và xuất khẩu, tuy nhiên, mô hình tăng trưởng mới tập trung vào nhu cầu tiêu dùng nội địa và dịch vụ có thể xem là bước đệm để nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chuyển sang giai đoạn tăng trưởng chậm hơn nhưng bền vững hơn. Trong khi đó, hai nền kinh tế còn lại thuộc khối BRICs là Nga và Brazil dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong năm 2015. Tăng trưởng chậm lại, lạm phát cao trong khi đồng nội tệ đang mất giá là nhận định trong phần lớn các dự báo của các tổ chức kinh tế đối với hai nền kinh tế này.

Ngoài ra, các vấn đề nội tại liên quan đến nợ công (Brazil) và căng thẳng kinh tế với EU (Nga) cũng khiến tình hình các quốc gia này được nhận định sẽ tồi tệ hơn trong năm nay. Đối với nhóm các nền kinh tế khu vực Đông Á và Đông Nam Á như Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong và ASEAN-5, tăng trưởng chậm lại là bức tranh chung của hầu hết các nước thuộc khu vực này. Theo IMF, bên cạnh tác động của các yếu tố như biến động kinh tế toàn cầu và giá dầu giảm, đà suy giảm của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc cũng sẽ có những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế mới nổi châu Á trong năm nay.

Làn sóng nới lỏng tiền tệ. Trong bối cảnh các nền kinh tế trên toàn cầu có mức tăng trưởng không đồng đều, guồng quay định hướng chính sách tiền tệ của các NHTW tiếp tục có nhiều chuyển biến phân hóa trong năm nay. Hiện nay, lạm phát (chính xác hơn là lạm phát tiền lương) đang được xem là yếu tố quyết định thời điểm chính quyền FED sẽ tăng lãi suất. Theo khảo sát mới nhất của CNBC, nhiều nhà kinh tế cũng đồng thuận rằng tháng 9/2015 là thời điểm thích hợp để FED tiến hành nâng lãi suất, với lãi suất dự báo sẽ đạt mức 0,73% vào 12/2015. Tương tự với FED, chính quyền Brazil và Nga đã bắt đầu áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ với việc thực hiện nâng lãi suất cơ bản từ cuối năm 2014 để đối phó với tình trạng lạm phát cao và đồng nội tệ liên tục rớt giá ở hai nước này.

Trái ngược với định hướng về chính sách tiền tệ của ba quốc gia trên, đại bộ phận các NHTW đều đang và dự định thực hiện các chương trình nới lỏng tiền tệ thông qua việc cắt giảm lãi suất điều hành hoặc sử dụng các gói nới lỏng định lượng. Gói kích thích kinh tế trị giá ~30 tỷ USD của BOJ (áp dụng từ cuối năm 2014) và ~1.100 tỷ USD của ECB (bắt đầu áp dụng từ tháng 03/2015) là những chương trình nới lỏng đầu tiên của hai NHTW (sau FED) thực hiện nhằm nỗ lực vực dậy đà tăng trưởng mong manh, bên cạnh đó, các chương trình này cũng kỳ vọng sẽ mang lại nhiều hiệu ứng tích cực đối với kinh tế toàn cầu. Ví dụ điển hình cho việc thực hiện nới lỏng tiền tệ thông qua công cụ lãi suất là hai NHTW PBOC (Trung Quốc) và BOI (Ấn Độ). Vào tháng 01/2015, Ấn Độ đã tiến hành cắt giảm lãi suất cơ bản 0,25% xuống còn 7,75%, đây là những tín hiệu bước đầu cho những chính sách điều hành mạnh tay hơn của chính quyền nước này trong năm nay. Theo nhiều nhận định, diễn biến của làn sóng nới lỏng kinh tế trong năm nay sẽ không dừng lại ở nhóm quốc gia phát triển (Thụy Sĩ, Canada, Đan Mạch,…), mà sẽ lan sang cả ở nhóm đang phát triển (Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ).

Rủi ro gia tăng đối với một số nền kinh tế khi giá dầu giảm. Theo IMF, chỉ số giá hàng hóa (trừ dầu thô) đã bắt đầu xu hướng giảm từ năm 2012, trước cả khi giá dầu thô bắt đầu giảm trong năm 2014. Trong lịch sử của một nền kinh tế, chu kỳ vận động tăng-giảm của giá hàng hóa (đặc biệt là nguyên liệu cơ bản và nông sản) là một điều hết sức bình thường, tuy nhiên, đợt giảm giá dầu thô vào cuối tháng 06 năm 2014 đã làm trầm trọng hơn đà giảm lần này. Theo World Bank, 9/10 loại hàng hóa dự báo sẽ tiếp tục đà giảm giá, do đó, điều này cũng tạo ra sự thay đổi đáng kể đối với nhiều nền kinh tế trong năm nay.

Nhật Bản, Ấn Độ và Anh là nằm trong nhóm những nước nhập khẩu dầu được hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng này nhờ duy trì tỷ lệ lạm phát ổn định, thu nhập thực tế của người dân cải thiện qua đó hỗ trợ tích cực cho tiêu dùng nội địa. Đối với nhóm các nước nhập khẩu dầu khác (EU, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore), tuy được hưởng lợi nhiều nhưng yếu tố tổng cầu yếu sẽ là nguyên nhân khiến tình trạng giảm phát thêm trầm trọng và qua đó gây ra lo ngại đối với rủi ro giảm phát sẽ gia tăng ở nhóm các nước này. Ngược lại, những nước xuất khẩu dầu mỏ (Nga, Venezuela) và hàng nông sản lớn (Brazil) lại đang đối phó với tình trạng lạm phát cao. (xem bảng)

1

Hàm ý đối với Việt Nam

1. Xuất khẩu tích cực nhờ sự cải thiện nhu cầu tiêu dùng hàng hóa ở Mỹ: Sự phục hồi của nền kinh tế tại Mỹ sẽ tạo ra tác động tích cực đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, trong kịch bản khả quan là các nền kinh tế lớn cải thiện nhu cầu nhờ chính sách nới lỏng tiền tệ, thì Việt Nam có thể gia tăng xuất khẩu sang các thị trường như EU, Nhật Bản…

2. Giá hàng hóa thấp về tổng thể sẽ tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam: Yếu tố này góp phần cải thiện biên lợi nhuận của các doanh nghiệp có giá đầu vào giảm. Mặt khác, giá cả hàng hóa thấp cũng góp phần cải thiện thu nhập khả dụng trong nước qua đó hỗ trợ tích cực cho tổng cầu.

