Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Ngành Lọc và Phân phối Xăng dầu Việt Nam - Một điểm nóng trong một khu vực Châu Á sôi động

Được đăng vào 12-06-2018

Ngành Lọc và Phân phối Xăng dầu Việt Nam - Một điểm nóng trong một khu vực Châu Á sôi động

Việc niêm yết của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (PLX) vào tháng 4/2017 cũng như đợt cổ phần hóa vừa qua của Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) và Tổng CT Dầu Việt Nam (OIL) mang lại cơ hội đầu tư lớn vào ngành lọc hóa dầu và phân phối còn non trẻ và nhiều tiềm năng của Việt Nam.

Việt Nam hiện đang thiếu hụt các sản phẩm hóa dầu. Chúng tôi ước tính tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) lượng tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam sẽ là 5%/năm trong vòng 5 năm tới, cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng toàn cầu 1,3%/năm. Mức tăng trưởng này được dẫn dắt bởi một vài yếu tố, bao gồm: mức cơ sở thấp của Việt Nam, tăng trưởng kinh tế, sản xuất công nghiệp mạnh mẽ, tỷ lệ cơ giới hóa thấp trong khu vực, thuế nhập khẩu ôtô thấp hơn cũng như phương tiện hành khách và thương mại tăng mạnh với CAGR dự phóng lần lượt 18,8% và 17,8%.

Lượng tiêu thụ nhiên liệu vận tải ấn tượng. Tiêu thụ xăng và dầu diesel ước tính tăng trưởng với CAGR lần lượt 3,5% và 4,7%/năm, trong vòng 5 năm qua trong khi tăng trưởng ổn định của ngành hàng không Việt Nam dự kiến sẽ giúp nhu cầu xăng máy bay tăng 8,5%/năm.

Tăng trưởng kinh tế làm gia tăng nhu cầu sản phẩm hóa dầu. Ngành thực phẩm & đồ uống và Xây dựng phát triển nhanh chóng của Việt Nam là nền tảng vững chắc cho tăng trưởng polypropylene tăng khoảng 6%/năm trong giai đoạn 2016-2025. Ngoài ra, Chính phủ cũng nhắm đến mục tiêu tăng gấp 3 lần hệ thống đường cao tốc trong 10 năm tới sẽ củng cố cho nhu cầu nhựa đường/bitumen

Nhiều công ty đang tham gia thị trường, nhưng nhu cầu dự kiến sẽ vượt nguồn cung trong nước trong nhiều năm. BSR là công ty lọc hóa dầu duy nhất trong nước trong một thời gian dài và cung cấp 1/3 nhu cầu xăng dầu trong nước. Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn (NSR), với công suất 10 triệu tấn/năm sẽ đi vào hoạt động giữa năm 2018, nhưng cả BSR lẫn NSR sẽ chỉ đáp ứng 70- 80% nhu cầu xăng, dầu diesel và nhiên liệu máy bay, cũng như chỉ 50% nhu cầu polypropylene. Điều này tương ứng với phần còn lại cần phải nhập khẩu.

Các nhà máy lọc dầu tại Châu Á dự kiến sẽ hoạt động khả quan dù tình trạng dư cung trên thị trường thế giới. Nhu cầu dầu thành phẩm tại Châu Á dự báo sẽ cao hơn so với các khu vực khác, với tỷ lệ tăng trưởng 2017-2026 đạt 1,9%. Các thị trường mới nổi tại Châu Á sẽ có nhu cầu mạnh nhất, đặc biệt là Ấn Độ, Indonesia, Pakistan và Việt Nam nhờ tình hình vĩ mô và cơ cấu dân số thuận lợi. Điều này khiến BSR trở thành một cổ phiếu an toàn dù tình hình thế giới dự báo sẽ bị dư cung.

BSR là cơ hội đầu tư độc nhất trong ngành lọc dầu đầy hấp dẫn của Việt Nam. BSR dẫn đầu với thị phần 30%. Ngoài ra, việc bãi bỏ chính sách thuế đặc biệt (được tính bằng cách lấy thuế nhập khẩu trừ thuế ưu đãi) từ ngày 01/01/2017 trở đi, giúp BSR nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu (vẫn phải chịu thuế 8%-10% trong 5 năm tới). Hiệu suất hoạt động của công ty hiện đạt 107% và dự kiến từ giữa năm 2019 trở đi sẽ lên đến 118%. Cuối cùng, tiềm lực tài chính lớn và biên dầu diesel phục hồi mạnh dự kiến sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn. Chi phí khấu hao và lãi vay giảm dự kiến sẽ giúp BSR cạnh tranh với NSR.

