Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Chiến lược đầu tư tháng 12/2014

Được đăng vào 1-12-2014

Chiến lược đầu tư tháng 12/2014

Trong tháng Mười Một, TTCK đã đón nhận liên tiếp hai cú sốc thông tin lớn là việc ban hành Thông tư 36 và đợt giảm mạnh của dầu thô trên thị trường quốc tế. Một mặt, việc các công ty chứng khoán đồng loạt giảm tỷ lệ ký quỹ của các cổ phiếu “nóng” ngay sau khi Thông tư 36 được ban hành đã làm dâng lên những lo ngại rằng dòng tín dụng cho kênh đầu tư chứng khoán sẽ bị siết lại. Mặt khác, việc giá dầu thế giới giảm xuống dưới ngưỡng tâm lý $70/thùng cũng kích thích việc bán ra ồ ạt, chủ yếu từ khối ngoại, ở các cổ phiếu dầu khí vốn chiếm tỷ trọng lớn trong VNIndex và HNIndex. Dù vậy, điều đáng mừng là ngay cả trong những phiên giảm mạnh, trên thị trường cũng không hề xuất hiện tâm lý hoảng loạn; lực bán tập trung phần nhiều vào nhóm cổ phiếu dầu khí và chủ yếu đến từ khối ngoại. Việc các nhà đầu tư có thể lấy lại được sự bình tĩnh chỉ trong một thời gian ngắn cho thấy quá trình xử lý thông tin trên thị trường đã hiệu quả hơn và các thông tin tiêu cực đã được “tiêu hóa” phần nhiều trong tháng Mười Một

Giá dầu và diễn biến của nhóm ngành dầu khí hiện vẫn là mối quan ngại thường trực của nhà đầu tư trong giai đoạn này. Tại thời điểm này, khó có thể khẳng định đà giảm của giá dầu sẽ không kéo dài, đặc biệt là sau khi Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới, công bố PMI ngành sản xuất tháng Mười Một thấp nhất trong vòng hơn nửa năm qua (50,3 điểm). Trong những ngày đầu tháng Mười Hai, với tâm lý chọn thời điểm để tích lũy đã được “lên dây cót” từ trước, chúng tôi nhận thấy hoạt động bắt đáy đã xuất hiện trở lại, ngay cả ở một số cổ phiếu nhóm dầu khí. Điều này cho thấy là không phải tất cả nhà đầu tư đều mang “gánh nặng” tâm lý đối với nhóm cổ phiếu dầu khí và sự tự tin vẫn đang hiện hữu trên thị trường. Cộng với việc mặt bằng giá của nhiều cổ phiếu đã về mức khá hấp dẫn, chúng tôi cho rằng tâm lý ổn định sẽ là điểm tựa cho thị trường trong tháng cuối cùng của năm 2014.

1

2

KINH TẾ THẾ GIỚI

Kinh tế Mỹ - tăng trưởng Q4/2014 ở mức vừa phải

Theo báo cáo Beige Book về triển vọng kinh tế được FED công bố ngày 03/12, cơ quan này đã đưa ra đánh giá rất lạc quan rằng thị trường lao động đang cải thiện trên diện rộng. Theo dự báo của nhiều nhà phân tích, trong tháng 11 nền kinh tế Mỹ dự báo sẽ tạo ra 230.000 việc làm, đây là lần thứ 10 liên tiếp nền kinh tế Mỹ tạo ra hơn 200.000 việc làm/tháng. Đồng thời, tỷ lệ thất nghiệp nhiều khả năng sẽ giảm về mức 5,8%, tháng thứ 2 liên tiếp đứng dưới ngưỡng 6%. Điều còn gây quan ngại chính là tăng trưởng lương vẫn chậm chạp, ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu mua sắm của người dân. Bù lại, giá năng lượng giảm mạnh lại là yếu tố kỳ vọng có thể thúc đẩy chi tiêu thời điểm cuối năm.

Dù số liệu về việc làm tại Mỹ khá lạc quan trong tháng này, các số liệu về hoạt động sản xuất, dịch vụ và niềm tin tiêu dùng đều có dấu hiệu chững lại. Cụ thể, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất giảm từ 55,9 điểm về mức 54,8 điểm, mức thấp nhất trong 10 tháng qua. Tương tự, PMI lĩnh vực dịch vụ giảm về còn 56,2 điểm so với mức 57,1 điểm của tháng 10. Bên cạnh đó, chỉ số niềm tin tiêu dùng Mỹ theo khảo sát của Conference Board giảm về mức 88,7 điểm so với mức 94,1 của tháng trước. Thông thường, tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ chậm lại trong quý cuối năm, do đó, các chỉ báo trên không phải yếu tố đáng quan ngại. Tăng trưởng GDP quý 4/2014 có thể sẽ chậm lại ở mức độ vừa phải và chỉ mang tính tạm thời.

3

EU – gói QE sẽ được triển khai đầu năm 2015

Theo báo cáo mới nhất của Eurostat, tốc độ tăng trưởng GDP trong quý 3 của khu vực tiếp tục tăng trưởng chậm chạp (~0,2%), tính theo năm, tăng trưởng của khu vực EU chỉ đạt 0,8%. Dù các chỉ báo kinh tế trước đó của hai nền kinh tế lớn nhất khu vực là Pháp và Đức không mấy khả quan, tốc độ tăng trưởng GDP của hai nước này cũng nhích nhẹ so với quý trước, tương ứng với mức 0,3% và 0,1%. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của chỉ số năng lượng giảm mạnh 2,5%, lạm phát của khu vực trong tháng 11 duy trì mức tăng 0,3% so với cùng kỳ. Đây là mức lạm phát thấp nhất trong 5 năm qua và tiếp tục cách xa mục tiêu 2% của NHTW châu Âu. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực trong tháng 10 tiếp tục duy trì mức cao, tương ứng với 11,5%.

