Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

2011 Thiếu hụt khí tạm thời cho các nhà máy điện trong giai đoạn 2020 và 2021

Được đăng vào 17-12-2018

2011 Thiếu hụt khí tạm thời cho các nhà máy điện trong giai đoạn 2020 và 2021

Chúng tôi giả định năm 2020 và 2021, các nhà máy điện sẽ tạm thời thiếu hụt khí do mỏ khí Sao Vàng – Đại Nguyệt bị trì hoãn 1 năm. Gần đây, ban lãnh đạo GAS cho biết đơn vị điều hành mỏ khí Sao Vàng – Đại Nguyệt đã gặp phải một số khó khăn trong việc thực hiện dự án và do đó, thời điểm đưa mỏ khí đi vào hoạt động có thể sẽ bị hoãn từ Quý 4/2020 sang Quý 4/2021 hoặc đầu 2022. Mỏ khí này đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn khí cho các nhà máy điện tại khu vực Đông Nam Bộ (Phú Mỹ, trung tâm điện Nhơn Trạch và nhà máy điện Bà Rịa) trong khi mỏ khí cũ đang dần cạn kiệt. Mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt có trữ lượng khí tổng cộng 20 tỷ m3 và sản lượng 1,5 tỷ m3/năm. Vì vậy, chúng tôi điều chỉnh giảm 6,8% dự báo nguồn cung khí tại khu vực Đông Nam Bộ cho năm 2020 và 13,6% cho năm 2021. Vì vậy, chúng tôi điều chỉnh giảm 5% dự báo tổng sản lượng của GAS cho năm 2020 và 9,7% cho năm 2021. Chúng tôi giả định cung khí tại miền Đông Nam Bộ sẽ phục hồi 23,7% trong năm 2022 nhờ cả 2 mỏ khí Sao Vàng – Đại Nguyệt và Sư Tử Trắng đi vào hoạt động. LNG nhập khẩu sẽ giúp tăng nguồn cung khí giai đoạn sau đó. Chúng tôi xin lưu ý rằng khả năng thiếu hụt khí trong năm 2020 và 2021 có thể sẽ không thành hiện thực nhờ sự tham gia của một nhà cung cấp mới, Công ty TNHH Hải Linh (doanh nghiệp tư nhân) có một dự án LNG (công suất 1 triệu tấn) đặt kế hoạch đi vào vào hoạt động từ năm 2020.

Chúng tôi dự báo các nhà máy điện tại khu vực Đông Nam Bộ sẽ thiếu hụt khí nhẹ từ tháng 11/2018 đến tháng 02/2019. Tổng cục Thống kê cho biết trong 11 tháng đầu năm, tổng sản lượng khí tiêu thụ đạt 9,14 tỷ m3, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với ước tính của chúng tôi cho cả năm là 9,97 tỷ m3 (tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước). Chúng tôi cho rằng nguyên nhân có thể là do sản lượng tại mỏ khí Lô 11.2 giảm nhanh hơn so với dự kiến. Ngoài ra, theo một số chuyên gia trong ngành, mỏ khí Phong Lan Dại dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào giữa tháng 2/2019 thay vì giữa tháng 12/2018 mặc dù đã đã làm lễ khánh thành vào ngày 29/11.

Tình hình nói trên đã ảnh hưởng bất lợi đối với GAS, POW và NT2. Chúng tôi điều chỉnh dự báo lợi nhuận, giá mục tiêu, và khuyến nghị cho các cổ phiếu như sau:

1

GAS [PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG, giá mục tiêu 90.400VND/cổ phiếu]: Chúng tôi điều chỉnh giảm 6,8% giá mục tiêu dành cho GAS từ 97.000VND/cổ phiếu xuống 90.400VND/cổ phiếu, đồng thời hạ khuyến nghị từ KHẢ QUAN xuống PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG vì các nguyên nhân: 1) Chúng tôi điều chỉnh giảm 5,1% dự báo lợi nhuận của công ty cho năm 2018 và 5,9% cho năm 2019 vì chúng tôi giả định sản lượng Lô 11.2 sụt giảm nhanh chóng hơn so với dự kiến và chậm trễ trong việc đưa mỏ khí Phong Lan Dại vào hoạt động sẽ gây ra tình trạng thiếu hụt khí tạm thời từ tháng 11/2018 đến tháng 02/2019; 2) Ngoài ra, chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo LNST 2020 và 2021 lần lượt 4,7% và 22,9% vì sản lượng khí giảm, chủ yếu do tiến độ mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt bị chậm.

