Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Báo cáo chiến lược 2015 ( Phần 2 )

Được đăng vào 02-01-2015

1

 

Sự “khập khiễng” giữa tăng vốn và tăng trưởng LNST cho thấy nguồn vốn huy động được từ phát hành thêm đã không được sử dụng hiệu quả và ảnh hưởng tiêu cực lên diễn biến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này sau đó. Diễn biến này càng khiến NĐT thận trọng. Làn sóng phát hành thêm có xu hướng mạnh trở lại trong năm 2014, tuy nhiên tỷ lệ thành công khá thấp và chỉ đạt 66,3% trong khi vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp thuộc danh sách quan tâm của Rongviet Research cho biết đang xem xét khả năng phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu trong năm 2015. Trong bối cảnh NĐT trên sàn chứng khoán có nhiều lựa chọn, chúng tôi cho rằng các doanh nghiệp muốn phát hành thêm cần chứng minh khả năng sử dụng đồng vốn hiệu quả để các đợt phát hành có thể thu hút được dòng tiền và đạt tỷ lệ thành công cao hơn.

2

Trong khi nguồn hàng hóa dành cho NĐT chứng khoán dồi dào và đa dạng hơn thì nguồn vốn vay từ ngân hàng cho mục đích đầu tư có nguy cơ sụt giảm do chính sách quản lý thị trường tiền tệ mới đây của NHNN, thông qua Thông tư 36

Trong ngắn hạn, Thông tư 36 là rào cản đối với khả năng hấp thu nguồn cung

Theo số liệu đến ngày 31/11/2014 của NHNN thì tổng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng là 435.287 tỷ đồng. Nếu theo quy định giới hạn của Thông tư 36 và giả định toàn bộ các ngân hàng đủ điều kiện cho vay đầu tư chứng khoán thì tổng vốn khả dụng mà hệ thống ngân hàng có thể cho vay đầu tư chứng khoán là 21.764 tỷ đồng, cao gấp 7,3 lần giá trị giao dịch bình quân một phiên của hai sàn chứng khoán trong năm 2014. Nếu chỉ nhìn qua số liệu này, có thể yên tâm rằng quy định siết tín dụng theo Thông tư 36 sẽ gần như không ảnh hưởng thị trường niêm yết chứng khoán. Tuy nhiên, theo số liệu của Trung tâm lưu ký chứng khoán, tổng dư nợ cho vay đầu tư và kinh doanh cổ phiếu của các ngân hàng và CTCK vào đầu năm 2014 là 38.000 tỷ đồng, cao hơn tổng vốn mà hệ thống ngân hàng có thể cho vay. Như vậy, nếu bao gồm nhóm cổ phiếu chưa niêm yết, tín dụng cho lĩnh vực kinh doanh và đầu tư cổ phiếu đã vượt mức quy định và sẽ phải giảm dần trong thời gian tới. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng mức độ ảnh hưởng của quy định này lên TTCK niêm yết sẽ không quá lớn do quy định này của Thông tư 36 không có tính hồi tố và trong điều kiện mặt bằng lãi suất tương đối thấp như hiện tại, các công ty chứng khoán hoàn toàn có thể tìm kiếm nhiều nguồn vốn thay thế khác.

Trong dài hạn, Thông tư 36 là liều thuốc cần có để các CTCK năng động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn vốn tài trợ vay nợ đầu tư cổ phiếu

Đồ thị diễn biến tăng trưởng cung tiền M2 và VNIndex cho thấy sự tương quan nhất định giữa biến động thị trường chứng khoán và cung tiền M2 của hệ thống ngân hàng. Trong giai đoạn 2007 – 2011, khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng/chặt chẽ thì TTCK cũng tăng/giảm mạnh tương ứng. Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2012, khi tăng trưởng cung tiền M2 không có nhiều thay đổi bất thường thì biên độ biến động VNIndex cũng ổn định hơn. Điều này cho thấy những phập phù của TTCK trong thời gian vừa qua có mối liên quan không nhỏ với chính sách điều hành trên thị trường tiền tệ của NHNN. Chúng tôi cho rằng quy định làm giảm mức dư nợ tối đa mà các TCTD có thể cấp cho CTCK trong Thông tư 36 sẽ giúp TTCK hoạt động ổn định hơn và là động lực mạnh mẽ buộc các CTCK phải chuyển mình, năng động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn vốn, giảm dần sự phụ thuộc vào vốn vay từ ngân hàng.

Chúng tôi nhận thấy một số CTCK lớn đã có bước đi cụ thể như (1) Phát hành trái phiếu hoặc (2) Tăng vốn. Các trường hợp điển hình như SSI đã phát hành thành công 500 tỷ đồng, VCBS phát hành thêm 300 tỷ đồng (nâng tổng trái phiếu VCBS đã phát hành lên 500 tỷ đồng) và dự kiến đến cuối Q2/2015 sẽ phát hành thêm khoảng 200-300 tỷ đồng

3

Tuy vậy, bất chấp áp lực tăng lên từ phía cung cũng như giới hạn mới đối với dòng vốn cho vay đầu tư cổ phiếu, thị trường chứng khoán năm 2015 vẫn hứa hẹn là kênh đầu tư hấp dẫn nhờ (1) Quan điểm tích cực hơn đối với kinh tế vĩ mô, (2) Triển vọng cải thiện biên lợi nhuận của các DNNY nhờ lãi suất giảm và chi phí sản xuất giảm theo xu hướng chung của giá hàng hóa nguyên liệu và (3) Chính sách kích thích kinh tế ở một số nền kinh tế phát triển khiến dòng vốn rẻ từ bên ngoài chảy vào Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được đánh giá tích cực

Theo đó, ADB đã nâng triển vọng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong 2015 với dự báo tăng trưởng GDP ở mức 5,8%. Hãng đánh giá tín dụng Fitch Ratings vừa nâng xếp hạng nhà phát hành nợ nội tệ và ngoại tệ dài hạn của Việt Nam từ BB- lên B+, triển vọng cũng được nâng từ “Ổn định” lên “Tích Cực”. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s cũng tăng mức tín nhiệm đối với trái phiếu chính phủ từ mức B2 lên mức B1 và mức triển vọng được đánh giá là “Ổn định”