Cùng với đó, báo cáo về chỉ số quản trị nhà mua hàng (PMI) mới đây của HSBC cũng cho thấy bức tranh ảm đạm về hoạt động sản xuất cũng như dịch vụ của khu vực này. Theo HSBC, PMI lĩnh vực sản xuất của khu vực giảm từ mức 50,6 xuống còn 50,1 điểm. Cũng theo báo cáo này, đây là lần đầu tiên cả ba nền kinh tế lớn nhất khu vực là Pháp, Đức và Ý đồng thời có chỉ báo xấu. Những dấu hiệu tiêu cực của các chỉ báo vĩ mô của khu vực cho thấy đà suy thoái vẫn tiếp tục ở nền kinh tế này. Trong khi đó, tại cuộc họp cuối cùng của năm 2014, ECB quyết định duy trì chính sách lãi suất thấp và cho biết sẽ tăng cường kích thích vào đầu năm sau. Theo chủ tịch ECB, đà lao dốc của giá dầu sẽ là trở ngại lớn đối với mục tiêu thúc đẩy lạm phát lên 2%. Ngoài ra, ECB cũng điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2015 xuống còn 1%, và kỳ vọng lạm phát còn 0,7% (chưa tính đến sự sụt giảm của giá dầu)

4

Trung Quốc – Nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng

Các số liệu về hoạt động sản xuất của Trung Quốc tiếp tục chững lại trong tháng này. Theo báo cáo mới nhất của HSBC, chỉ số Quản trị người mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất tháng 11 giảm từ mức 50,4 trong tháng 10 xuống còn 50 điểm, mức thấp nhất trong 8 tháng qua. Đi sâu vào chi tiết, một số chỉ số thành phần của PMI tiếp tục cho kết quả không mấy khả quan. Cụ thể, số đơn hàng trong nước dù vẫn giữ đà tăng trưởng trong tháng này nhưng tốc độ đã chậm lại, đồng thời, nhu cầu của khách hàng nước ngoài suy giảm cũng khiến số đơn hàng xuất khẩu giảm. Số liệu PMI chính thức của Tổng cục thống kê Trung Quốc cũng cho một kết quả tương tự, theo đó, chỉ số này giảm từ mức 50,8 xuống còn 50,3 trong tháng này

Trong tháng qua, PBOC đã bắt tay thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ bằng cách giảm 40 điểm cơ bản lãi suất cho vay xuống còn 5,6% và giảm 25 điểm cơ bản lãi suất tiền gửi xuống còn 2,75%. Theo một số nhận định của các nhà kinh tế, động thái này của NHTW Trung Quốc nhằm giảm chi phí vốn của các doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ cho thị trường bất động sản đang dư cung hiện nay. Tuy nhiên, việc điều chỉnh lãi suất có vẻ là một biện pháp chưa đủ mạnh để hỗ trợ nền kinh tế nước này. Trong bối cảnh trên, giá dầu thô thế giới giảm mạnh là một điểm sáng tích cực đối với quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới này.

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI

Ba chỉ số lớn của thị trường Mỹ gồm chỉ số Dow Jones, S&P 500 và Nasdaq đều tăng từ những phiên đầu tháng trước chiến thắng của Đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử giữa kỳ ở Mỹ diễn ra vào ngày 05/11. Tiếp theo đó, những thông tin tích cực từ số liệu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp giảm mức kỷ lục trong 6 năm qua hay kết quả kinh doanh quý III khả quan của các doanh nghiệp tiếp tục “giữ lửa” cho đà tăng này đến hết tháng.

Kết phiên ngày 28/11, Dow Jones và S&P 500 tăng lần lượt là 7,55% và 11,86% trong khi Nasdaq thể hiện sự vượt trội hơn với mức tăng 14,73%. Chứng khoán Châu Âu có vẻ đã trải qua một tháng hồi phục khó khăn và thành quả đạt được rất đáng ghi nhận. FTSE 100 bất ngờ tăng 2,69% từ mức giảm 3% của tháng trước, chỉ số CAC 40 và DAX cũng tăng lần lượt là 4,49% và 7,17% trong tháng 11. Dường như TTCK Châu Âu vẫn đang dõi theo từng động thái của Ngân hàng trung ương ECB, cam kết mở rộng chương trình kích thích kinh tế nếu cần thiết của Chủ tịch Mario Draghi đã tạo động lực khá nhiều cho TTCK nước này.