PLX sở hữu nền tảng bền vững để tham gia vào các lĩnh vực ngoài dầu khí. PLX sở hữu mạng lưới phân phối trên cả nước tại các vị trí đắc địa, sức chứa kho lớn, và là thương hiệu có uy tín nhất. Tuy nhiên, chúng tôi không đánh giá cao định giá của công ty tại thời điểm này và chờ đợi đối tác chiến lược tham gia và khai thác lợi thế mạng lưới phân phối rộng khắp của PLX để đạt tăng trưởng lợi nhuận cao.

Đối tác chiến lược sẽ hỗ trợ OIL trở thành công ty tư nhân. PV Oil là một doanh nghiệp mới tham gia thị trường, dự kiến sẽ tăng gấp ba lần số trạm xăng thông qua hình thức M&A. 4 đối tác chiến lược tiềm năng (Nhật Bản, Hàn Quốc) đã hoàn tất quy trình đánh giá đầu tư (due diligence). Việc thương lượng đang được thực hiện và lựa chọn đối tác chiến lược có thể được đưa ra vào tháng 7.

3

Ngành lọc & phân phối xăng dầu Việt Nam.  Chuỗi giá trị xăng dầu Việt Nam

Trong chuỗi giá trị xăng dầu, có 3 thành phần tham gia chính - nhà máy lọc dầu, nhà vận chuyển và nhà phân phối. Các nhà máy lọc dầu (Bình Sơn, Nghi Sơn) nhận dầu thô từ các mỏ dầu thô (Bạch Hổ, Kuwait) và thực hiện lọc dầu thành xăng dầu. Sản phẩm xăng dầu này, cùng với xăng dầu nhập khẩu, được vận chuyển bởi các doanh nghiệp vận chuyển như PVT, VTO (CTCP Vận tải Xăng dầu VITACO) và VIP (CTCP Vận tải Xăng dầu VIPCO) đến các kho chứa các nhà phân phối, như PLX và OIL, sau đó sẽ được bán cho người dùng cuối (khách hàng C&I, đại lý và người tiêu dùng tạo các cây xăng).

4

Tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam có tiềm năng lớn từ mức cơ sở thấp

Chúng tôi kỳ vọng lượng tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam sẽ tăng trưởng với CAGR 5% trong giai đoạn 2018-2025, cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng dự kiến của ngành xăng dầu toàn cầu là 1,3%.

5

Tăng trưởng GDP mạnh mẽ và tỷ lệ sở hữu ôtô ngày càng gia tăng củng cố cho tỷ lệ tăng trưởng dự phóng 4,7-4,9%

1) Tăng trưởng GDP và sản xuất công nghiệp mạnh mẽ sẽ dẫn đến mức tăng các hàng hóa được vận chuyển bởi xe tải và tàu thủy, cũng như nhu cầu tiêu thụ dầu nhiên liệu và dầu diesel cho các máy móc và nhà máy (hình 5).

2) Thuế suất thấp hơn thúc đẩy tỷ lệ sở hữu ôtô. Tăng trưởng của thị trường ôtô Việt Nam xếp thứ hai trên thế giới năm 2016. Theo Thỏa thuận Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), thuế ôtô nhập khẩu từ ASEAN đã giảm từ 50% năm 2015 còn 40% năm 2016, 30% năm 2017 và 0% trong năm 2018. Doanh số bán ôtô thương mại và hành khách, với tỷ lệ CAGR ước tính lần lượt 18,8% và 17,8%, sẽ thúc đẩy lượng tiêu thụ xăng dầu

3) Sự chuyển đổi từ xe máy sang ôtô sẽ dẫn dắt tiêu thụ xăng dầu đáng kể hơn khi ôtô 4 chỗ ngồi tiêu thụ 6-8 lít xăng/100kn, cao hơn 3-4 lần so với xe máy.

6

7

Dự báo nhu cầu cho mỗi sản phẩm lọc dầu Xăng và dầu diesel

Nhu cầu xăng và dầu diesel dự kiến sẽ tăng lần lượt 3,5% và 4,7% trong vòng 8 năm tới. Nhu cầu dầu diesel dự kiến sẽ tăng nhanh hơn nhu cầu xăng khi sản xuất công nghiệp là một trong những động lực tăng trưởng cho tăng trưởng tiêu thụ xăng dầu trong trung hạn. Hiện tại, sản lượng xăng dầu và diesel của BSR có thể cung cấp xấp xỉ lần lượt 50% và 40% tổng nhu cầu thị trường. Với sự vận hành của nhà máy lọc dầu Nghi Sơn bắt đầu từ quý 3/2018, sản xuất trong nước có thể đáp ứng 60-70% tổng nhu cầu xăng và dầu diesel vào năm 2025.