Về triển vọng kinh doanh 2015, biên lợi nhuận của các doanh nghiệp có hoạt động gắn liền với biến động giá hàng hóa sẽ được cải thiện

Trong năm 2014, chỉ số giá hàng hóa của Bloomberg đã giảm hơn 17%, giá dầu WTI giảm 45,8% và giá xăng A92 giảm 26%. Xu hướng giảm giá hàng hóa nguyên liệu đầu vào dự báo sẽ tiếp diễn trong năm 2015. Trước xu hướng này, chúng tôi đã thực hiện khảo sát nhận định của các chuyên viên ngành về mức độ tác động lên biên lợi nhuận của một số ngành có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu hàng hóa caoThông qua khảo sát này, chúng tôi nhận thấy: Những ngành với giá sản phẩm đầu ra có độ nhạy thấp so với giá nguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi nhiều. Đó là những ngành có độ tập trung cao vào một số doanh nghiệp nhất định, giá sản phẩm đầu ra do một vài doanh nghiệp lớn dẫn dắt hay do sự bắt tay giữa các doanh nghiệp dẫn đến tình trạng “độc quyền”.

Các ngành có giá hàng hóa nguyên liệu giảm giá gần đây (đặc biệt là nửa sau 2014) sẽ có khả năng cải thiện biên lợi nhuận cao hơn. Theo quan sát, giá sản phẩm đầu ra thường được điều chỉnh để phản ánh biến động giá nguyên liệu đầu vào theo đúng quy luật thị trường. Trong năm 2015, chúng tôi cho rằng những ngành đã có giá nguyên liệu giảm sâu kể từ trước năm 2014 có thể sẽ cải thiện biên lợi nhuận không đáng kể so với các ngành vừa mới đón nhận đợt giảm giá nguyên liệu đầu vào trong năm 2014, đặc biệt là từ nửa cuối năm này. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng thấp, thị trường có tính quốc tế, không gặp rào cản xuất nhập khẩu…, việc nguyên liệu đang trong đợt sóng giảm sẽ càng làm kết quả kinh doanh DN khó khăn hơn. Các ngành này cũng thường có biên lợi nhuận gộp rất thấp, chẳng hạn: thép (5,2%), phân phối khí (6,6%).

Tương quan biên lợi nhuận gộp của một số ngành với giá nguyên liệu đầu vào

4

5

Dòng vốn ngoại vẫn sẽ hoạt động tích cực trên TTCK Việt Nam

Như những phân tích ở trên có thể thấy nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đang có cơ hội để phát triển. Nhằm đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc, khung chính sách cũng từng bước được hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tế, khả năng tiếp cận của dòng vốn ngoại đến những hàng hóa có chất lượng (được Nhà nước cung ra thị trường thông qua các đợt IPO và bán vốn) theo đó ngày càng được rút ngắn và thuận tiện hơn. Đây sẽ là những yếu tố giữ chân và thu hút thêm dòng vốn ngoại

Về nguồn vốn đối ứng, chúng tôi kỳ vọng nhiều nhất vào dòng tiền từ các NĐT Nhật và châu Âu. Theo thống kê của Rongviet Research, dòng vốn ngoại đến từ Nhật và châu Âu (đặc biệt là từ Đức) chiếm tỉ trọng lớn trên TTCK Việt Nam, lần lượt là 23% và 18%. Các quốc gia này cũng đang có kế hoạch thực hiện kích thích kinh tế trong năm 2015, trong đó NHTW châu Âu (ECB) tung gói kích thích trị giá ít nhất 1,1 nghìn tỷ euro (~1,3 nghìn tỷ USD) đồng thời giữ nguyên mức lãi suất thấp kỷ lục 0,05% và NHTW Nhật Bản Nhật Bản mở rộng gấp đôi quy mô gói kích thích từ 50.000 tỷ Yen lên 80.000 tỷ Yen. Với điều kiện vĩ mô ổn định và đang từng bước cải thiện, chúng tôi kỳ vọng Việt Nam sẽ là điểm đến của nguồn vốn này. Số liệu thống kê của Rongviet Research cũng cho thấy, mặc dù bán ròng trong khoảng thời gian cuối tháng 11 và tháng 12 năm 2014, nhưng trong hai tháng đầu năm 2015, khối ngoại đã trở lại mua ròng với giá trị là 983,2 tỷ đồng.

6

TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều hấp dẫn và VNIndex dự báo biến động trong vùng 561 – 718 điểm

So với các thị trường khác trong khu vực, chỉ số P/E, P/B tại thời điểm cuối năm 2014 của thị trường chứng khoán Việt Nam ở mức thấp nhất. Ngoài ra, xem xét biến động chỉ số P/E và P/B của VNIndex, chúng tôi thấy rằng tại thời điểm cuối năm 2014, hai chỉ số này đã tăng nhẹ so với năm 2013 song vẫn ở mức thấp so với giai đoạn 2006 – 2009. Để định lượng cụ thể hơn về vùng điểm biến động của VNIndex trong năm 2015, chúng tôi sử dụng mô hình chiết khấu dòng cổ tức hai giai đoạn. Kết quả chạy mô hình cho thấy, với nền tảng kinh tế vĩ mô hiện tại, VNIndex sẽ biến động trong vùng 561 – 718 điểm tương ứng với kịch bản từ tiêu cực nhất đến tích cực nhất và dự báo kết thúc năm 2015 ở mức hợp lý 633,23 điểm.

7

8

Rủi ro

Hệ quả của quá trình tái cấu trúc. Nền kinh tế vẫn trong giai đoạn thực hiện tái cấu trúc và năm 2015 được xem là năm cuối cùng của giai đoạn 1, trong đó tái cấu trúc hệ thống ngân hàng vẫn là trọng tâm lớn nhất. Quan sát diễn biến giai đoạn 2012 – 2014, chúng tôi nhận thấy những hệ quả của việc thực hiện tái cấu trúc luôn có những ảnh hưởng không mong muốn, đôi khi gây shock tâm lý cho nhà đầu tư trên sàn chứng khoán.