Trái với các diễn biến của hai thị trường trên, thị trường chứng khoán châu Á tiếp tục có diễn biến trái chiều trong tháng này. Nikkei 225, SSE và TSEC tiếp tục đà tăng trong tháng này, tương ứng với mức tăng 6,37%, 10,85% và 2,37%. Trong khi đó, đà giảm của VNIndex và HNIndex vẫn chưa có dấu hiệu chững lại. Đà giảm của giá dầu vẫn chưa có dấu hiệu chững lại, đạt mức suy giảm kỉ lục của năm nay (~17,87%), đưa mức giảm của cả năm nay lên tới 32%

5

KINH TẾ VIỆT NAM

Tổng cầu cải thiện hơn vào những tháng cuối năm

Theo khảo sát mới nhất của ANZ Roy-Morgan, chỉ số niềm tin tiêu dùng Việt Nam tháng 11 tăng thêm 6,2 điểm so với tháng trước, lên mức 140,9 điểm là mức cao nhất từ đầu năm 2014 đến nay. So sánh với các nước khác trong khu vực, chỉ số niềm tin tiêu dùng của Việt Nam hiện đang nằm trong top 3 (chỉ đứng sau Trung Quốc và Indonesia). Chuyển biến của niềm tin tiêu dùng song hành đồng thời với sự tăng tốc của tổng cầu nội địa. Theo đó, doanh thu hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng tăng 5,5% so với tháng trước, lũy kế 11 tháng, chỉ báo đại diện cho cầu tiêu dùng đã tăng 6,5% (sau khi loại trừ lạm phát), cao hơn nhiều so với mức tăng 5,6% của cùng kỳ năm 2013. Diễn biến này cũng tương đồng với số liệu theo thống kê của HSBC, chỉ số đơn hàng mới và đơn hàng xuất khẩu đều tăng trưởng góp phần đưa chỉ số PMI tăng lên 52,1 điểm trong tháng qua.

6

Tựu chung lại, chúng tôi cho rằng nhu cầu tiêu dùng càng về cuối năm càng được cải thiện. Bên cạnh yếu tố mùa vụ thì sự sụt giảm trên thị trường hàng hóa thế giới đã tác động tích cực lên cả sản xuất và tiêu dùng. Đây có thể được coi là điểm sáng của vĩ mô sau một thời gian dài nhu cầu tiêu thụ phục hồi khó khăn.

7

Thương mại được lợi nhờ giá hàng hóa thế giới giảm

8

Theo TCHQ, tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đã đạt 123,75 tỷ USD, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Trong top 20 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất, có khoảng 6 mặt hàng chịu tác động trực tiếp từ xu hướng giảm của giá hàng hóa thế giới trong thời gian qua và chiếm khoảng 10-12% kim ngạch xuất khẩu. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu đạt 121,56 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, những mặt hàng có liên quan đến các loại hàng hóa đang trong xu hướng giảm chiếm đến 21-23% tổng kim ngạch nhập khẩu. Xét ở góc độ tổng thể, xu hướng giảm giá hàng hóa chắc chắn sẽ có những tác động gián tiếp lên các mặt hàng còn lại, tuy vậy, về mặt định tính, chúng tôi cho rằng hoạt động thương mại của Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhờ xu hướng trên. Theo ước tính của GSO, kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2014 đạt 13,2 tỷ USD và nhập khẩu đạt 13,5 tỷ USD, tương đương với mức nhập siêu khoảng 300 triệu USD. Theo thường lệ, những tháng cuối năm nhập siêu sẽ gia tăng, tuy nhiên, xét trong bối cảnh trên, chúng tôi kỳ vọng thặng dư thương mại sẽ được duy trì ở mức khoảng 2 tỷ USD cho cả năm 2014.

9

Huy động trái phiếu chính phủ: Bài toán khó trong năm 2015

Sau một thời gian dài kênh huy động vốn trái phiếu thu hút dòng vốn của các NHTM thì dòng vốn vào kênh đầu tư này bắt đầu sụt giảm kể từ khi Kho bạc Nhà nước tạm dừng phát hành trái phiếu kỳ hạn dưới 3 năm. Trong tháng 9/2014, tỷ lệ trúng thầu vẫn ở mức tuyệt đối (100%), tuy nhiên sang quý IV/2014, tỷ lệ trúng thầu bắt đầu giảm dần. Tháng 11/2014, KBNN chỉ phát hành được khoảng 6.300 tỷ đồng với tỷ lệ trúng thầu bình quân là 37%, mức thấp nhất kể từ đầu năm. Và mặc dù sự sôi động trên thị trường sơ cấp suy giảm song mới đây, KBNN lần thứ hai đã điều chỉnh kế hoạch phát hành TPCP năm 2014, tăng thêm 30.000 tỷ đồng lên 262.000 tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 11, tổng số huy động vốn qua phát hành TPCP đạt hơn 229.000 tỷ đồng (~98,8% kế hoạch trước khi điều chỉnh). Do đó, nếu nhìn ở góc độ đặt một mục tiêu mới cho tháng cuối năm thì việc điều chỉnh tăng phát hành TPCP không phải là câu hỏi khó trả lời. Tuy nhiên, xét ở góc độ nhu cầu thị trường thì TPCP có vẻ không còn là kênh đầu tư ưa thích của NHTM do phải thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn cuối năm. Hơn nữa, định hướng chuyển cơ cấu vay nợ trong nước sang kỳ hạn dài chưa chắc đã thuyết phục được các NHTM, minh chứng là tỷ lệ trúng thầu ở mức rất thấp của những phiên đấu thầu TPCP gần đây.