3. Rủi ro đối với Việt Nam đến từ sự phân hóa chính sách tiền tệ các nước: Rủi ro trong sự phân hóa của chính sách tiền tệ của các nước nếu thực sự hình thành một cuộc chiến tranh tiền tệ như nhiều người quan ngại thì sẽ có ảnh hưởng đối với sự ổn định tài chính và tiền tệ của Việt Nam. Thêm vào đó, việc làn sóng nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ gián tiếp làm giảm giá đồng nội tệ của nhiều nước, từ đó hàm ý tiêu cực đối với cán cân thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia này.

KINH TẾ VIỆT NAM 2015: KỲ VỌNG VÀO ĐIỀU TỐT NHẤT

2

Triển vọng chung

Việt Nam đang đứng trước cánh cửa hồi phục kinh tế. Năm 2014, Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng đạt xấp xỉ 5,98%, mức cao nhất kể từ năm 2011. Xét từ cả hai khía cạnh tổng cầu và tổng cung, có thể thấy đầu tư tư nhân và tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã tạo ra sự cải thiện trong GDP. Trong năm 2015, chúng tôi đánh giá 3 yếu tố dưới đây sẽ là trụ đỡ cho tăng trưởng kinh tế:

(1) Sản xuất công nghiệp duy trì được đà tăng trưởng nhờ làn sóng dịch chuyển của các nhà sản xuất thiết bị điện tử, phụ tùng xe cộ và dệt may lớn trên thế giới đến Việt Nam. Theo HSBC, chỉ số PMI đã duy trì ở mức trên 50 điểm trong 18 tháng liên tiếp khẳng định sự tăng trưởng chắc chắn của lĩnh vực sản xuất. (2) Đầu tư tư nhân đã bắt đầu chuyển động tích cực hơn trong năm trước do mặt bằng lãi suất cho vay giảm, trong năm nay, tiêu dùng của khu vực tư nhân được kỳ vọng sẽ tốt hơn cùng kỳ nhờ giá dầu duy trì ở mức thấp.

(3) Khó khăn về ngân sách có thể khiến cho hoạt động đầu tư của khu vực nhà nước bị ảnh hưởng, tuy nhiên, tương tự như khu vực tư nhân, tiêu dùng của khu vực nhà nước cũng sẽ hưởng lợi nhờ xu hướng giảm giá hàng hóa, góp phần vào tăng trưởng của lĩnh vực dịch vụ nói chung.

Sử dụng phương pháp lọc Hodrick-Prescott, chúng tôi ước tính được xu hướng dài hạn của tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1990-2014. Mặc dù đường xu hướng dài hạn vẫn tiếp tục đi xuống trong năm 2014, tuy nhiên, chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng đã được nới ra, đạt mức cao nhất kể từ năm 1998 đến nay. Chuyển biến khả quan chúng tôi nhận thấy là sự đóng góp của yếu năng suất tổng hợp (TFP) vào GDP gia tăng. Việc tăng trưởng thực đã đảo chiều và nằm trên đường tăng trưởng dài hạn đưa đến kỳ vọng về một thời kỳ mở rộng của tăng trưởng. Tuy nhiên, với kịch bản cơ sở tại mức giá dầu (WTI) (~50$/thùng), chúng tôi đưa ra dự báo thận trọng đối với tăng trưởng GDP năm 2015 (~6%).

3

Lạm phát ở mức vừa phải. Theo tính toán của chúng tôi, từ cuối năm 2014, xu hướng dài hạn của chỉ số giá tiêu dùng theo tháng đã chạm mức 0% cho thấy mặt bằng giá cả của hầu hết các loại hàng hóa không thay đổi. Xem xét các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lạm phát năm 2015, chúng tôi cho rằng lạm phát ở mức 3% là hợp lý bởi giá cả hàng hóa có thể tăng nhẹ nhờ sự cải thiện của nhu cầu tiêu dùng. Các lập luận được xem xét gồm:

(1) Theo dự báo của World Bank, giá các loại hàng hóa trên thế giới sẽ tiếp tục đi xuống trong năm 2015, hình thành chuỗi giảm giá 4 năm liên tiếp. Đồng thời, giá dầu duy trì ở mức thấp cũng sẽ khiến lạm phát kỳ vọng không thay đổi nhiều trong năm nay. (2) Trong 3 năm trở lại đây, tăng trưởng cung tiền duy trì ở mức 16-19%, trong khi tăng trưởng huy động vốn cũng duy trì ở mức xấp xỉ 16%. Điều này cho thấy người dân vẫn đang thận trọng trong chi tiêu và tâm lý tiết kiệm vẫn đang là chủ đạo. Dựa vào diễn biến giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát, chúng tôi cho rằng rủi ro lạm phát đến từ yếu tố cung tiền là khá thấp.