Kinh tế phục hồi, khả năng chia sẻ dòng vốn của các kênh đầu tư khác càng tăng lên. Trong đó, chúng tôi đánh giá kênh đầu tư ngoại tệ và rủi ro biến động tỷ giá sẽ có ảnh hưởng nhiều nhất đến thị trường chứng khoán do có tính thanh khoản tương đương. Số liệu vĩ mô cho thấy khoảng cách giữa tỷ giá thực (REER) và tỷ giá danh nghĩa (NEER) ngày càng lớn, cường độ và tần suất biến động tỷ giá trên thị trường tự do và trong các ngân hàng đang ngày càng mạnh và nhiều hơn. Những dấu hiệu này cho thấy áp lực đối với việc phá giá VND (với biên độ cao hơn kế hoạch 2% của NHNN) đang ngày càng lớn và có khả năng tạo nên những cơn sốt “tỷ giá” nhất định, đặc biệt vào các mùa cao điểm trong năm và ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK.

Ngoài ra, một số rủi ro từ yếu tố bên ngoài khác cũng cần được NĐT quan sát. Trong đó, ba yếu tố cần được quan tâm nhiều nhất là (1) Việc tranh chấp lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc, (2) Sự suy thoái kinh tế cũng như biến động chính trị ở khu vực châu Âu, vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam và (3) Các bất ổn về chính trị, tôn giáo đang ngày càng tăng tại nhiều khu vực trên thế giới.

TRIỂN VỌNG NGÀNH

Với nhận định “nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước cánh cửa của sự phục hồi”, chúng tôi cho rằng cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh là rất nhiều nhưng thử thách cũng không nhỏ. Trong đó, mặt bằng lãi suất thấp sẽ tạo thuận lợi cho các công ty thâm dụng vốn vay; niềm tin tiêu dùng tăng làm cơ sở cho các doanh nghiệp hàng tiêu dùng nội địa; TPP và các FTAs mang đến cơ hội trực tiếp cho các ngành thế mạnh của Việt Nam như Dệt may, Thủy sản và gián tiếp tác động đến các ngành Kho vận, Logistic và không thể không đề cập đến các ngành Ngân hàng, Bất động sản dự kiến sẽ phục hồi khả quan với nhiều chính sách hỗ trợ, kéo theo sự tăng trưởng cho lĩnh vực xây dựng và vật liệu xây dựng nói chung.

Tuy nhiên, đối với một số lĩnh vực, cạnh tranh đã bắt đầu tăng lên ngày một rõ rệt, đồng thời thách thức cũng đi kèm với cơ hội. Bảng xếp hạng đánh giá 5 yếu tố cơ bản của ngành dưới đây cho thấy sự chuyển biến nhất định trong quan điểm tổng quan về ngành của chúng tôi.

9

So với năm 2014, có một sự chuyển dịch về đánh giá triển vọng từ các ngành phòng thủ sang những ngành nhạy cảm với chu kỳ kinh tế. Kết quả đánh giá định tính ngành ở trên cho thấy các ngành mang tính chu kỳ đều đạt mức điểm khá cao về cung-cầu. Trong đó, sự tăng trưởng về doanh thu có khả năng không chỉ đến từ thị trường nội địa mà còn từ thị trường xuất khẩu.

Các ngành được chúng tôi đánh giá cao trong năm nay bao gồm: 1- Dệt may, 2- Xây dựng, 3- Bất động sản, 4-Kho vận, 5- Ngân hàng Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng 6 ngành trong danh sách được đánh giá tích cực kế tiếp cũng là những ngành đáng quan tâm, bao gồm: 1- VLXD, 2- Bán lẻ ô tô, 3- Bao bì, 4- Săm lốp, 5- Tiện ích công cộng, 6- Hàng gia dụng và 7- Thực phẩm và đồ uống. Đối với các ngành còn lại, cơ hội đầu tư chỉ gói gọn trong một số phân khúc nhỏ và một vài doanh nghiệp nổi trội

TRIỂN VỌNG NGÀNH

DỆT MAY: Tiếp tục tăng trưởng tốt

Ngành dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chỉ sau ngành điện tử về giá trị xuất khẩu hằng năm. Giai đoạn 2010-2014, kim ngạch xuất khẩu của ngành tăng mạnh với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) ấn tượng 21,6%/năm.

Năm 2015, khi TPP cùng các hiệp định tự do thương mại với Hàn Quốc, EU và liên minh thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan được kí kết, cơ hội tăng trưởng cho hàng dệt may Việt Nam tiếp tục được mở rộng. Trong đó, trừ hiệp định TPP, các hiệp định nói trên đều đã kết thúc đàm phán để tiến tới ký kết vào năm 2015. Tuy nhiên, trong những kỳ đàm phán gần đây, Mỹ cũng đã có nhiều động thái để đẩy nhanh việc ký kết hiệp định TPP. Cùng với các hiệp định này, thuế suất đối với hàng dệt may xuất khẩu vào các thị trường chính như Mỹ (trung bình 17- 18%), EU (trung bình 10-12%), Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ được giảm dần theo lộ trình về 0%. Điều này có thể giúp tăng tính cạnh tranh về giá của hàng dệt may Việt Nam, qua đó gia tăng số lượng đơn hàng cũng như doanh thu cho các doanh nghiệp trong ngành. Thực tế, xu hướng chuyển dịch đơn hàng đã bắt đầu hai năm qua với giá trị xuất khẩu năm 2013 và 2014 tăng lần lượt 17,5% và 19%. Khi việc ký kết các hiệp định đã đến gần, xu hướng này được dự báo sẽ tiếp diễn mạnh mẽ trong năm nay, đưa kim ngạch xuất khẩu toàn ngành tăng khoảng 16%, đạt hơn 28 tỷ USD (Hiệp hội dệt may).