NT2 [MUA, giá mục tiêu 31.000VND/cổ phiếu]: Chúng tôi điều chỉnh giảm 1,3% giá mục tiêu dành cho NT2 từ 31.400VND/cổ phiếu xuống 31.000VND/cổ phiếu vì việc điều chỉnh giảm dự báo lợi nhuận 2018- 2023 phần nào được bù đắp nhờ việc điều chỉnh chu kỳ định giá từ 31/12/2018 sang 31/12/2019. Chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo lợi nhuận 3,5% do dự báo thiếu hụt khí trong Quý 4. Chúng tôi cũng điều chỉnh giảm 1,6% dự báo LNST cốt lõi 2019 xuống 848 tỷ đồng (tăng 12,5% so với dự báo LNST cốt lõi năm 2018) vì việc điều chỉnh giảm nhẹ dự báo sản lượng vẫn có tác động lớn hơn một chút so với tác động của việc điều chỉnh giảm giả định giá dầu (70USD/thùng so với 75USD/thùng như báo cáo trước đây). Chúng tôi điều chỉnh giảm 8,5% dự báo lợi nhuận cốt lõi cho năm 2020 và 16% cho năm 2021 do mỏ Sao Vàng – Đại Nguyệt bị chậm.

POW [MUA, giá mục tiêu 18.400VND/cổ phiếu]: Chúng tôi điều chỉnh giảm 3,7% giá mục tiêu dành cho POW từ 19.100VND/cổ phiếu xuống 18.400VND/cổ phiếu với việc điều chỉnh giảm dự báo LNST cốt lõi 2019-2023 trung bình 6,5%. Chúng tôi điều chỉnh giảm 14% dự báo LNST 2018 không chỉ vì lợi nhuận nhà máy điện khí Nhơn Trạch 1 (450MW) giảm và NT2 (750MW) giảm mà còn vì lợi nhuận Quý 4 của nhà máy điện than Vũng Áng (1.200MW) thấp hơn nhiều so với dự báo trước đây do sự cố kỹ thuật. Thông tin chi tiết về vấn đề này vẫn chưa được công bố nhưng ban lãnh đạo dự kiến sẽ đưa tổ máy số 1 vào hoạt động trong tháng 12/2018. Chúng tôi cũng điều chỉnh giảm giả định cổ tức bằng tiền mặt từ 300VND/cổ phiếu xuống 280VND/cổ phiếu vì theo ước tính, nhà máy Vũng Áng sẽ chỉ đạt 50 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong Q4/2018. Đối với năm 2019, dù gần như giữ nguyên dự báo lợi nhuận NT2 nhưng chúng tôi vẫn điều chỉnh giảm 5,7% dự báo LNST cốt lõi của POW vì chúng tôi thận trọng giả định việc khắc phục sự cố tại nhà máy điện than Vũng Áng có thể kéo dài sang tháng 1/2019.

Triển vọng khí tự nhiên tại miền Đông Nam Bộ

Chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo cung khí 2019 tại khu vực Đông Nam Bộ thêm 1,1% vì chúng tôi ước tính sản lượng cao hơn tại mỏ khí Thiên Ứng – Đại Hùng (từ 6 tháng cuối năm 2019) có thể bù đắp cho việc sản lượng khí thấp hơn từ mỏ Phong Lan Dại (do mỏ này chỉ hoạt động 10 tháng so với 12 tháng như dự kiến trước đây).