(3) Các cấu thành có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng lạm phát tại từng thời điểm là điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ công (học phí, viện phí) và giá nhà đất khi thị trường bất động sản hồi phục rõ nét hơn. Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến khả năng đảo chiều của giá dầu thế giới (nửa cuối năm 2015) sẽ trực tiếp tác động lên diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng.

4

Đầu tư cải thiện. Chúng tôi cho rằng môi trường đầu tư hiện tại đã cải thiện so với cách đây một vài năm, cùng với sự ra đời của các luật mới (Luật Đầu tư & Luật Doanh nghiệp 2014), hoạt động đầu tư sẽ có chuyển biến tích cực hơn trong năm nay.

(1) Đầu tư công: Theo dự toán chi ngân sách năm 2015, vốn đầu tư phát triển sẽ vào khoảng 195.000 tỷ đồng, tăng 15% so với ước thực hiện năm 2014, trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản sẽ tập trung phân bổ ở hai lĩnh vực là giao thông và y tế.

(2) Đầu tư tư nhân: Năm 2014 đánh dấu sự chuyển biến tích cực của hoạt động đầu tư đến từ khu vực tư nhân khi có mức tăng trưởng vượt trội so với hai khu vực còn lại. Trong năm nay, chúng tôi kỳ vọng quá trình đào thải các doanh nghiệp yếu kém sẽ đi đến hồi kết, vĩ mô ổn định và định hướng giảm lãi suất cho vay có thể tiếp tục thúc đẩy đầu tư của khu vực tư nhân.

(3) Đầu tư nước ngoài: do bối cảnh kinh tế toàn cầu khó khăn, dòng vốn đầu tư nước ngoài đã không còn bùng nổ như giai đoạn 2007-2008, tuy nhiên, việc giữ được tốc độ tăng trưởng và giải ngân vốn đầu tư của khu vực này cũng góp phần đáng kể vào bức tranh chung của vĩ mô. Làn sóng dịch chuyển của các nhà sản xuất điện tử và dệt may lớn trên thế giới đến Việt Nam sẽ tiếp diễn trong năm 2015, đảm bảo tăng trưởng ổn định của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Chính sách tiền tệ:

1. Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức trên 12% trong hai năm liên tiếp, tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, dòng vốn thông qua kênh tín dụng đã có sự dịch chuyển. Cụ thể, tín dụng phục hồi đầu tiên từ lĩnh vực nông lâm nghiệp, đến xây dựng và công nghiệp, và hiện tại đã lan tỏa đến lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Đồng thời, tiến trình gom nợ xấu của VAMC đang diễn biến tích cực, đến cuối năm 2014, VAMC đã mua được khoảng 123.000 tỷ đồng nợ xấu (~3,2% dư nợ của nền kinh tế). Với định hướng mua thêm 70.000-100.000 tỷ đồng nợ xấu trong năm 2015, chúng tôi cho rằng tỷ lệ nợ xấu có thể giảm về dưới 3% vào cuối năm. Tăng trưởng tín dụng năm nay đạt mức 13-15% là khả thi.

2. Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã liên tục giảm trong các năm gần đây về mức thấp hơn giai đoạn 2005-2006. Chúng tôi cho rằng định hướng giảm lãi suất cho vay thêm 1-1,5% có thể thực hiện được trong điều kiện lạm phát thấp và nợ xấu dần được đưa ra khỏi bảng cân đối của các ngân hàng. Gói hỗ trợ 50.000 tỷ đồng cho bất động sản được NHNN trình Chính phủ xem xét được coi là tín hiệu nới lỏng tiền tệ hơn nữa trong năm 2015.

Chính sách tài khóa:

1. Trong năm 2014, tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP đạt ~5% trong bối cảnh giá dầu thô ở mức cao, bình quân khoảng 103 USD/thùng. Mục tiêu tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP năm 2015 sẽ vào khoảng 5%, tuy nhiên, chúng tôi quan ngại thâm hụt ngân sách sẽ tăng thêm do thu từ dầu thô chiếm tỷ trọng khá cao trong thu ngân sách (>12%). Với kịch bản giá dầu 50$/thùng (WTI), chúng tôi ước tính tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP năm nay sẽ tăng lên mức 5,8%.

2. Chi đầu tư phát triển trong năm nay tăng so với năm trước, tuy nhiên, do ngân sách khó khăn, chúng tôi cho rằng dư địa cho chính sách tài khóa sẽ tiếp tục bị hạn chế. Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của khu vực nhà nước ước đạt 12%, giảm so với mức 12,6% của năm 2014. Đối với đầu tư cho cơ sở hạ tầng, các hình thức kêu gọi tư nhân góp vốn sẽ trở nên phổ biến.

CHỦ ĐỀ CHÍNH

Ba chủ đề chính được RongViet Research lựa chọn trong Báo cáo chiến lược đầu tư năm 2015 đối với kinh tế vĩ mô Việt Nam đi từ thực chất của nền kinh tế, những tác nhân bên ngoài và nội tại đang song hành với sự chuyển mình của cả nền kinh tế trong năm nay. Với các chủ đề này, chúng tôi hy vọng nhà đầu tư có thể có một góc nhìn khách quan về kinh tế Việt Nam năm 2015, làm rõ tác động đến ngành của từng yếu tố, từ đó có cơ sở để xây dựng chiến lược đầu tư trong năm 2015 từ góc độ vĩ mô.