 

10

Một điểm đáng lưu ý là trong Nghị quyết về dự toán NSNN năm 2015, Quốc hội đã yêu cầu từ năm sau, phát hành TPCP kỳ hạn từ 5 năm trở lên, không thực hiện các khoản vay ngắn cho bù đắp bội chi NSNN và giảm mức vay đảo nợ. Chúng tôi nghĩ rằng đây là một định hướng tốt song đồng thời cũng là gánh nặng đối với Bộ Tài Chính trong năm sau bởi: (1) Phần lớn nguồn vốn huy động trong hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, NHTM do đó phải rất cân nhắc khi đầu tư trái phiếu kỳ hạn dài; (2) Năm 2015, tổng vốn huy động TPCP là rất cao (~450.000 tỷ đồng) gồm bù đắp bội chi NSNN, phát hành đảo nợ và chi đầu tư. Như vậy, để huy động một lượng vốn lớn với thời gian vay nợ dài dường như khó khả thi trong điều kiện hiện nay. Trong tháng qua, lợi suất TPCP hầu hết các kỳ hạn đã tăng trở lại với mức tăng khoảng 45-70 điểm cơ bản, nhu cầu phát hành trái phiếu kỳ hạn dài khiến nhà đầu tư đặt ra kỳ vọng với mức lợi suất cao hơn.

11

Thông tư 36 – nắn dòng tín dụng Thông tư 36

được ban hành vào gần cuối tháng 11 đã tạo ra một sự xáo trộn không nhỏ đối với thị trường tài chính. Những quy định mới trong thông tư này đã được mổ xẻ ở nhiều khía cạnh, tuy nhiên để lượng hóa tác động của nó đối với thị trường thì diễn biến từ nay đến khi thông tư có hiệu lực sẽ là câu trả lời thích hợp nhất. Về mặt định hướng chung, chúng tôi cho rằng thông tư 36 là một giải pháp mang tính bước ngoặc đối với tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với mục tiêu: (1) siết sở hữu chéo; (2) nắn dòng tín dụng thúc đẩy vốn vào sản xuất. Nói thêm về mục tiêu thứ hai, những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đều khá chậm và ở mức thấp, phần vì doanh nghiệp trong nước vẫn đang trong quá trình đào thải, phần nữa là vì NHTM buộc phải siết chặt các điều kiện cho vay để đảm bảo an toàn hệ thống trong khi đang xử lý nợ xấu.

Thông qua quy định mới như tăng gấp đôi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn đồng thời giới hạn tỷ lệ đầu tư TPCP và cổ phiếu bằng những van khóa rất “rõ ràng”, chúng tôi cho rằng cơ quan điều hành đã thực sự quyết liệt hơn đối với việc đẩy mạnh vốn vào nền kinh tế. Trong ngắn hạn, những xáo trộn đã và đang diễn ra cùng với tâm lý quan ngại của các thành viên thị trường. Tuy nhiên, nếu tình hình thuận lợi, doanh nghiệp mạnh dạn vay vốn hơn và các ngân hàng trong “cái khó ló cái khôn” thì bỏ qua biến động ngắn hạn, chúng tôi kỳ vọng sẽ có một bước tiến sâu sắc đối với tăng trưởng tín dụng trong năm 2015 khi thông tư 36 chính thức có hiệu lực.

Đọc thêm : Thị trường nợ 

12

Tỷ giá – thời điểm điều chỉnh tỷ giá đang đến gần?

Tỷ giá có dấu hiệu tăng trong tháng qua, tính đến cuối tháng tỷ giá giao dịch của các NHTM tăng khoảng 0,6% so với tháng trước. Biến động trên có thể được lý giải dưới nhiều khía cạnh, tuy nhiên, điều chúng tôi quan tâm là NHNN đã tiếp tục đưa ra cam kết ổn định tỷ giá từ nay cho đến hết năm. Không chỉ là cam kết, những ngày đầu tháng 12, giá USD đã giảm trở lại trên cả thị trường ngân hàng và tự do. Theo phương tiện truyền thông, NHNN đã bán ra khoảng 1,5 tỷ USD với giá thấp hơn khoảng 60 đồng so với giá trần. Như vậy, dù diễn biến cung-cầu có biến động, giữ tỷ giá ổn định vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát của NHNN nhờ (1) cán cân thanh toán tích cực; (2) dự trữ ngoại hối ở mức khá. Đối với kỳ vọng trong năm 2015, chúng tôi cho rằng có nhiều yếu tố khiến NHNN sẽ điều chỉnh tỷ giá đầu năm sau.

Thứ nhất, đồng USD đang tăng giá mạnh trong thời gian qua, việc neo đồng VND theo đồng USD sẽ khiến đồng nội tệ tăng giá so với các loại tiền tệ khác. Hay nói cách khác, hàng hóa Việt Nam sẽ trở nên kém cạnh tranh hơn so với những hàng hóa đến từ các quốc gia khác trên trường quốc tế. Thứ hai, dòng vốn đầu tư gián tiếp có dấu hiệu rút khỏi thị trường vốn của Việt Nam trong thời gian gần đây. Vào thời điểm này của các năm trước, dòng vốn đầu tư nước ngoài diễn biến khá tích cực, tuy nhiên, năm nay, điều này vẫn chưa diễn ra. Thứ ba, nhu cầu trong nước hồi phục là tốt đối với nền kinh tế nhưng đồng thời chúng tôi cho rằng nhu cầu nhập khẩu cũng sẽ gia tăng. Tựu chung những yếu tố trên, chúng tôi nghĩ rằng thời điểm điều chỉnh tỷ giá đang đến gần. Cân nhắc các yếu tố tâm lý và nhu cầu thị trường, giữa Q1/2015 có thể là thời điểm thích hợp để NHNN điều chỉnh tăng thêm 1%.