Sức khỏe của các nền kinh tế lớn cũng có ảnh hưởng lớn đến triển vọng tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam. Theo báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2015, IMF nhận định các nền kinh tế đầu tàu thế giới đang có những tín hiệu hồi phục tích cực. Cụ thể, Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam (46,9%), đã tăng trưởng GDP đạt 2,4% trong năm 2014. Dù kinh tế EU và Nhật vẫn còn nhiều khó khăn nhưng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang hai thị trường này vẫn đạt mức tăng trưởng khá, lần lượt 22,8% và 10,3%. Dưới tác động của các gói nới lỏng định lượng gần đây, có thể kỳ vọng hai nền kinh tế này sẽ có những hồi phục tích cực. Nhìn chung, nhu cầu đối với hàng dệt may Việt Nam tại ba thị trường lớn này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng khá trong năm nay. Theo dự báo của Hiệp hội dệt may Việt Nam, tỷ lệ tăng trưởng ở các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản lần lượt đạt 13%, 17% và 9% trong năm 2015.

Bên cạnh đó, xu hướng giảm giá các nguyên phụ liệu đầu vào như sợi (sợi tổng hợp và sợi bông), vải có thể vẫn tiếp diễn và giúp cải thiện biên lợi nhuận cho các doanh nghiệp dệt may trong năm 2015. Tuy nhiên, sự tác động của giá đầu vào giảm đến từng doanh nghiệp sẽ khác nhau. Cụ thể, các doanh nghiệp chuyên sản xuất nguyên phụ liệu như xơ, sợi sẽ không được hưởng lợi nhiều như các doanh nghiệp ngành may do nhu cầu đối với hàng may mặc tương đối ít co giãn theo giá. Dù vậy, việc giảm giá của vải, đầu vào trực tiếp của ngành may, sẽ có độ trễ nhất định so với xơ sợi. Ngược lại, việc tăng chi phí lương do tác động của việc tăng lương cơ bản (tăng 15%, áp dụng từ 01/01/2015) và nhu cầu về lao động trong ngành càng cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Để đón đầu Hiệp định TPP và các hiệp định FTA, nhiều công ty nước ngoài đã và đang có những hoạt động đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam. Tính đến cuối năm 2014, đã có khoảng 20 dự án đầu tư FDI lớn đầu tư vào ngành dệt may ở tất cả các khâu từ kéo sợi đến đan, dệt, nhuộm, thiết kế và may mặc. Trong đó, một số dự án FDI với quy mô lớn sẽ bắt đầu hoạt động từ năm nay như dự án của Yulun Giang Tô (Trung Quốc) hay Nam Phương Textile (Hồng Kông). Các dự án này có thể góp phần gia tăng nguồn cung nguyên phụ liệu trong nước, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tăng tỷ lệ nội địa hóa. Đây là điều cần thiết để các doanh nghiệp dệt may đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ của các hiệp định thương mại và giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (khoảng 70%). Tuy nhiên, về dài hạn, sự tham gia của các doanh nghiệp FDI sẽ gây sức ép cạnh tranh về đơn hàng xuất khẩu với các doanh nghiệp nội địa. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nhanh chóng gia tăng năng lực sản xuất để giữ chân khách hàng và duy trì thị phần.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp dệt may trong nước đã tiến hành đầu tư thêm theo bốn xu hướng đầu tư chính: (1) mở rộng năng lực gia công hiện hữu (may, thêu); (2) hoàn thiện chu trình sản xuất (xe sợi, dệt, nhuộm); (3) phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn (từ CMT lên FOB và ODM) và (4) xây dựng hệ thống bán lẻ để khai thác thị trường nội địa. Trong đó, việc đầu tư nhằm hoàn thiện chu trình sản xuất cũng không dễ thực hiện do các yêu cầu khắt khe về môi trường trong ngành dệt nhuộm và khó khăn trong việc xây dựng đội ngũ thiết kế. Tương tự, việc khai thác thị trường trong nước khá khó khăn do thu nhập đại bộ phận người dân chưa cao và chi phí đầu tư xây dựng hệ thống phân phối là rất lớn. Có thể nói, lãi suất thấp cùng với các chính sách ưu đãi đầu tư mới của chính phủ chỉ mới giúp giải quyết vấn đề về tài chính cho ngành dệt may. Hiệu quả đầu tư cuối cùng vẫn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm quản lý và khả năng nắm bắt thị trường của từng doanh nghiệp.

Nhân tố chính trong năm 2015

 Sức mua từ thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản có thể cải thiện cùng với đà hồi phục về kinh tế.

 Việc kí kết các hiệp định FTA với Hàn Quốc, EU, Liên minh Thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan và khả năng ký kết TPP trong năm 2015 tiếp tục thúc đẩy sự dịch chuyển về đơn hàng dệt may sang Việt Nam.

 Các doanh nghiệp FDI đầu tư vào ngành dệt may sẽ tạo ra nguồn nguyên phụ liệu trong nước để tăng tỷ lệ nội địa hóa và đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ quy định trong các hiệp định tự do thương mại.

 Giá nguyên liệu đầu vào như sợi , vải có thể tiếp tục xu hướng giảm giá trong năm 2015, ảnh hưởng tích cực đến biên lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may.

Rủi ro

 Các doanh nghiệp FDI có thể cạnh tranh về đơn hàng với các doanh nghiệp trong nước.

 Giá các loại nguyên phụ liệu như bông, sợi, hóa chất và chi phí nhân công có thể tăng nhanh.

 Tăng trưởng kinh tế và sức mua từ các thị trường lớn có thể thấp hơn kỳ vọng.

 Sự mạnh lên của đồng nội tệ do chính sách tỷ giá neo theo đồng USD có thể làm giảm tính cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu.