2

Tuy nhiên, chúng tôi điều chỉnh giảm 6,8% dự báo cung khí năm 2020 và 13,6% cho năm 2021. Chúng tôi ước tính nguồn cung khí tại miền Đông Nam Bộ sẽ tăng 10,3% lên 6,9 tỷ m3 trong năm 2019 nhờ mỏ khí Phong Lan Dại đi vào hoạt động. Tuy nhiên, chúng tôi giả định nguồn cung khí năm 2020 sẽ giảm 3,4% xuống 6,67 tỷ m3 và năm 2021 giảm tiếp 3,1% xuống 6,46 tỷ m3 do việc đưa mỏ khí Sao Vàng – Đại Nguyệt vào hoạt động bị chậm trong khi sản lượng mỏ khí cũ sụt giảm.

Chúng tôi dự báo nguồn cung khí sẽ phục hồi 23,7% vào năm 2022 nhờ cả 2 mỏ khí Sao Vàng – Đại Nguyệt và Sư Tử Trắng cùng đi vào hoạt động. Sau đó, chúng tôi cho rằng LNG Thị Vải sẽ giúp tránh được tình trạng thiếu hụt (nếu có) giữa nguồn cung khí và tiêu tiêu thụ trong nước.

Chúng tôi xin lưu ý rằng khả năng thiếu hụt khí trong năm 2020 và 2021 có thể sẽ không thành hiện thực nhờ sự tham gia của một nhà cung cấp mới, Công ty TNHH Hải Linh (doanh nghiệp tư nhân). Tháng 05/2018, Chính phủ đã đưa dự án cảng LNG Hải Linh Vũng Tàu (công suất lên đến 1 triệu tấn LNG) vào quy hoạch khí tổng thể. Dự án đã được khởi công hồi tháng 6 và dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2020.

3

Triển vọng sản lượng khí tự nhiên quốc gia và điều chỉnh dự báo LNST của GAS

Theo Tổng Cục Thống kê (TCTK), tổng sản lượng khí tiêu thụ trong 11 tháng đạt 9,14 triệu m3, +1,7% YoY, thấp hơn đang kế so với ước tính 9,97 triệu m3 cho cả năm 2018 (+3,7% YoY). Chúng tôi giả định diễn biến này là do mức giảm sản lượng nhanh hơn dự kiến của mỏ khí cũ Lô 11.2. Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm 1,9% dự báo sản lượng 2018. Tương ứng, chúng tôi điều chỉnh giảm 5,1% dự báo LNST 2018

Chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo sản lượng 1,9% cho năm 2019 khi sản lượng cao hơn từ mỏ khí Thiên Ứng - Đại Hùng sẽ giúp bù đắp cho sản lượng thấp hơn từ dự án Phong Lan Dại (do chỉ hoạt động trong 10 tháng so với dự phóng 12 tháng trước đây). Tuy nhiên, chúng tôi điều chỉnh giảm 5,9% dự báo LNST 2019 khi ước tính tác động từ việc không tăng giá đầu vào cho Lô 11.2 (Vui lòng xem thêm chi tiết trong báo cáo cập nhật Mỏ Phong Lan Dại và NM Chế biến Khí Cà Mau sẽ thúc đẩy tăng trưởng 2019, ngày 24/05/2018) không đủ để bù đắp cho sản lượng thấp hơn từ Lô 11.2 và sản lượng thấp hơn từ mỏ Phong Lan Dại.

Chúng tôi điều chỉnh giảm lần lượt 5,0% và 9,7% dự báo sản lượng 2020 và 2021, chủ yếu dựa vào giả định sản lượng thấp hơn trong khu vực Đông Nam Bộ. Chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo LNST cho năm 2020 và 2021 lần lượt 4,7% và 22,9%, dựa theo điều chỉnh giảm về sản lượng dự báo

4

Lợi nhuận và giá mục tiêu của GAS bị chịu ảnh hưởng bởi giá dầu thô. Chúng tôi giả định mức giá dầu thô 72 USD/thùng trong năm 2018, 70 USD/thùng năm 2019 và 70 USD/thùng trong giai đoạn 2020- 2025. Chúng tôi sử dụng giả định giá dầu thô +/- 10 USD/thùng và +/- 20 USD/thùng từ mức cơ sở trong kỳ dự báo cho kịch bản cao và thấp. Với giá dầu Brent giao ngay hiện đang ở mức 61,7 USD/thùng, có rủi ro điều chỉnh giảm cho giả định cơ sở giá dầu thô năm 2019.