  Chủ đề 1: Ảnh hưởng của giá dầu thấp đối với nền kinh tế

Theo EIA, nguồn cung nhiên liệu từ dầu mỏ sẽ tiếp tục vượt cầu cho đến cuối năm 2015 bất chấp việc các nhà sản xuất ở Mỹ đã cắt giảm một lượng lớn giàn khoan trong tháng đầu năm, do đó, kịch bản giá dầu thấp được duy trì cả năm 2015 là tương đối chắc chắn. Dựa trên những đánh giá của tổ chức tài chính lớn và khảo sát các nhà phân tích trên Bloomberg, chúng tôi đưa ra kịch bản cơ sở cho giá dầu thô bình quân năm 2015 ở mức 50$/thùng

Tại mức giá này, nền kinh tế Việt Nam sẽ có những thay đổi đáng kể xét từ góc độ người tiêu dùng, doanh nghiệp và Chính phủ.

5

Người tiêu dùng: Với mặt bằng giá xăng hiện nay (~17.280 đồng/lít, giảm 27% so với giá bình quân năm 2014) và nhu cầu tiêu thụ xăng năm 2015 ước tính khoảng 5 triệu tấn, chúng tôi tính toán người dân Việt Nam sẽ tiết kiệm được khoảng 30.000 tỷ đồng (~0,8% GDP và 10% mức tăng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2014). Đây là một khoản tiết kiệm đáng kể có thể thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ nội địa trong năm nay, các ngành hàng kỳ vọng có mức tăng trưởng tốt về doanh thu bán lẻ gồm: đồ dùng gia đình, thiết bị văn hóa, giáo dục, phương tiện đi lại, hàng tiêu dùng nhập khẩu, dịch vụ khác…Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập ròng của người dân, chúng tôi cho rằng tác động lan truyền của việc giảm giá xăng dầu đối với các hàng hóa và dịch vụ khác tương đối yếu. Diễn biến giá cả các mặt hàng trong rổ hàng hóa tiêu dùng nhìn chung ổn định sau 6 tháng giá dầu liên tục đi xuống.

Doanh nghiệp: Mức độ ảnh hưởng của giá dầu đối với các doanh nghiệp sẽ tùy thuộc vào tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu có liên quan đến dầu thô và các chế phẩm từ dầu thô trong giá thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Việc giá dầu duy trì ở mức thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp nhất đến lĩnh vực vận tải (đường bộ, hàng không, đường sắt, và đường thủy). Trong khi giá các loại nhiên liệu đã giảm từ 30- 40%, giá cước vận tải chỉ giảm khoảng 5-15%. Với tỷ trọng chi phí nhiên liệu chiếm từ 25%-45% giá thành, một số doanh nghiệp vận tải sẽ có cơ hội gia tăng biên lợi nhuận. Doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng sẽ hưởng lợi hai đầu. So với vận tải hành khách, giá cước vận tải hàng hóa giảm ít hơn với mức giảm trung bình 3-5%, như vậy, chúng tôi cho rằng phần tiết kiệm từ chi phí vận tải sẽ không nhiều. Tuy nhiên, do sự gia tăng chi tiêu của người tiêu dùng, chúng tôi kỳ vọng các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có thể là đối tượng hưởng lợi tiếp theo.

Một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có sử dụng nhiều nhiên liệu như thép, nhôm kính, nhiệt điện, phân bón, …hoặc sử dụng nguyên liệu là các chế phẩm từ dầu thô như nhựa, sợi tổng hợp, cao su tổng hợp…cũng sẽ được hưởng lợi từ giá dầu thấp. Ngược lại, những doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, sản xuất và thương mại dầu khí sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực khi giá dầu duy trì ở mức thấp (PVN).

Chính phủ: Thu từ dầu thô chiếm 12,6% ước thực hiện thu NSNN 2014, là mức thấp so với giai đoạn 2011-2013. Theo dự toán thu NSNN 2015, tỷ trọng thu từ dầu thô giảm chỉ còn 10,2% tổng thu. Dù vậy, chúng tôi cho rằng với mức giá dầu thấp như hiện nay, thâm hụt NSNN chắc chắn sẽ gia tăng bởi cơ cấu nguồn thu vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ. Cụ thể, (1) Thu thuế TNDN từ hoạt động dầu thô chiếm 35% tổng thu thuế TNDN trong khi thuế TNDN là sắc thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu NSNN (~26%); (2) Thu thuế tài nguyên từ dầu thô chiếm đến 75% tổng khoản thu thuế tài nguyên (~4,7% tổng thu NSNN); (3) Đầu năm 2015, Bộ Tài chính đã nâng mức thuế suất nhập khẩu xăng dầu các loại lên mức 30-35%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 15- 20% trong năm trước, tuy nhiên, với mức giá dầu thấp chỉ bằng ½ mức bình quân của năm 2014, nguồn thu thuế nhập khẩu đến từ việc tăng thuế khó có thể bù đắp ảnh hưởng của giá dầu thấp đối với khoản thuế NK và thuế GTGT hàng NK. Với giả định giá dầu trong năm 2015 vào khoảng 50$/thùng, chúng tôi ước tính thu từ dầu thô sẽ giảm khoảng 40% so với cùng kỳ, thâm hụt NSNN trong năm nay ước tăng lên mức 5,8%GDP.

Chủ đề 2: Sức cạnh tranh của nền kinh tế nhìn từ nhiều góc độ

Chúng tôi chọn chủ đề này là chủ đề chính đối với nền kinh tế Việt Nam trong năm 2015 là do sức nóng đến từ câu chuyện hội nhập. Dù vậy, xét về mặt bản chất, Việt Nam vẫn đang là một nước có lợi thế so sánh nghiêng về phía nhân công giá rẻ và tài nguyên. Bên cạnh đó, chính sách điều hành dù định hướng tốt nhưng vẫn luôn có cái giá phải trả để có được sự ổn định.