13

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THÁNG 11/2014: GẬP GHỀNH CÙNG THÔNG TƯ 36 VÀ GIÁ DẦU

Hai chỉ số chính trên TTCK Việt Nam dường như vẫn chưa ra khỏi xu hướng giảm trong 3 tháng qua. Xét riêng trên sàn HSX, độ dốc của chỉ số VN-Index phản ánh mức giảm nhanh hơn tháng Mười. Trong suốt tháng Mười Một, VN-Index đã giảm 34,26 điểm (-5,7%), biến động của chỉ số này chia thành hai giai đoạn rõ rệt, gần như đi ngang trong hai tuần đầu và giảm mạnh sau khi SBV ban hành Thông tư 36 kèm theo việc giá dầu thô thế giới chạm đáy các năm trước. Ngược lại, cùng trong xu hướng giảm nhưng “độ co giãn” của HN-Index có phần tốt hơn, bằng chứng là sự tăng giảm khá luân phiên nên chỉ số này chỉ giảm nhẹ; mất 0,61 điểm (-0,7%) trong tháng. Kết phiên ngày 28/11, VN-Index dừng ở mức 566,58 điểm (mức đóng cửa thấp nhất trong 5 tháng) trong khi HN-Index là 87,42 điểm

14

Trong tháng Mười Một, thanh khoản hai sàn vẫn giữ được mức trung bình 3.040 tỷ đồng (-2,8% so với tháng Mười), khối lượng khớp lệnh trung bình đạt 189 triệu cp (1,86% so với tháng Mười). Đặc biệt, thanh khoản tăng khá cao giai đoạn nửa cuối tháng Mười Một và đã có phiên giá trị khớp lệnh trên hai sàn đạt mức 3.749 tỷ đồng, khá gần với mốc 4.000 tỷ đồng thời kỳ phân phối đỉnh đầu tháng Chín, lực bán có xu hướng dâng cao vào những ngày cuối tháng do những lo ngại về giá dầu thế giới cũng như tác động của Thông tư 36. Quan sát các nhóm chỉ số cấu thành, chúng tôi nhận thấy trong khi blue-chips và một phần mid-cap giảm thì nhóm small-cap vẫn duy trì mức tăng khá nhưng sức ảnh hưởng quá nhỏ. Hiện tượng đỏ vỏ xanh lòng diễn ra rải rác khá nhiều trong tháng cho thấy blue-chips vẫn là đối tượng chính bị bán tháo trong suốt 3 tháng gần đây.

Theo thống kê, có tới 27/30 mã trong VN30 giảm điểm, 2 trong số 3 mã tăng hiếm hoi trong tháng lại là 2 mã được xem là đầu cơ, FLC và ITA, với mức tăng lần lượt là 4,5% và 2,3%. Trong làn sóng lên ngôi của cổ phiếu đầu cơ, không thể không nhắc tới KLF, FLC, những đại diện tiêu biểu thu hút dòng tiền trong tháng qua trên cả hai sàn. Nếu như FLC ghi nhận mức tăng trong KLGD và GTGD lần lượt là 86% (~ 20,2 triệu cp/ngày) và 97% (~ 245 tỷ đồng/ngày) so với tháng trước và đã có lúc cổ phiếu này được giao dịch với số lượng 50 triệu cp/ngày trong khi không hề có tin tức cơ bản nào hỗ trợ thì KLF còn tỏ ra vượt trội hơn khi tăng 2,4x đối với hai chỉ tiêu trên.

Nhắc đến tin tức nổi bật nhất trong tháng Mười Một sẽ không thể không kể đến Thông tư 36 được SBV ban hành ngày 20/11 vừa qua, quy định tỷ lệ cho vay đầu tư cổ phiếu tối đa 5% vốn điều lệ ngân hàng và 0% đối với ngân hàng nào có tỷ lệ nợ xấu trên 3%. Tính chung từ lúc râm ran tin đồn (18/11) tới hết tháng, VN-Index mất 34,35 điểm; toàn bộ mức giảm của tháng Mười Một, trong khi đó HN-Index giảm 3,45 điểm. Những phân tích tốt xấu, lợi hại từ tác động của Thông tư 36 cũng như những lời “trấn an dư luận” từ các đại diện NHNN đã được đề cập nhiều trên truyền thông cũng như trong các bài phân tích của các CTCK giai đoạn nửa cuối tháng Mười Một. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của thông tư này sau đó vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Thêm vào đó, tin đồn mới về việc kiểm tra các cổ phiếu có giao dịch đột biến một lần nữa dấy lên những lo ngại về khả năng “giám sát chặt thị trường”, khiến VN-Index mất gần 10 điểm trong phiên 26/11. Điều đó cho thấy tâm lý dễ bị tác động của TTCK Việt Nam, cũng như sự chi phối bởi dòng vốn đầu cơ trong những giai đoạn thiếu sự hỗ trợ của yếu tố cơ bản.

Nhìn chung, nếu như tháng trước, chúng tôi cho là tâm lý thị trường khá thận trọng, nhà đầu tư tập trung giao dịch ở những cổ phiếu lớn, có cơ bản tốt và khá “lơ là” với nhóm cổ phiếu small-cap thì tháng Mười Một đã chứng kiến sự chuyển dịch dòng tiền ngoạn mục, hàng loạt những cổ phiếu đầu cơ như FIT, KLF, VHG, FLC, HAI được giao dịch ít nhất trên 10 triệu cp/ngày, hiện tượng giao dịch T+ tăng trần, giảm sàn diễn ra liên tục ở vài nhóm cổ phiếu. Thông tư 36 được ban hành đi kèm với việc nhiều công ty chứng khoán lớn cắt giảm margin ở những mã cổ phiếu tăng đột biến đã góp phần làm nguội sức nóng của thị trường, hậu quả giảm điểm là điều khó tránh khỏi. Gần đây, chúng tôi nghe thêm tin đồn về khả năng hoãn thời hạn thực hiện Thông tư 36 đến 1/7/2015. Mặc dù vậy, quan điểm của chúng tôi về vấn đề này vẫn không thay đổi nhiều. Một số đối tượng trên thị trường có thể gặp trở ngại ngắn hạn, tuy nhiên, việc tạo hành lang để giúp thanh lọc hệ thống tài chính (bao gồm Ngân hàng, Công ty chứng khoán và các Công ty tài chính…), định hướng dòng vốn có cơ hội chảy vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính là điều cần thiết.