Chúng tôi lưu ý rằng vào ngày 23/11/2018, giá dầu Brent được dự báo sẽ đạt trung bình 75,5 USD/thùng năm 2019, theo khảo sát S&P Global Platts từ 11 ngân hàng và công ty chứng khoán hàng đầu, điều chỉnh giảm so với dự báo trước đó là 78,5 USD/thùng, Nếu giá dầu thô duy trì ở mức hiện tại trong 6 tháng đầu năm 2019, sẽ có thể dẫn đến khả năng điều chỉnh giảm dự báo và định giá cho GAS của chúng tôi, và điều chỉnh tăng dự báo và định giá cho NT2 và POW.

5

Điều chỉnh dự báo LNST của NT2

Trong bối cảnh sản lượng khí của mỏ khi Lô 11.2 giảm nhanh hơn dự kiến, chúng tôi điều chỉnh giảm 1,3% dự báo sản lượng điện thương phẩm năm 2018, tương ứng với giảm 3,5% dự báo LNST cốt lõi, đạt 754 tỷ đồng, -28,4% YoY. Dù sản lượng điện hợp đồng được kỳ vọng đạt mức cao hơn là 4,3 tỷ kWh trong năm 2019 so với 4 tỷ kWh trong năm 2018, chúng tôi cũng điều chỉnh giảm 1,9% và 1,6% cho sản lượng điện thương phẩm và dự báo LNST cốt lõi năm 2019, chủ yếu do hiệu suất hoạt động thấp hơn của mỏ khí Phong Lan Dại trong giai đoạn đầu năm 2019.

Chúng tôi dự báo LNST cốt lõi sẽ tăng 12,5% YoY nhờ tăng trưởng sản lượng điện thương phẩm đạt 4,8% và chênh lệch biện lợi nhuận cho phần sản lượng điện bán trên thị trường bán điện cạnh tranh (CGM) cao hơn trong bối cảnh giá CGM tăng và giá dầu thô Brent năm 2019 đạt 70 USD/thùng thấp hơn so với 72 USD/thùng năm 2018. Chúng tôi điều chỉnh giảm sản lượng điện bán năm 2020 và 2021 lần lượt là 2,5% và 6,2% do dự án Sao Vàng – Đại Nguyệt chậm tiến độ. Do đó, chúng tôi điều chỉnh giảm dự phóng LNST cốt lõi 2020 và 2021 lần lượt 8,5% và 16,0%.

6

Điều chỉnh dự báo LNST của POW

Chúng tôi điều chỉnh giảm 14% dự báo LNST cốt lõi 2018, một phần do đóng góp lợi nhuận thấp hơn từ NT2 và nhà máy điện khí Nhơn Trạch 1, nhưng chủ yếu do diễn biến kém tích cực từ nhà máy điện than Vũng Áng. Gần đây, ban lãnh đạo của POW đã chia sẽ rằng nhà máy Vũng Án đang gặp vấn đề kỹ thuật kể từ tháng 11, khiến nhà máy này không thể hoạt động tối đa công suất. Công ty cũng kỳ vọng sẽ giải quyết xong vấn đề này trong tháng 12/2018. Chúng tôi cũng điều chỉnh giảm dự báo cổ tức từ 300 đồng/cổ phiếu xuống còn 280 đồng/cổ phiếu khi kỳ vọng KQKD thấp trong quý 4.

Trong năm 2019, dù gần như không có thay đổi đáng kể trong dự báo lợi nhuận của NT2, chúng tôi điều chỉnh giảm 5,7% dự báo LNST cốt lõi của POW khi chúng tôi thận trong giả định vấn đề sửa chữa tại nhà máy điện Vũng Áng có thể kéo dài sang tháng 1/2019. Với đóng góp LN thấp hơn từ NT2 và nhà máy điện khí Nhơn Trạch 1 trong giai đoạn 2020 và 2021, chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo LNST lần lượt 7,5% và 9,4% trong các năm này.

7

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

 

hotline