Lợi thế của Việt Nam so với các nước trong khu vực là dân số trẻ và lao động rẻ

Theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2014, Việt Nam đứng thứ 6 trong khu vực các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tại châu Á. So với năm trước, vị trí của Việt Nam đã cải thiện hai bậc, tuy nhiên, mức độ cải thiện lại không bằng một số quốc gia khác trong khu vực. Trong các tiêu chí được đánh giá, tiêu chí quy mô thị trường và hiệu quả thị trường lao động có mức xếp hạng cao nhất, điều này phần nào thể hiện lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong điều kiện hiện tại. Dân số trung bình của Việt Nam năm 2014 ước tính khoảng 90,73 triệu người, tăng 1,08% so với năm 2013. Trong đó, lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 60% và tăng 1,4% so với năm trước. Tỷ số phụ thuộc ở Việt Nam là 44% (<50%) và vẫn đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”.

Trong khi đó, theo báo cáo của Morgan Stanley*, nhiều nền kinh tế lớn ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, HongKong) phải đối mặt với thách thức dân số đang già đi, dân số trong độ tuổi lao động không tăng trưởng trong năm 2015 và sẽ suy giảm từ năm 2016 trở đi. Điều này cũng lý giải cho việc dòng vốn FDI từ các quốc gia này nằm trong top 10 vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam.

Ngoài lợi thế về dân số trẻ, chi phí nhân công rẻ cũng là một trong những yếu tố giúp Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Theo báo cáo Tiền lương toàn cầu, mức tiền lương bình quân hàng tháng của Việt Nam chỉ ở mức 197$/tháng, thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thấp hơn đáng kể so với mức 613$/tháng tại Trung Quốc. Báo cáo cũng cho biết hiện tại Trung Quốc cạnh tranh dựa trên năng suất cao hơn là giá nhân công rẻ, lợi thế so sánh của Trung Quốc đang chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia tăng cao (sản xuất ô tô, thiết bị viễn thông…) và tách khỏi các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như dệt may, da giày…. Trong khi đó, có thể thấy, những ngành thâm dụng lao động đang là lợi thế của Việt Nam hiện nay. Tính theo thang điểm từ 1-7, bản chất lợi thế cạnh tranh của Việt Nam được 2,6 điểm (theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2014-2015), tức là còn phụ thuộc nhiều vào lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên

6

Câu chuyện hội nhập và tác động đến ngành

Câu chuyện hội nhập kinh tế quốc tế bắt đầu được nhắc đến nhiều hơn khi Việt Nam bước vào giai đoạn cuối của quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù TPP chưa được ký kết song một số Hiệp định thương mại quan trọng đã được ký kết vào cuối năm 2014 (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hàn Quốc (FTA VN-HQ) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh Hải quan Nga-Belarus-Kazakhstan (VCUFTA)). Trong năm 2015, câu chuyện đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do sẽ tiếp tục là câu chuyện nổi bật kỳ vọng sẽ giúp cả nền kinh tế trở nên lạc quan hơn. Nguyên tắc cơ bản trong hội nhập chính là thị trường tự do và cạnh tranh công bằng, đây chính là yếu tố sẽ tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam. Xét ở góc độ mở rộng thị trường xuất khẩu, những ngành có lợi thế so sánh về thương mại sẽ được hưởng lợi, ngược lại, những ngành có mức độ bảo hộ cao sẽ gặp khó khăn.

Đối với hai hiệp định thương mại đã ký kết:

- FTA VN – HQ: Hàn Quốc đang là nước có vốn đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Việt Nam trong năm 2014, lợi ích thu hút đầu tư mới và tận dụng chuyển giao công nghệ kỳ vọng sẽ gia tăng sau khi ký kết FTA. Ngoài ra, ngành thủy sản có thể hưởng lợi về thuế quan khi xuất sang thị trường này.

- VCUFTA: Thị trường quan trọng nhất trong khối này là thị trường Nga, tuy nhiên, thương mại giữa Việt Nam và Nga chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Cộng thêm những khó khăn đối với nền kinh tế này và việc đồng rúp mất giá mạnh trong thời gian gần đây, chúng tôi không kỳ vọng VCUFTA sẽ mang lại lợi ích hữu hình đối với nền kinh tế trong năm 2015.

Đối với các hiệp định đang đàm phán:

- TPP: Trong khối TPP, lợi thế so sánh của Việt Nam tập trung ở nhóm hàng nông sản, nguyên liệu thô và sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động**. Đây đều là các nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu xuất khẩu và cũng gắn liền với lợi thế của Việt Nam như chúng tôi đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, do xuất khẩu nông sản và nguyên liệu thô phải đối mặt với nhiều thách thức về giá cả cũng như các rào cản phi thương mại, chúng tôi cho rằng lợi ích đến từ việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trong TPP sẽ nổi trội nhất đối với các sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động (dệt may, túi xách, da giày, đồ nội thất, vải sợi, thiết bị viễn thông). Ngược lại, việc mở cửa thị trường có thể tác động tiêu cực đến ngành chăn nuôi, bơ sữa và thức ăn chăn nuôi do nhiều nền kinh tế trong TPP có lợi thế về các sản phẩm này. Một số nước trong TPP cũng có lợi thế so sánh trong xuất khẩu thủy sản có thể khiến gia tăng cạnh tranh nội khối đối với mặt hàng này sau khi TPP được ký kết. Ngoài ra, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong ngành dược phẩm có thể làm tăng chi phí sản xuất thuốc và hạn chế khả năng tiếp cận của Việt Nam về công nghệ đối với các loại dược phẩm thiết yếu

Cán cân thương mại của Việt Nam với các nước trong TPP, AEC và VCUFTA

7

- FTA Việt Nam – EU: Theo nghiên cứu của MUTRAP, lợi ích Việt Nam thu được từ hiệp định này gồm: (1) thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành dịch vụ của Việt Nam; (2) tăng cường xuất khẩu (ngành dệt may, da giày, thủy sản); (3) nâng cấp trình độ kỹ thuật thông qua nhập khẩu máy móc (điện tử và máy móc). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý trong bối cảnh khu vực EU đang đối mặt với thách thức tăng trưởng và đồng EUR mất giá thì lợi ích đến từ hiệp định thương mại này có thể chỉ đến sau khi khu vực này cho thấy kết quả từ gói nới lỏng định lượng mới công bố đầu năm 2015.

- Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC): Năm 2015 là năm đánh dấu cột mốc hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng Kinh Tế ASEAN với 3 trụ cột gồm: (1) Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; (2) Khu vực kinh tế cạnh tranh và phát triển đồng đều; (3) Hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy tác động hội nhập trong AEC đối với Việt Nam là không đáng kể do sự tương đồng khiến cho Việt Nam và các nước trong ASEAN cạnh tranh cả trong thị trường xuất khẩu và trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài**. Với lộ trình thuế suất BTC công bố, hầu như tất cả mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế nhập khẩu về mức 0%. Việc cắt giảm thuế suất từ mức bình quân 5% về 0% tại một số sản phẩm thuộc các ngành như Thực phẩm, Bánh kẹo, Hàng gia dụng, nội thất, Đồ trang sức, May mặc và da giày, Giấy, Cao su tự nhiên và cao su tổng hợp, … sẽ khiến mức độ cạnh tranh về giá giữa hàng hóa Việt Nam và các nước ASEAN tăng lên. Đối với mặt hàng ô tô, xe máy, thuế NK sẽ duy trì ở mức 50% trong năm 2015 và giảm dần trong giai đoạn 2016-2018 về mức 0%, trong khi đó các loại phụ tùng liên quan (Pin ắc quy, Động cơ…) sẽ được điều chỉnh giảm thuế còn 0% trong năm nay.

Tiến trình hội nhập trong tương lai gần sẽ đem lại thay đổi về nhiều mặt đối với nền kinh tế, tuy nhiên, khả năng tận dụng các cơ hội vẫn đang là vấn đề đáng quan ngại. Theo khảo sát của EIU, Việt Nam là nước có tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng được toàn bộ lợi ích từ các hiệp định thương mại tự do (FTAs) cao thứ hai trong nhóm nước ASEAN đã ký kết nhiều FTAs, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn ở mức khá thấp (~37%). Trong khi đó, theo ISEAS, nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về AEC còn hạn chế, có đến 63% doanh nghiệp cho rằng AEC không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với lợi ích từ các FTA, các doanh nghiệp nước ngoài đã bắt đầu để chuẩn bị đón đầu các cơ hội thông qua việc đầu tư, xây dựng nhà xưởng ở Việt Nam, trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp trong nước và tầng lớp nông dân (đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ FTA) vẫn chưa có được tầm nhìn mang tính hội nhập và lâu dài.

8

Mối quan ngại về chính sách neo tỷ giá

Năm 2015, NHNN tiếp tục đưa ra định hướng ổn định tỷ giá USD/VND với khoảng biến động (nếu có) là 2%. Dựa trên điều kiện hiện tại, chúng tôi cho rằng mục tiêu ổn định tỷ giá có thể đạt được. Tuy nhiên, chúng tôi muốn mượn ý tưởng của Hyman Minsky – nhà kinh tế học người Mỹ - “Sự ổn định bất ổn” để hình dung về diễn biến cặp tỷ giá USD/VND trong thời gian tới.

Đầu năm 2015, Ngân hàng Trung ương (NHTW) của 12 nước trên thế giới đã thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, trong đó có những nước lớn giao thương thường xuyên với Việt Nam (Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Úc…). Đồng thời, một số nước trong khu vực ASEAN (Singapore, Indonesia, Thailand…) cũng đang hướng về chính sách nới lỏng tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng và đối phó với giảm phát. Động thái nới lỏng tiền tệ của nhiều nước trên thế giới cùng với sự phục hồi tích cực của nền kinh tế Mỹ đã khiến cho chỉ số đồng USD tăng lên mức cao kỷ lục kể từ năm 2003, tăng 18% từ cuối tháng 6/2014 đến nay.

Trong 3 năm qua, chính sách điều hành tỷ giá vô hình trung đã khiến VND “neo” theo USD, điều này cũng hàm ý khi USD tăng giá, VND cũng sẽ tăng giá so với các đồng tiền chủ chốt khác. Tính toán của chúng tôi cho thấy từ sau đợt điều chỉnh mạnh tỷ giá vào năm 2011 đến nay, trong khi tỷ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER*) duy trì ổn định thì tỷ giá hiệu lực thực (REER**) liên tục đi lên. REER tăng cho thấy hàng hóa của Việt Nam đang trở nên đắt hơn so với các đối tác thương mại khác, một cách tương đối, điều này có nghĩa là tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam đang giảm trong thời gian qua.

Ngày 06/01/2015, NHNN đã tiến hành điều chỉnh tỷ giá với mức điều chỉnh 1%, động thái này giúp giảm bất lợi từ việc USD tăng giá quá nhanh. Dù vậy khó có thể phủ nhận một thực tế là hàng xuất khẩu Việt Nam đang trở nên đắt hơn, trong khi hàng nhập khẩu từ nhiều nước vào Việt Nam lại đang rẻ đi, đây chính là bất ổn mà chúng tôi quan ngại. Tuy nhiên, nếu đưa quyết định điều chỉnh tỷ giá đặt lên bàn cân, chúng tôi cho rằng NHNN đang cân nhắc nhiều yếu tố cần đến sự ổn định của tỷ giá như nợ công hay thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Đọc thêm : Thị trường nợ 

* NEER thể hiện giá trị danh nghĩa của tiền đồng so với bình quân 20 đồng tiền của quốc gia có thương mại lớn nhất với Việt Nam.