10

11

XÂY DỰNG: Hiệu ứng lan tỏa từ sự phục hồi của ngành bất động sản

Triển vọng năm 2015

Tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng có sự tương quan cao với tình hình thị trường BĐS. Cụ thể từ năm 2008 đến năm 2012, sự sụt giảm của ngành BĐS đã tác động mạnh đến ngành xây dựng. Đến năm 2013, ngành xây dựng đã có những dấu hiệu hồi phục với tốc độ vừa phải nhờ những hỗ trợ từ lãi suất, các gói tín dụng cho thị trường BĐS và dòng vốn FDI tăng mạnh. Năm 2014 được xem là năm khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới đối với ngành xây dựng. Theo báo cáo gần đây của BMI, giá trị xây dựng toàn ngành đạt 211,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2013. Ba nguyên nhân chính giải thích cho sự sự tăng trưởng tốt của ngành xây dựng là (1) sự tập trung đầu từ hạ tầng của Chính phủ; (2) BĐS phục hồi và (3) dòng vốn FDI tiếp tục tăng ở mức tích cực. Trong năm 2015, động lực cho sự tăng trưởng của thị trường xây dựng cũng sẽ không nằm ngoài những yếu tố trên. Tuy nhiên, sự ra đời của các văn bản pháp lý quan trọng như Luật đấu thầu 2013, luật đầu tư công số 49/2014/QH2013 và một số luật hỗ trợ cho thị trường BĐS sẽ là nhân tố mới được kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến ngành xây dựng. Ngành xây dựng được dự báo vẫn tăng trưởng khá với mức tăng vào khoảng 6,5% trong năm nay.

Một số cải tiến trong chính sách của Chính Phủ có tác động tích cực đến ngành xây dựng. Luật đấu thầu 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định nhà thầu ngoại phải liên doanh hoặc ký hợp đồng với nhà thầu phụ Việt Nam không thấp hơn 30% giá trị gói thầu về tư vấn, xây dựng và hỗn hợp. Điều này hứa hẹn sẽ cải thiện khả năng cạnh tranh của nhà thầu trong nước cũng như tăng tính minh bạch trong đấu thầu dự án. Các công ty xây dựng trong nước sẽ có nhiều cơ hội tham gia vào các dự án do Nhà nước đầu tư. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 cũng sẽ nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, khắc phục tình trạng nợ đọng và tạo tính minh bạch trong phân bổ nguồn lực Nhà nước. Theo Báo cáo của Chính phủ, tổng số nợ XDCB cả nước 6T/2014 là 44.590 tỷ đồng, giảm 23% so với năm 2013. Việc tạo ra cơ chế để giải quyết nợ đọng XDCB sẽ giải quyết được vấn đề dòng tiền cho không ít doanh nghiệp. Đặc biệt, một văn bản hướng dẫn chính thức về hình thức hợp tác công tư (PPP) trong 2015 là điều nhiều doanh nghiệp xây dựng hạ tầng đang chờ đợi. Trong năm 2014, tổng mức đầu tư các dự án huy động vốn ngoài ngân sách Nhà nước đạt 178.165 tỷ đồng với 65 dự án được đầu tư, trong đó Bộ GTVT đã huy động được 39.077 tỷ đồng cho 19 dự án theo hình thức BOT, vượt 22% kế hoạch năm. Dự thảo Nghị định về PPP cho thấy quy định về các điều khoản hợp tác, cơ chế thực hiện dự án rõ ràng và thông thoáng hơn nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công. Qua đó, các chính sách này được xem là động lực tăng trưởng quan trọng đối với ngành xây dựng trong năm 2015.

Với vai trò là ngành tạo cầu cho ngành xây dựng, BĐS đang được nhiều yếu tố thuận lợi hỗ trợ làm tác động tích cực đến đến giá trị xây dựng dân dụng. Theo thống kê từ Bộ Xây Dựng, trong năm 2014, cả nước đã hoàn thành đầu tư xây dựng 102 dự án nhà ở xã hội với gần 40.000 căn hộ. Tổng diện tích sàn nhà ở toàn quốc tăng thêm 92 triệu m2 so với 2013, diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 20,6 m2 sàn/người, tăng 1m2 sàn/người so với năm 2013. Với nhiều chính sách hỗ trợ thị trường BĐS như cho phép nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam, nới lỏng điều kiện tham gia gói 30.000 tỷ đồng và giảm tỷ lệ rủi ro cho vay BĐS. Sức tiêu thụ BĐS trong năm 2014 cũng có sự cải thiện đáng kể. TPHCM đã bán được khoảng 17.000 căn hộ trong năm 2014, con số cao nhất trong lịch sử, còn Hà Nội cũng có được con số tiêu thụ cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây, khoảng 10.700 căn hộ (CBRE). Qua đó, dòng tiền thu vào của các chủ đầu tư cũng được cải thiện, từ đó, làm cho khoản phải thu trên bảng CĐKT của các doanh nghiệp xây dựng “đẹp” hơn. Với việc mặt bằng lãi suất vẫn ở mức thấp và nhu cầu cải thiện trong năm 2015, số lượng dự án được khởi động lại hoặc khởi công mới sẽ tiếp tục gia tăng. Theo kế hoạch từ Bộ Xây Dựng, diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 21,5 m2 sàn/người trong năm 2015, tăng 1m2 sàn/người so với năm 2014. Giá trị hợp đồng xây dựng và theo đó là doanh thu cho các công ty xây dựng có thể tăng trưởng khá.

Hạ tầng giao thông tiếp tục được tập trung đầu tư. Trong năm 2015, nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh. Trong đó, Chính phủ sẽ tập trung phân bổ vốn cho các dự án trọng điểm như đường sắt, cảng hàng không.

12

Với sự tăng trưởng nhanh của các dự án hạ tầng trong năm 2015, ngoài NSNN, Bộ Xây Dựng sẽ có những kế hoạch huy động vốn xã hội hóa để đầu tư như đề án PPP và lãi suất thấp. Cụ thể, Bộ GTVT vừa qua đã phê duyệt các Đề án Huy động vốn xã hội hóa để đầu tư kết cấu hạ tầng đường sắt và hàng không.

Dòng vốn FDI vào ngành sản xuất sẽ hỗ trợ sự tăng trưởng của mảng xây dựng công nghiệp. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, năm 2014, dòng tiền từ các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam bằng 93,5% so với 2013 và tăng 19% so với kế hoạch năm 2014 (17 tỷ USD). Ngoài ra, gần 80% dòng vốn FDI trong năm 2014 chảy vào ngành xây dựng, bất động sản và sản suất như nhà máy của Samsung tại Thái Nguyên (3 tỷ USD), nhà máy Samsung ở Bắc Ninh (1 tỷ USD), công ty xây dựng Dewan International (1,25 tỷ USD) và nhà máy sản xuất thiết bị điện tử công nghệ cao ở TPHCM (1,4 tỷ USD).

