Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Ngành Ngân hàng Việt Nam – Tổng hợp KQKD quý 3/2018

Được đăng vào 9-11-2018

Ngành Ngân hàng Việt Nam – Tổng hợp KQKD quý 3/2018

Các ngân hàng Việt Nam đạt tăng trưởng xấp xỉ năm 2017

Thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi trong 9 tháng đầu năm cùng đạt kết quả cao khiến nhà đầu tư có thái độ lạc quan hơn đối với các ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là ngành ngân hàng đã 21 tháng liên tiếp đạt kết quả cao. Thu nhập lãi thuần (NII) các ngân hàng chúng tôi theo dõi1 trong 9 tháng đầu năm 2018 tăng 19,7% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng trưởng năm 2017 đạt 23,2%. Thu nhập lãi thuần chiếm 75% tổng thu nhập từ hoạt động năm 2017. Trong khi đó, thu nhập ngoài lãi các ngân hàng chúng tôi theo dõi trong 9 tháng đầu năm tăng 44,3% so với mức 57,3% năm 2017. Trong báo cáo này, chúng tôi trình bày quan điểm đối với ngành ngân hàng trong ngắn hạn và quan điểm của chúng tôi là ngành ngân hàng vẫn còn rất hấp dẫn.

Nếu không tính BID và CTG, thu nhập lãi thuần 9 tháng đầu năm 2018 các cổ phiếu chúng tôi theo dõi tăng từ 19,7% lên 29,2%. Trong số các ngân hàng mà chúng tôi có thể tính được tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng 2018, chúng tôi ghi nhận mức bình quân gia quyền tính từ đầu năm (YTD) là 11,7% (so với 13,7% trong cùng kỳ năm ngoái), cùng với tỷ lệ NIM trong danh mục các ngân hàng theo dõi là 3,02% trong 9 tháng 2018 từ mức 2,93% trong 9 tháng 2017. Mức tăng NIM nhanh nhất trong 9 tháng 2018 được ghi nhận tại STB (60 điểm cơ bản), MBB (36 điểm cơ bản) và VCB (31 điểm cơ bản).

Tăng trưởng tín dụng bán lẻ trong 9 tháng đầu năm 2018 tiếp tục mạnh nhưng chủ yếu vào các ngân hàng truyền thống. Xu hướng trong mảng ngân hàng bán lẻ tương tự với những gì mà nhóm phân tích ngành tiêu dùng của chúng tôi ghi nhận trong danh mục cổ phiếu theo dõi, rằng những người tiêu dùng phân khúc cận cao cấp đang có diễn biến tốt, trong khi những người tiêu dùng có thu nhập thấp hơn không còn là động lực tăng trưởng, dù chúng tôi cho rằng tình hình đối với nhóm khách hàng có thu nhập thấp sẽ ít ảnh hưởng đến ngành ngân hàng hơn so với các cổ phiếu tiêu dùng. VCB ghi nhận tăng trưởng cho vay bán lẻ 9 tháng 2018 đạt 28%, tăng từ mức danh mục các khoản cho vay 23 tỷ USD từ đầu năm 2018 (tăng trưởng tuyệt đối là 49 nghìn tỷ đồng so với 63 nghìn tỷ đồng trong cả năm 2017). Trong khi đó, tăng trưởng cho vay trong cùng kỳ tại FE Credit và HD Saison đạt lần lượt 4,2% và 6,6%.

Hoạt động chốt lời danh mục trái phiếu đạt đỉnh trong Quý 1/2018 nhưng giảm bớt trong 2 quý tiếp theo. Tính theo cơ sở 9 tháng 2018 so với 9 tháng 2017, chúng tôi ghi nhận mức tăng 11,4% trong hoạt động chốt lời danh mục trái phiếu của ngân hàng, nhưng quý 3/2018 giảm 28,8% so với quý 3/2017. Quý 1/2018 cũng là thời điểm mà lợi suất trái phiếu Chính phủ 10 năm của Việt Nam chạm đáy.

Các chỉ báo chất lượng tín dụng trong Quý 3/2018 cho thấy diễn biến ngành ngân hàng có chiều hướng thuận lợi. Phương thức của chúng tôi chỉ theo dõi các ngân hàng mà trong danh mục có sự tập trung lớn vào cho vay đảm bảo, và nhóm này tiếp tục có xu hướng thuận lợi tính theo chất lượng tín dụng. Điểm đáng chú ý trong 2 quý qua là là tỷ lệ xóa nợ khá thấp so với 6 tháng liền kề trước đó.