TOÀN CẢNH BỨC TRANH KQKD Q3/2014: Dầu khí vẫn ổn định

15

20

Tổng kết 9 tháng đầu năm, số doanh nghiệp có lãi đạt 563 DN, tăng nhẹ 3,1% so với cùng kỳ năm trước cho thấy những nỗ lực thoát khỏi giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế năm qua đã dần có kết quả. Đặc biệt, nếu chỉ tính riêng trong Quý 3 thì số doanh nghiệp hoạt động có lãi đã gấp bảy lần số còn lại; đồng thời tỷ lệ doanh nghiệp có tăng trưởng doanh thu và LNST so với cùng kỳ lần lượt đạt 65% và 58,3%.

Nhìn trên mặt bằng chung KQKD Q3/2014 của các ngành, chắc hẳn sẽ có nhiều điều đáng nói về ngành Dầu khí, nhóm cổ phiếu gây xôn xao giới đầu tư thời gian qua.Trong Quý 3/2014, những chỉ số HĐKD đều cho thấy Dầu khí vẫn là nhóm ngành hoạt động hiệu quả nhất với chỉ số ROE và ROA đạt lần lượt là 27,4% và 14,4%, cao nhất trong tất cả các nhóm ngành. Tuy vậy, gần đây do diễn biến giá dầu thế giới rơi xuống các mốc thấp một cách bất ngờ, nhiều cổ phiếu ngành dầu khí đã bị bán ra mạnh (đặc biệt là từ khối ngoại), GAS trở thành nguyên nhân làm chỉ số VN-Index liên tục mất các mốc quan trọng. P/E của ngành Dầu khí hiện giảm về mức 13,89x; so với con số 16,5x cuối Quý 2 và thấp hơn so với nhiều ngành dẫn đầu khác như Bất động sản, Dịch vụ tài chính, Sản phẩm dịch vụ và công nghiệp,…Chuyên viên ngành của chúng tôi có chia sẻ thêm rằng hiện nay do đa phần các doanh nghiệp dầu khí đều đã hoàn thành được kế hoạch kinh doanh năm 2014 và một số hợp đồng trong mảng dịch vụ dầu khí đã được ký kết trước đó với giá cố định, do đó diễn biến đi xuống nghiêm trọng của giá dầu trong 2 tháng gần đây sẽ chưa tác động tiêu cực tới nhiều doanh nghiệp trong Quý 4 và cả năm 2014. Những ảnh hưởng cụ thể, nếu có, trong trường hợp giá dầu tiếp tục tiêu cực có thể biểu hiện ra kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kể từ quý 2 năm sau theo dự đoán của chúng tôi. Tuy nhiên, ngành dầu khí Việt nam có những đặc thù mà mức độ ảnh hưởng còn được cân đối bởi chiến lược - kế hoạch của Tập đoàn Petro Vietnam.

Tuy không có được những chỉ số KQKD tốt như ngành Dầu khí nhưng Dịch vụ tài chính luôn được kỳ vọng sẽ là một trong những nhóm có KQKD 2014 tăng trưởng nhanh nhất bởi lẽ sự sôi động của TTCK từ đầu năm đến nay là cơ sở để nhà đầu tư tin tưởng vào lợi nhuận vượt trội của các CTCK hay Công ty Quản lý Quỹ đầu tư. Có thể thấy từ bảng tổng hợp, Dịch vụ tài chính là ngành có mức tăng trưởng Doanh thu và LNST Q3 cao nhất trong tất cả các nhóm ngành, lần lượt là 119% và 128,9%. Được biết, Thông tư 36 về giới hạn tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán sẽ được áp dụng từ tháng 2/2015 có thể sẽ mang lại tác động tương đối đến HĐKD của các CTCK, tuy nhiên chúng tôi cho là ảnh hưởng sẽ không lớn và dần sẽ có hướng giải quyết bởi lẽ nhiều doanh nghiệp trong ngành đã lên kế hoạch thu hút vốn thông qua hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên TTCK để bù đắp cho khoản sụt giảm này

Ngoài ra, một số nhóm ngành khác như Thực phẩm – đồ uống, Vật dụng cá nhân & gia đình, Công nghệ hay Xe hơi – Phụ tùng cũng là những ngành duy trì được HĐKD tốt với mức tăng trưởng cao

Diễn biến chỉ số ngành: Sự phân hóa diễn ra mạnh hơn

Nhìn chung, xếp hạng của các nhóm ngành không nhiều thay đổi nhưng mức độ biến động và phân hóa mạnh hơn so với tháng trước. Nhóm cổ phiếu dầu khí với những đại diện như GAS, PVD có lẽ là nhóm ngành chịu tổn thất nhiều nhất khi giá dầu giảm mạnh.