Chúng tôi dự báo vốn FDI đăng ký năm 2015 sẽ nằm ở mức tương đương vốn FDI 2014, khoảng 20 tỷ USD và có thể giải ngân ở mức 15 tỷ USD. Ngoài ra, nhu cầu xây dựng nhà xưởng để sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng. Cụ thể, một số dự án lớn đã được cấp phép trong tháng 1/2015 như dự án công ty TNHH Worldon (300 triệu USD) tại TPHCM; dự án công ty TNHH Regina Miracle International tại Hải Phòng (90 triệu USD) và dự án công ty TNHH Taekwang MTC tại Đồng Nai (43,2 triệu USD). Bên cạnh đó là xu hướng mở rộng diện tích kho bãi cho thuê của các doanh nghiệp logistics trong nước. Các công ty logistics trong nước thường khó cạnh tranh với các công ty nước ngoài về công nghệ, vốn và kinh nghiệm quản lý nhưng có lợi thế về khả năng tiếp cận quỹ đất. Với việc Việt Nam sắp ký kết nhiều hiệp định thương mại, các doanh nghiệp logistics sẽ đẩy mạnh đầu tư kho bãi để đón đầu tăng trưởng về nhu cầu. Đây cũng sẽ là một điểm cộng đối với ngành xây dựng trong năm 2015.

Nhân tố chính trong năm 2015

 Việc hiện thực hóa TPP sẽ giúp tăng giá trị xây dựng trong lĩnh vực hạ tầng và công nghiệp.

 Khung pháp lý chính thức về công tư PPP nhằm thúc đẩy nguồn vốn từ khu vực tư nhân.

 Quá trình “làm sạch” tỉ lệ nợ xấu đang được đẩy mạnh nhằm cải thiện nguồn vốn tín dụng.

 Chi phí VLXD vẫn giữ ở mức ổn định.

 Luật đấu thầu 2013 làm hỗ trợ cạnh trạnh của các nhà thầu trong nước đối với các nhà thầu ngoại.

 “Manh nha” hồi phục của ngành bất động sản sẽ là yếu tố tích cực cho ngành xây dựng.

Rủi ro

 Các chính sách pháp lý không được thực hiện hoặc tiến triển như đã kỳ vọng (luật đầu tư công và khung pháp lý cho công tư PPP).

 Việc ký kết TPP và các FTA khác không như dự kiến.

 Mức độ ảnh hưởng từ sự hồi phục của ngành BĐS không như mong đợi.

13

14

 

 

BẤT ĐỘNG SẢN: Ở bước đầu của sự hồi phục

Triển vọng năm 2015

Bắt đầu “manh nha” hồi phục từ giữa năm 2014, ngành BĐS được kỳ vọng sẽ thu hút được sự quan tâm của nhu cầu thực cũng như nhận được hỗ trợ từ các yếu tố vĩ mô. Trong đó, các chính sách hỗ trợ ngành và nới lỏng việc cho vay BĐS sẽ có tác động tích cực đến khả năng kinh doanh cũng như tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong ngành

Áp lực tài chính đối với các doanh nghiệp BĐS sẽ giảm đi đáng kể. Việc Thông tư 36 giảm tỷ lệ rủi ro cho vay BĐS từ 250% còn 150% được kỳ vọng sẽ giúp khơi thông dòng tín dụng đối với lĩnh vực BĐS, giúp các doanh nghiệp trong ngành nối lại hoạt động bán hàng và đầu tư cho các dự án. Bên cạnh đó, lãi suất đi vay thấp hơn cũng sẽ giảm áp lực về chi phí lãi vay đối với những công ty đã vay nợ nhiều trong các năm trước. Cuối cùng, sự sôi động trở lại của TTCK sẽ làm tăng khả năng thành công cho kế hoạch phát hành thêm của nhiều công ty BĐS niêm yết. Từ đó, các doanh nghiệp này sẽ có thêm nguồn tiền để trả bớt nợ vay và cải thiện tình hình tài chính.

Mặt bằng lãi suất thấp có tác động tích cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp BĐS một cách trực tiếp lẫn gián tiếp. Một mặt, doanh nghiệp tiết giảm được chi phí lãi vay, mặt khác, với lãi suất thấp, những người có nhu cầu thực tự tin hơn để mua nhà hoặc bất động sản để kinh doanh. Trong đó, hưởng lợi một cách rõ ràng nhất là những công ty có các sản phẩm được định vị phù hợp với nhu cầu thị trường và sẵn sàng để kinh doanh

Bất động sản công nghiệp tiếp tục cho thấy triển vọng tươi sáng nhất trong năm 2015. Với dự báo vốn FDI giải ngân 2015 tăng 10%, xu hướng chuyển cơ sở sản xuất sang Việt Nam để đón đầu các hiệp định thương mại lớn như TPP và FTA của các công ty đa quốc gia cùng sự mở rộng của các doanh nghiệp vệ tinh và logistics là yếu tố thúc đẩy nhu cầu thuê đất tại các KCN. Trong khi đó, nguồn cung mới được dự báo là khá hạn chế; nhờ đó, giá thuê đất sẽ tăng khoảng 5-7% trong năm nay (Cushman & Wakefield). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nhu cầu thuê sẽ tập trung nhiều vào các khu công nghiệp có vị trí thuận lợi và quy hoạch phù hợp với một số ngành hưởng lợi từ TPP như dệt may, linh kiện điện tử… Có thể thấy, các dự án FDI lớn của Samsung (Bắc Ninh, Thái Nguyên), Nokia (Bắc Ninh) LG (Hải Phòng), Texthong (Quảng Ninh, Nam Định), TAL (Thái Nguyên), Itochu (Nam Định) đều nằm ở những địa phương có nguồn nhân công rẻ và nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, những doanh nghiệp kinh doanh BĐS KCN còn quỹ đất sạch ở những khu vực này sẽ có lợi thế lớn để thu hút thêm nhiều khách thuê trong năm 2015 cũng như các năm tới.