** REER thể hiện giá trị thực của tiền đồng so với bình quân 20 đồng tiền của quốc gia có thương mại lớn nhất với Việt Nam

9

Từ năm 2011 đến nay, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng chính yếu đã chững lại đáng kể, trong khi tốc độ tăng trưởng nhập khẩu một số mặt hàng quan trọng đang tăng trở lại. Theo số liệu của TCHQ, kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2015 tăng 17% so với cùng kỳ trong khi kim ngạch nhập khẩu tăng đến 37,4%, thâm hụt thương mại tháng đầu năm là 360 triệu USD, trái ngược với mức thặng dư thương mại của 2 năm liền trước. Diễn biến cán cân thương mại đầu năm 2015 khởi đầu cho một năm thách thức đối với tăng trưởng đến từ nhu cầu bên ngoài trong bối cảnh đàm phán một số hiệp định thương mại tự do vẫn chưa kết thúc. Trong trường hợp biến động tiền tệ thế giới ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại của Việt Nam và sự ổn định của vĩ mô, chúng tôi cho rằng có khả năng NHNN sẽ thay đổi chính sách điều hành tỷ giá.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng khi cạnh tranh ngày càng gia tăng, đặc biệt trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế sẽ càng bộc lộ những yếu điểm. Để khắc phục những yếu điểm này, không cách gì khác là phải thay đổi từ nội tại. Quá trình tái cấu trúc đang diễn ra kỳ vọng sẽ mang đến những thay đổi về chất, dù không hy vọng sẽ có thay đổi rõ nét trong năm 2015 song chúng tôi cho rằng năm 2015 vẫn là một năm tích cực đối với nền kinh tế, tích cực vì đang thay đổi, buộc phải thay đổi và sẽ tiếp tục thay đổi để thích nghi.

Chủ đề 3: Tái cấu trúc chưa tạo ra nhiều sự thay đổi về chất

Trong phần này, chúng tôi chọn lọc một số tiêu chí để đánh giá một số sự thay đổi về chất trong quá trình tái cấu trúc 3 năm vừa qua thay vì đánh giá sự thay đổi về lượng (xem bảng). Sự thay đổi về chất có thể là tổng hòa của nhiều yếu tố song tất cả đều là một phần của kết quả tái cấu trúc nền kinh tế, thể hiện những mặt đã đạt được sự chuyển biến và những hạn chế chưa khắc phục được khi so sánh hiện tại với quá khứ. Dựa trên những tiêu chí trong bảng dưới, chúng tôi nhận thấy những thay đổi về chất có thể nói là khá khiêm tốn

10

Năm 2015 là năm cuối cùng của đề án tái cấu trúc nền kinh tế, trong Nghị quyết 86 về nâng cao hiệu quả thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, Quốc hội đã đặt ra thêm những mục tiêu quan trọng đối với đề án:

(1) Trước cuối quý 2/2015 sẽ phải hoàn thành phê duyệt các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực và từng địa phương. Đầu năm 2015, đề án tái cơ cấu ngành xây dựng được phê duyệt sau hai đề án tái cơ cấu ngành công thương và giao thông vận tải. Hầu hết các định hướng đều tích cực song biện pháp triển khai và thực hiện vẫn chưa thực sự cụ thể.

(2) Tạo chuyển biến mạnh mẽ về “chất” từ năm 2015 với mục tiêu tăng năng suất lao động; phát triển thị trường lao động đồng bộ với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, cân đối cung cầu lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý, đẩy mạnh lĩnh vực công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp hỗ trợ, tăng tính liên kết giữa các địa phương trong vùng...

(3) Hoàn thiện và trình Quốc Hội dự án luật quy hoạch, quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ.

(4) Xây dựng kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 và báo cáo Quốc Hội tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2015).

(5) Triển khai mạnh mẽ các giải pháp để bảo đảm đạt các mục tiêu, định hướng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020.

Chúng tôi cho rằng từ khóa quan trọng đối với quá trình tái cơ cấu năm 2015 là “MẠNH MẼ”. Tuy nhiên, trong năm nay nền kinh tế có thể sẽ chỉ ghi nhận những cột mốc quan trọng về “lượng” của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, đầu tư công cho đến tái cấu trúc DNNN.

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2015: DÒNG TIỀN THÔNG MINH SẼ TÌM VỀ CHỖ TRŨNG

Dưới sự dẫn dắt của nhóm cổ phiếu trụ cột và sự hỗ trợ của dòng vốn ngoại, dòng tiền năm 2014 giao dịch sôi động và khá “lành mạnh” trong nửa đầu năm. Tuy vậy, sự hứng khởi quá mức và làn sóng đầu cơ ngắn hạn đã đẩy mức độ rủi ro trên thị trường tăng cao khiến VNIndex lao dốc trong quý cuối năm. Sang năm 2015, chúng tôi cho rằng thị trường sẽ đối diện nhiều thử thách hơn so với những gì đã diễn ra trong năm 2014. Sự phục hồi của kinh tế vĩ mô và hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước sẽ làm tăng nguồn cung cho TTCK. Trong khi đó, chính sách quản lý thị trường tiền tệ của NHNN thông qua Thông tư 36 sẽ góp phần hạn chế nguồn vốn tài trợ cho hoạt động đầu cơ ngắn hạn đẩy giá cổ phiếu.