Vật dụng cá nhân & gia đình thay thế ngôi đầu bảng của Du lịch & Giải trí. Mức tăng của các cổ phiếu trong ngành diễn ra khá đồng thuận khi chỉ có 1/3 số cổ phiếu trong nhóm giảm giá và chỉ tập trung ở các cổ phiếu vốn hóa nhỏ, ít ảnh hưởng chỉ số chung của ngành. Trong khi đó, những cổ phiếu vốn hóa lớn nhất đều đạt mức tăng khá như PNJ (4,9%), DQC (24,8%), TNG (11,9%). Nhóm ngành vật dụng cá nhân & gia đình với những sản phẩm chính là gỗ, dệt may hay một vài những mặt hàng khác chuyên về xuất khẩu có lẽ được hưởng lợi nhiều nhất bởi sự sôi động của hoạt động mua sắm cuối nằm, đó có lẽ cùng là lý do nhóm ngành này luôn nằm trong top tăng điểm từ đầu Quý 4 đến nay. Đáng chú ý, mức tăng của cổ phiếu DQC dựa trên nền tảng KQKD Q3/2014 rất lạc quan, LNST 9 tháng đạt 180 tỷ đồng (+230,3% yoy) do việc tung ra nhiều sản phẩm mới như đèn LED, ổ cắm, phích cắm hợp nhu cầu thị trường và một phần lãi bán hàng trả chậm của Cuba.

Bất động sản xếp thứ hai trong nhóm ngành tăng điểm, sự đảo chiều từ mức giảm 1% trong tháng trước lên mức tăng 3% chứng tỏ sự quan tâm nhiều hơn của nhà đầu tư ở nhóm ngành này, nhất là khi Luật nhà ở & Kinh doanh Bất động sản được sửa đổi kịp thời, nới lỏng các điều kiện sở hữu nhà ở Việt Nam cho người nước ngoài, tăng thanh khoản cho các dự án đang và sắp triển khai của các công ty Bất động sản trong nước. Thống kê cho thấy có đến 65,5% cổ phiếu trong nhóm tăng giá, do đó mức giảm nhẹ 1,8% của VIC chưa đủ sức kéo chỉ số ngành giảm trong tháng.

Dầu khí với mức giảm 18%, trở lại làm nhóm ngành bi quan nhất trong tháng. Thống kê KQKD Q3/2014 của các doanh nghiệp trong ngành cho thấy chỉ có duy nhất 2/10 doanh nghiệp có LNST Q3 giảm so với cùng kỳ. Đồng thời những chỉ số HĐKD như ROE, ROA, ROS,… càng ủng hộ thêm việc dầu khí vẫn là ngành kinh doanh hiệu quả nhất trong 9 tháng đầu năm 2014. Mặc dù bức tranh tổng thể khá sáng sủa nhưng vẫn chưa đủ sức trấn an những quan ngại của nhà đầu tư về triển vọng khá bấp bênh của ngành dầu khí, nhất là trong bối cảnh giá dầu thế giới vẫn đang trên đường dò đáy của những năm trước. Quan điểm này đã được chứng tỏ thông qua phản ứng của thị trường vào những ngày cuối tháng khi ba cổ phiếu đầu ngành GAS, PVD, PVS lại cũng là những cổ phiếu giảm giá mạnh nhất với mức giảm lần lượt là 18,1%; 21,4% và 19,8%.

Ngành Xe hơi & Phụ tùng xếp thứ hai trong nhóm giảm điểm khi hai cổ phiếu đầu ngành CSM và DRC giảm lần lượt là 5,4% và 10,3%. Được biết, tuy được hưởng lợi từ xu hướng đi xuống của giá cao su thiên nhiên thời gian qua nhưng LNST Quý 3 của hai doanh nghiệp này không hoàn toàn tích cực, giảm lần lượt 12,1% và 28,6% so với cùng kỳ. Theo chia sẻ từ chuyên viên ngành của chúng tôi thì việc đưa vào hoạt động hai nhà máy sản xuất lốp Radial, CSM là từ tháng 4/2014 và DRC từ tháng 3/2013, đã làm tăng chi phí khấu hao và lãi vay của doanh nghiệp trong khi việc bán hàng cần thời gian để “thuyết phục” thị trường.

21

GIAO DỊCH KHỐI NGOẠI: Bất động sản & Ngân hàng lên ngôi

22

Trong tháng 11, khối ngoại tiếp tục bán ròng với tổng giá trị là 910,4 tỷ đồng, giảm 22% so với con số tháng trước. Xu hướng mua ròng ngắn hạn diễn ra trong hai tuần cuối tháng 10 dường như không thể duy trì trong tháng Mười Một, cho thấy tín hiệu tích cực vẫn chưa thể tạo ra xu hướng như mong đợi. Tổng mức bán ròng trên HSX là 837,6 tỷ đồng; chiếm 92% tổng mức bán trên cả hai sàn, tập trung vào những mã blue-chips như GAS, PVD, VIC, MSN, KDC. Trong khi ở chiều ngược lại, khối ngoại đẩy mạnh mua vào nhóm cổ phiếu BĐS & VLXD như HAG, DXG, NBB, DIG và nhóm cổ phiếu Ngân hàng như STB, VCB, SHB. Do đó, chắc hẳn khối ngoại đã góp phần không nhỏ trong mức giảm của nhiều cổ phiếu lớn, đặc biệt nhóm cổ phiếu dầu khí như GAS (-241,6 tỷ đồng), PVD (235,8 tỷ đồng), PVS (-130 tỷ đồng) là chịu tác động nhiều nhất.