Nhà đất giá rẻ đón nhận nhu cầu thực trong khi phân khúc cao cấp còn nhiều rủi ro. Năm nay, chúng tôi kỳ vọng sẽ tiếp tục có sự gia tăng đều đặn về nhu cầu phân khúc nhà ở vừa túi tiền (diện tích 45-70m2 , giá bán 12-17 triệu/m2 ) đặc biệt là sau khi các điều kiện từ gói 30.000 tỷ đồng được nới lỏng (lãi suất giảm còn 5%/năm, thời gian cho vay tối đa lên tới 15 năm). Nhờ khả năng tiêu thụ tốt, các dự án này có thể tạo ra dòng tiền cho các doanh nghiệp có sẵn sản phẩm để kinh doanh. Tương tự, triển vọng tiêu thụ của sản phẩm đất nền trong năm nay cũng khá tích cực nhờ sự hình thành các dự án hạ tầng trọng điểm như cao tốc Bến Lức-Long Thành, Đà Nẵng - Quảng Ngãi… Vì sản phẩm đất nền không cần nhiều vốn đầu tư và có thể triển khai nhanh nên đây sẽ là nguồn ghi nhận doanh thu và lợi nhuận chính cho nhiều công ty BĐS.

Ngược lại, việc cho phép người nước ngoài mua nhà ở Việt Nam và đẩy nhanh các dự án hạ tầng giao thông sẽ thúc đẩy việc phát triển các dự án nhà ở cao cấp ở các thành phố lớn và làm gia tăng nguồn cung. Trong khi đó, theo đánh giá của chúng tôi, nhu cầu thực ở phân khúc này vẫn chưa cải thiện nhiều. Đồng thời, những quy định mới, cởi mở hơn đối với việc cho vay thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai cũng có thể kích thích hoạt động đầu cơ và đẩy giá BĐS lên cao. Thực tế, nhiều doanh nghiệp BĐS vẫn đang đẩy mạnh bán hàng qua các nhà đầu tư thứ cấp để tăng doanh số. Điều này dẫn đến rủi ro hàng bán bị trả lại trong các năm tới nếu các sản phẩm không tiêu thụ được.

Bên cạnh đó, gần đây có sự bùng nổ xu hướng mua nhà và cho thuê lại như một bài toán kinh doanh rủi ro thấp trong điều kiện lãi suất hiện nay. Thậm chí, nhiều chủ đầu tư và sàn môi giới BĐS còn cam kết thuê lại của khách hàng đề thúc đẩy tiêu thụ. Tuy nhiên, sự bùng nổ này có thể sẽ dẫn đến dư cung tạm thời mảng cho thuê nhà ở và làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh này. Điều đó càng khiến chúng tôi nghi ngờ về sự hồi phục thực sự của phân khúc căn hộ trung cấp – cao cấp.

Cho thuê văn phòng – Mặt bằng bán lẻ đứng trước áp lực tăng cung. Nguồn cung về diện tích văn phòng cho thuê và mặt bằng bán lẻ được dự báo sẽ tăng nhanh so với nhu cầu. Riêng mảng cho thuê TTTM còn đứng trước áp lực cạnh tranh từ các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Tuy nhiên, nhu cầu thuê văn phòng và mặt bằng bán lẻ có thể cải thiện môi trường kinh doanh và sức mua nội địa hồi phục sẽ giúp giá thuê ổn định ở phân khúc trung bình, thấp. Nhìn chung, nhiều doanh nghiệp hướng tới cái nhìn dài hạn khi đầu tư vào mảng văn phòng và mặt bằng bán lẻ hơn là kỳ vọng sự khởi sắc trong vòng 1 năm tới.

Kỳ vọng đã đưa giá cổ phiếu đi trước sự cải thiện về KQKD. Tính chung cả năm 2014, chỉ số giá cổ phiếu ngành bất động sản đã tăng khoảng 20%. Dù tăng trưởng EPS bình quân của toàn ngành vào khoảng 57% (loại trừ VIC do công ty này có thu nhập bất thường từ việc chuyển nhượng một phần TTTM Vicom Center A trong năm 2013), EPS bình quân của các cổ phiếu BĐS chỉ vào khoảng 560 đồng và tỷ số P/E trailing của nhóm cổ phiếu này cũng lên tới 44 lần (khoảng 29 lần nếu tính cả VIC). Điều này cho thấy TTCK vẫn đang kỳ vọng rất nhiều vào sự đảo chiều về KQKD của các doanh nghiệp BĐS tuy thực tế, sự cải thiện này vẫn chưa thực sự rõ nét.

Năm nay, chúng tôi cho rằng KQKD của các công ty BĐS niêm yết nhìn chung sẽ chỉ ở mức khá về giá trị tuyệt đối do điểm rơi ghi nhận doanh thu của các hầu hết dự án vừa được khởi công hoặc khởi động lại đều rơi vào giai đoạn 2016-2017. Tất nhiên, với KQKD khiêm tốn năm 2014, tăng trưởng lợi nhuận bình quân của hầu hết các doanh nghiệp có thể đạt mức cao. Một vài doanh nghiệp, đặc biệt những doanh nghiệp vốn hóa vừa và nhỏ có quỹ đất nhưng đang gặp khó khăn về tài chính cũng có cơ hội ghi nhận lợi nhuận đột biến qua việc chuyển nhượng hoặc kêu gọi hợp tác đầu tư vào các dự án.

Như vậy, khả năng tăng giá trên diện rộng của nhóm cổ phiếu BĐS là không nhiều. Thay vào đó, sự đột phá sẽ vẫn đến từ “câu chuyện” riêng của từng doanh nghiệp. Điểm sáng cố hữu của ngành này là một số doanh nghiệp vẫn có giá trị sổ sách/NAV cao hơn giá thị trường. Bên cạnh đó, cổ phiếu BĐS là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn xét về số lượng mã cổ phiếu và quy mô vốn hóa trên thị trường. Cùng với những chính sách hỗ trợ ngành bất động sản vừa mới ban hành của Chính Phủ, năm 2015, ngành bất động sản dự kiến vẫn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư

Nhân tố chính trong năm 2015

 Các dự án hạ tầng giao thông lớn sẽ thúc đẩy việc phát triển các dự án và giao dịch BĐS ở khu vực có hạ tầng đi qua.