Mặc dù vậy, so với thị trường BĐS đòi hỏi vốn lớn nhưng thanh khoản thấp, thị trường ngoại tệ vẫn đang được NHNN kiểm soát tốt và việc đầu tư vàng là không khả thi, thị trường chứng khoán vẫn được kỳ vọng là kênh đầu tư hấp dẫn nhất do:

- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết sẽ được cải thiện nhờ chi phí lãi vay cũng như chi phí sản xuất giảm, theo xu hướng giảm chung của lãi suất, giá xăng dầu và hàng hóa nguyên liệu đầu vào. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp biết chú trọng vào hoạt động cốt lõi và phát huy lợi thế cạnh tranh của mình sẽ được hưởng lợi nhiều hơn khi các hiệp định FTA lần lượt được ký kết.

- Điều kiện vĩ mô ổn định và các cải cách hành chính gần đây góp phần nâng cao tính cạnh tranh cho TTCK Việt Nam, trong bối cảnh dòng vốn ngoại dự kiến vẫn dồi dào nhờ chính sách hỗ trợ kinh tế ở các quốc gia phát triển. Trên thực tế, sau giai đoạn bán ròng cuối năm 2014, NĐT nước ngoài đã quay lại mua ròng trên sàn chứng khoán Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2015.

Sự sụt giảm mạnh của VNIndex trong giai đoạn cuối năm 2014 đã khiến TTCK Việt Nam trở thành thị trường có mức P/E và P/B thấp nhất so với các thị trường lân cận như Malaysia, Indonesia, Philippine và Thái Lan. Mô hình định giá theo phương pháp chiết khấu dòng cổ tức hai giai đoạn của chúng tôi cho thấy VNIndex sẽ biến động trong vùng 561 – 718 điểm tương ứng với kịch bản từ tiêu cực nhất đến tích cực nhất và dự báo kết thúc năm 2015 ở mức hợp lý là 633,23 điểm.

Về xu hướng dòng tiền, chúng tôi cho rằng thay vì chỉ đơn giản đổ vào các doanh nghiệp có “tái cấu trúc” như năm 2014, dòng tiền năm 2015 có thể sẽ khó tính hơn và chú trọng vào hiệu quả kinh doanh, cũng như tính khả thi của các kế hoạch tái cấu trúc được đưa ra trước đó.

Các dấu hiệu chuyển biến tích cực của kinh tế vĩ mô và hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước hứa hẹn sẽ “cung cấp”thêm cho thị trường chứng khoán nhiều loại hàng hóa hơn trong năm 2015 với ba nguồn chính (1) Doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, (2) Doanh nghiệp được SCIC thoái vốn và (3) Cổ phiếu có kế hoạch niêm yết mới và cổ phiếu phát hành thêm trong năm 2015. Mặc dù nguồn cung dồi dào và đa dạng, khả năng thu hút dòng tiền sẽ phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như chất lượng hàng hóa được chào bán.

Hoàn thiện hành lang pháp lý để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và bán vốn doanh nghiệp nhà nước

Trong năm 2014, số lượng DNNN được cổ phần hóa (CPH) là 143 và số lượng doanh nghiệp mà SCIC đã bán vốn là 72. Như vậy, sẽ còn khoảng 67% số lượng DNNN phải được CPH và 76% số lượng doanh nghiệp SCIC phải thoái vốn trong năm 2015, trong đó có nhiều doanh nghiệp đầu ngành như Tổng công ty (TCT) Hàng hải Việt Nam, TCT Đường sắt, TCT công nghiệp tàu thủy và Tổng công ty cảng hàng không.

1

Để đảm bảo thực hiện CPH và bán vốn theo kế hoạch 2014-2015 thì các khuôn khổ pháp lý nhằm giải quyết những bất cập như chậm trễ niêm yết sau IPO, tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước còn lớn… đang từng bước được sửa đổi và hoàn thiện như (1) Nghị định 51 (hiệu lực từ 1/11/2014) cho phép thoái vốn dưới mệnh giá và yêu cầu ở cấp độ cao hơn đối với việc thực thi niêm yết của các DNNN (doanh nghiệp chào bán ra công chúng sau ba tháng phải lên UpCOM, sau một năm phải niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán); (2) Nghị định 128 (hiệu lực từ 01/03/2015) mới ban hành có thể được coi là giải pháp tháo gỡ khó khăn trên khi áp dụng phương thức bán thỏa thuận trực tiếp trong trường hợp chỉ có một đơn đăng ký mua doanh nghiệp hợp lệ được chấp thuận. Cũng theo quy định của Nghị định 128, Nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mua doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ không hạn chế (ngoại trừ một số ngành nghề, lĩnh vực có quy định tỷ lệ giới hạn).

Mặc dù vậy, trong bối cảnh dòng tiền năm 2015 có thể sẽ bị hạn chế do Thông tư 36, chúng tôi cho rằng tiến trình cổ phần hóa DNNN cũng như thoái vốn Nhà nước sẽ bị kéo dài thời gian hơn kế hoạch 2014-2015 hiện tại.

Làn sóng phát hành thêm: Hàng hóa vẫn chưa đi cùng chất lượng

Xu hướng phát hành quyền mua cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu giai đoạn 2009 – 2010 đã giúp nhiều doanh nghiệp niêm yết (DNNY) tăng vốn và thu được thặng dư lớn. Tuy nhiên, số liệu thống kê của Rongviet Research cho thấy sau làn sóng phát hành thêm, tăng trưởng LNST của các doanh nghiệp niêm yết chưa theo kịp với tăng trưởng vốn điều lệ. Theo đó, tăng trưởng vốn điều lệ trung bình giai đoạn 2012 - 9T2014 vào khoảng 7,2%, nhưng tăng trưởng LNST chỉ đạt 2,2%. ROE toàn thị trường trong năm 2011, 2012 và 2013 lần lượt là 11,2%, 13% và 10%

Môi giới chứng khoán<

hotline