Nếu như tháng Mười là giai đoạn các ETFs bị rút vốn liên tục thì tháng Mười Một là giai đoạn được rót vốn trở lại. Trong đó, FTSE có 7 lần tăng vốn với tổng mức rót vốn là 600 tỷ đồng, số lượng CCQ tăng thêm 1 triệu CCQ. Chốt phiên ngày 28/11, quỹ này đang được giao dịch ở mức thặng dư 0,86%. Bên cạnh đó, VNM cũng có 3 lần được thêm vốn với tổng giá trị là 111,2 tỷ đồng, đồng thời đang giao dịch ở mức thặng dư 0,71%. Tuy vậy, mức mua ròng 712,2 tỷ đồng của hai ETFs trong suốt tháng dường như không mảy may tác động nhiều tới tổng mức bán ròng 910,4 tỷ đồng của khối ngoại thời gian này. Tháng Mười Hai được kỳ vọng là thời điểm khá sôi động cho các giao dịch của quỹ ETFs bởi lẽ đây là kỳ cơ cấu danh mục cuối cùng trong năm của hai quỹ này.

23

24

THÁNG 12/2014: BIẾN ĐỘNG TỪ DẦU THÔ KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRIỂN VỌNG DÀI HẠN CỦA THỊ TRƯỜNG

Tâm lý cân bằng sẽ giữ thị trường ổn định trong tháng Mười Hai

Trong tháng Mười Một, TTCK đã đón nhận liên tiếp hai cú sốc thông tin lớn là việc ban hành Thông tư 36 và đợt giảm mạnh của dầu thô trên thị trường quốc tế. Một mặt, việc các công ty chứng khoán đồng loạt giảm tỷ lệ ký quỹ của các cổ phiếu “nóng” ngay sau khi Thông tư 36 được ban hành đã làm dâng lên những lo ngại rằng dòng tín dụng cho kênh đầu tư chứng khoán sẽ bị siết lại. Mặt khác, việc giá dầu thế giới giảm xuống dưới ngưỡng tâm lý $70/thùng cũng kích thích việc bán ra ồ ạt, chủ yếu từ khối ngoại, ở các cổ phiếu dầu khí vốn chiếm tỷ trọng lớn trong VNIndex và HNXIndex. Dù vậy, điều đáng mừng là ngay cả trong những phiên giảm mạnh, trên thị trường cũng không hề xuất hiện tâm lý hoảng loạn; lực bán tập trung phần nhiều vào nhóm cổ phiếu dầu khí và chủ yếu đến từ khối ngoại. Việc các nhà đầu tư có thể lấy lại được sự bình tĩnh chỉ trong một thời gian ngắn cho thấy quá trình xử lý thông tin trên thị trường đã hiệu quả hơn và các thông tin tiêu cực đã được tiêu hóa phần nhiều trong tháng Mười Một.

Giá dầu và diễn biến của nhóm ngành dầu khí hiện vẫn là mối quan ngại thường trực của nhà đầu tư trong giai đoạn này. Tại thời điểm này, khó có thể khẳng định đà giảm của giá dầu sẽ không kéo dài, đặc biệt là sau khi Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới, công bố PMI ngành sản xuất tháng Mười Một thấp nhất trong vòng hơn nửa năm qua (50,3 điểm). Trong những ngày đầu tháng Mười Hai, với tâm lý chọn thời điểm để tích lũy đã được “lên dây cót” từ trước, chúng tôi nhận thấy hoạt động bắt đáy đã xuất hiện trở lại, ngay cả ở một số cổ phiếu nhóm dầu khí, Điều này cho thấy không phải tất cả nhà đầu tư đều mang “gánh nặng” tâm lý đối với nhóm cổ phiếu dầu khí và sự tự tin vẫn đang hiện hữu trên thị trường. Cộng với việc mặt bằng giá của nhiều cổ phiếu đã về mức khá hấp dẫn, chúng tôi cho rằng tâm lý ổn định sẽ là điểm tựa cho thị trường trong tháng cuối cùng của năm 2014.

Tiến bộ về chính sách và bức tranh vĩ mô sáng dần khiến chứng khoán Việt Nam càng hấp dẫn hơn ở mặt bằng giá mới

Từ đầu năm đến nay, RongViet Research đã không ít lần đưa ra sự so sánh về chỉ số P/E và P/B của TTCK Việt Nam. Trong lần thống kê gần nhất vào tháng Chín, khi VNIndex xoay quanh mốc 640 điểm và P/E của chỉ số này lên đến gần 16 lần, chúng tôi đặt ra câu hỏi “GAS có thể tăng đến 150.000 đồng/cp không?”. Đến nay, khi GAS đã giảm còn 87.500 đồng/cp, tỷ số P/E của VNIndex cũng quay về mức 13,8 lần. Mức giảm của chỉ số P/E quả thực là do tác động cục bộ của nhóm cổ phiếu dầu khí. Tuy nhiên, nếu xét đến việc chính nhóm cổ phiếu này đã kéo định giá của thị trường tăng liên tục từ tháng Bảy đến tháng Mười thì rõ ràng mức P/E hiện nay phản ánh chính xác hơn mặt bằng giá của hầu hết các cổ phiếu. Với mức định giá này, Việt Nam tiếp tục là một trong những thị trường hấp dẫn nhất trong khu vực Đông Nam Á (xem hình 23 và 24).

25

Chỉ số các nhóm ngành

26

27

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vds 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hotline