Phân tích của chúng tôi đối với số dư dự phòng tín dụng cho thấy chỉ có STB, và ở một mức độ nào đó là BID, phải đối mặt với gánh nặng dự phòng trong tương lai. Quan điểm của chúng tôi rằng ngoại trừ 2 ngân hàng đề cập ở trên, các ngân hàng khác trong danh mục theo dõi của chúng tôi đều đã xây dựng được một mức dự phòng phù hợp và không có nhiều khả năng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong những quý tới. Phân tích của chúng tôi luôn thiết  lập một ngưỡng mục tiêu dự phòng và kế hoạch phát triển dự phòng cụ thể của từng ngân hàng sẽ luôn diễn ra, như có thể thấy ở CTG với dự phòng tăng mạnh trong quý 3/2018. Cuối cùng, cái nhìn cụ thể hơn về xu hướng thu hồi các khoản nợ đã xử lý và thu nhập phí cần chờ đợi thêm KQKD trong quý 4/2018, khi báo cáo tài chính kiểm toán được công bố.

VCB duy trì đà tăng trưởng tuyệt đối trong cho vay bán lẻ trong 9 tháng 2018

Ngoài các công ty mảng tài chính tiêu dùng, nhằm tính toán tăng trưởng cho vay bán lẻ trong danh mục các ngân hàng mà chúng tôi theo dõi tùy thuộc vào con số công bố của từng ngân hàng. Số liệu VCB trong 9 tháng 2018 cho thấy mức giảm ghi nhận trên cơ sở tương đối nhưng trên cơ sở tuyệt đối tăng trưởng ngang với mức tăng tuyệt đối trong năm 2017, với tăng trưởng cho vay bán lẻ đạt 49 nghìn tỷ đồng so với 63 nghìn tỷ đồng trong cả năm 2017. Các ngân hàng quốc doanh đã vượt trội so với các Ngân hàng Tư nhân trong năm 2017, và sẽ rất thú vị nếu xu hướng này tiếp tục trong năm 2018

9

Chỉ số chất lượng tín dụng cho thấy ngành ngân hàng đang trải qua thời điểm thuận lợi

Chúng tôi không sử dụng 1 chỉ số duy nhất nào nhằm theo dõi chất lượng tín dụng trong danh mục ngân hàng theo dõi của chúng tôi, thay vào đó, chúng tôi theo dõi các tín hiệu từ 3 chỉ số gồm nợ xấu công bố chính thức, lãi dự thu và các khoản phải thu. Cả 3 chỉ số này được sử dụng chung nhằm cho thấy xu hướng chất lượng tín dụng thuận lợi, và một điểm thú vị được quan sát trong hình 2 là trong 2 quý gần nhất đều chứng kiến tỷ lệ xóa nợ thấp trong danh mục các ngân hàng chúng tôi theo dõi.

10

11

Ngân hàng chốt lời danh mục trái phiếu đạt đỉnh trong quý 1/2018

Thời điểm đỉnh điểm của hoạt động chốt lời danh mục trái phiếu trùng với thời điểm đáy của lợi suất TPCP kỳ hạn 10 năm. Tính theo cơ sở 9 tháng 2018 so với 9 tháng 2017, chúng tôi ghi nhận tăng trưởng 11,4%

12

Phần lớn các ngân hàng trong danh mục theo dõi của chúng tôi đều được dự phòng đầy đủ kể cả khoản dự phòng 100% cho nợ Nhóm 3-5

Phân tích dự phòng của chúng tôi phân tích loại TSĐB, mức độ TSĐB, tỷ lệ nợ xấu chính thức, các khoản phải thu bên ngoài và lượng trái phiếu VAMC ròng nhằm đánh giá mức độ đầy đủ của dự phòng cụ thể hiện hữu. Phân tích của chúng tôi là không hoàn hảo khi sử dụng số liệu tổng từ báo cáo tài chính và không thể tính chung các chi tiết cụ thể về chất lượng tài sản đảm bảo và điều chỉnh định tính các phân loại khoản vay, do đó những số liệu này phần nào chỉ có tiêu chuẩn so sánh. Tuy nhiên, ngay cả khi điều chỉnh dự phòng 100% cho nợ Nhóm 3 tới 5 được thể hiện trong hình 7, phần lớn các ngân hàng chúng tôi theo dõi đều có tỷ lệ dự phòng vượt trội.

13

Quan điểm về tỷ lệ dự phòng hợp lý là rất khác nhau trong cộng đồng đầu tư, nhưng quan điểm của chúng tôi cho rằng nếu không có thay đổi trong bối cảnh vĩ mô Việt Nam hoặc thị trường BĐS, thì lợi nhuận của các ngân hàng trong danh mục chúng tôi theo dõi nhiều khả năng không bị ảnh hưởng nhiều bởi dự phòng trong phần còn lại trong năm 2018 và năm 2019 (ngoại trừ STB và BID).

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

 

 

hotline