 Hoạt động cho vay BĐS được nới lỏng sau khi Thông tư 36 giảm hệ số rủi ro cho vay BĐS từ 250% còn 150%.

 Việc cho phép người nước ngoài mua nhà ở Việt Nam có thể thúc đẩy nhu cầu ở phân khúc cao cấp.

 Khung giá đất mới được áp dụng từ tháng 01/2015 tạo ra lợi thế cho những doanh nghiệp đã có sẵn quỹ đất lớn.

Rủi ro

 Nguồn cung mới tăng nhanh ở các phân khúc có thể tạo áp lực lên khả năng tiêu thụ và giá thuê, mua BĐS.

 Việc thi hành các chính sách mới sau khi có các văn bản hướng dẫn có thể không thuận lợi như kỳ vọng.

 Lãi suất cho vay có thể tăng trở lại, ảnh hưởng đến KQKD của các doanh nghiệp trong ngành.

1

16

 

KHO VẬN: Cơ hội tăng trưởng từ nhiều yếu tố hỗ trợ

Triển vọng năm 2015

Ngành kho vận ở Việt Nam có thể được chia thành 03 phân khúc chính : vận tải và kho bãi, khai thác cảng và vận tải thủy. HĐKD của các công ty kho bãi và khai thác cảng các năm qua nhìn chung khá ổn định và có tỷ suất sinh lời trên VCSH trung bình hằng năm đều trên 15%. Trong khi đó, hoạt động vận tải thủy, tuy chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái kinh tế toàn cầu, đã cho thấy dấu hiệu chạm đáy và được dự báo sẽ hồi phục sớm. Trên cơ sở nền kinh tế phục hồi, triển vọng ký kết các hiệp định thương mại lớn cùng nhiều chính sách hỗ trợ, chúng tôi đánh giá triển vọng phát triển của nhóm ngành kho vận trong năm 2015 là khá tích cực.

Ngành kho vận đứng trước cơ hội phát triển nhờ tăng trưởng XNK cả nước cũng như việc ký kết các hiệp định thương mại lớn. Việc kinh tế Việt Nam đang thoát đáy với tăng trưởng GDP năm 2014 cao hơn dự báo là một tín hiệu tích cực đối với lĩnh vực kho vận. Trong đó, các chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến ngành như tổng kim ngạch XNK và sản lượng hàng hóa thông quan năm 2014 đều tăng ở mức hai con số lần lượt là 12,8% và 13,5% so với năm 2013. Bên cạnh đó, việc ký kết các hiệp định như FTA Việt Nam-Hàn Quốc, Việt Nam-EU, Việt Nam-Liên minh Hải Quan và TPP cũng như Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) chính thức được thực hiện trong năm nay sẽ thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Việt Nam.

Mặt khác, chính triển vọng ký kết các Hiệp định thương mại nói trên cũng đang thu hút dòng vốn FDI đổ vào các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Ví dụ điển hình là xu hướng dịch chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam của các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG và Nokia. Xu hướng này sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ vận tải và thuê kho bãi cũng như sản lượng hàng hóa thông qua cảng. Năm 2015, Hiệp hội cảng biển Việt Nam (VPA) dự báo sản lượng hàng hóa thông quan sẽ tiếp tục tăng trưởng 10%-12% so với 2014; trong đó, sản lượng container thông quan có thể tăng trưởng khoảng 13%. Theo Business Monitor International, sản lượng hàng hóa vận tải đường bộ cả năm 2015 dự kiến tăng trưởng khoảng 8,28%, tức là cao hơn hẵn mức 6,01% của năm 2014 góp phần cải thiện lưu lượt hàng hóa (tấn.Km).

Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng đang đem lại nhiều thuận lợi cho ngành. Để thúc đẩy thương mại, gần đây, Nhà Nước đang quan tâm nhiều đến việc đầu tư phát triển hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy thông qua việc xây dựng và hoàn thiện nhiều tuyến cao tốc (TPHCM-Long Thành-Dầu Giây, Nội Bài – Lào Cai, Hà Nội-Hải Phòng, TPHCM- Cần Thơ) và tăng cường nạo vét luồng lạch ở các khu vực cảng lớn (luồng Soài Rạp, luồng tàu vào cảng Hải Phòng) song song với việc khai trương một số tuyến vận tải ven biển (tuyến Quảng Ninh – Quảng Bình- ĐBSCL, tuyến Hải Phòng - Đà Nẵng). Việc đầu tư này sẽ giúp doanh nghiệp tiết giảm đáng kể chi phí bảo trì, thời gian, tăng lưu lượng vận chuyển và hạn chế ùn tắc ở cảng.

Hoạt động vận tải - kho bãi

Các công ty kho vận trong nước có xu hướng đầu tư mở rộng quy mô kho bãi, nâng cao chất lượng dịch vụ để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Thị trường kho vận hiện nay có sự phân hóa rõ rệt về thị phần của các doanh nghiệp kho vận nước ngoài (80%) và nội địa (20%), dù số lượng doanh nghiệp kho vận nội địa vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo. Tiềm lực tài chính thấp, khả năng ứng dụng công nghệ và kinh nghiệm quản lý hạn chế, thiếu liên kết là những điểm yếu của các doanh nghiệp kho vận trong nước. Xu hướng chung của nhiều doanh nghiệp kho vận trong nước hiện nay là nâng cao chất lượng dịch vụ để từng bước cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các công ty kho vận nước ngoài qua đó tiếp cận hệ thống mạng lưới khách hàng, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp FDI.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp kho vận nội địa cũng có những lợi thế nhất định, đặc biệt là khả năng tiếp cận và tích lũy quỹ đất lớn. Trong ngắn hạn, ngoài việc đầu tư cho công nghệ và chuyên môn quản lý, nhiều doanh nghiệp kho vận nội địa đang tận dụng lãi suất vay vốn thấp để gia tăng năng lực vận chuyển cũn

 

M&oc

hotline