8

Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm xăng dầu cao hơn sẽ có tác động dài hạn đến nhu cầu

Chính phủ đã ban hành Quyết định 177/2007/QD-TTg về phát triển công suất sản xuất ethanol và Nghị định 53/2012/QĐ-TTg, Thông tư 113/QĐ-BCT và Thông tư 23/CT-TTg về việc triển khai xăng E5 và E10 trên quy mô lớn. Xăng sinh học E5 bao gồm 5% ethanol (E100) và 95% xăng RON92. Theo kế hoạch này, xăng E5 sẽ được phân phối trên toàn quốc từ ngày 01/01/2018, cùng với xăng RON95. Người tiêu dùng có vẻ như ưa chuộng xăng E5 hơn so với RON95 khi giá bán hiện tại thấp hơn 1.500 đồng, tương ứng với mức thấp hơ 8%.

Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Quyết định 49 vào năm 2011 để đưa ra lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải của Liên Minh Châu Âu (EURO) cho các phương tiện mới. Việt Nam đã áp dụng tiêu chuẩn EURO2 từ năm 2017, thấp hơn các nước trong khu vực. Trong ngắn hạn, chính sách này sẽ không ảnh hưởng đến các nhà máy lọc dầu trong nước khi lương ôtô mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng ôtô lưu thông trong năm nay (chiếm khoảng 12% tổng số ôtô 2016). Tuy nhiên, trong dài hạn, mức tăng đáng kể của lượng phương tiện mới sẽ dẫn dắt nhu cầu khi tăng trưởng YoY của lượng xe mới trong năm 2016 là 24,3% (theo Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam và Cục Đăng kiểm Việt Nam). Do đó, diễn biến này sẽ ảnh hưởng các nhà sản xuất trong nước và giá xăng RON92 và RON95 (EURO2) sẽ giảm.

9

Hàng không (nhiên liệu máy bay)

Tiêu thụ dầu nhiên liệu máy bay sẽ tăng trưởng với CAGR 8,2% trong vòng 5 năm qua và dự kiến sẽ tăng 8,2%/năm trong giai đoạn 2018-2025. Tăng trưởng nhu cầu nhiên liệu máy bay mạnh mẽ nhờ vào tăng trưởng ổn định của ngành hàng không Việt Nam, được hỗ trợ bởi 1) tăng trưởng GDP mạnh mẽ, 2) người tiêu dùng Việt Nam đang dần chuyển đổi di chuyển bằng đường bộ sang máy bay để tiết kiệm thời gian, 3) di chuyển và du lịch trong nước tăng trưởng nhanh chóng khi tầng lớp trung lưu tăng mạnh và cơ sở hạ tầng trong nước tiếp tục cải thiện và 4) các hãng hàng không trong nước mở các tuyến bay mới để giàm thêm thị phần. BSR hiện đang cung cấp xấp xỉ 375.000 tấn dầu nhiên liệu máy bay, chiếm khoảng 30% nhu cầu trong nước và 3-5% doanh thu của BSR. Với dầu nhiêu liệu bổ sung từ nhà máy Nghi Sơn, sản xuất trong nước có thể đáp ứng khoảng 50% nhu cầu trong nước trong năm 2025.

Hình 10: Nhu cầu nhiên liệu hàng không so với nguồn cung trong nước và nhập khẩu (‘000 tấn/năm)

10

Khí hóa lỏng (LPG)

Tăng trưởng nhu cầu LPG dự kiến sẽ khá thấp đạt khoảng 1% trong vòng 8 năm tới. Tuy nhiên, sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng 45-50% tổng nhu cầu LPG ở thời điểm hiện tại. Cụ thể, BSR hàng năm cung cấp khoảng 30-35% tổng nhu cầu LPG trong khi GAS cung cấp 20% tổng nhu cầu LPG thông qua nhà máy xử lý khí Dinh Cố. Diễn biến này tương ứng với cơ hội lớn của các nhà sản xuất LPG ở Việt Nam.

Nhà máy khác của GAS, Nhà máy xử lý khí Cà Mau (Cà Mau GPP, với công suất hàng năm 200.000 tấn LPG/năm), đã hoàn thành quá trình chạy thử và đi vào hoạt động thương mại trong tháng 10/2017, và có thể đóng góp thêm 200.000 tấn/năm (15% tổng nhu cầu).

Chúng tôi ước tính các dự án trong tương lai như nhà máy Nghi Sơn, Cà Mau GPP và Nam Côn Sơn 2 GPP (300.000 tấn/năm), nguồn cung trong nước của Việt Nam sẽ đáp ứng 80-90% tổng nhu cầu vào năm 2020-2022, và sẽ dư thừa sau đó, dẫn đến xuất khẩu LPG vào năm 2025.

11

Polypropylene (PP)

Polypropylene (PP) thường được sử dụng trong các sản phẩm đóng gói dẻo và tự động và tiêu dùng. Tăng trưởng nhanh chóng của ngành thực phẩm & đồ uống và xây dựng sẽ là các yếu tố dẫn dắt chính cho nhu cầu PP trong tương lai. Việt Nam xếp thứ 9 trong số các quốc gia nhập khẩu PP hàng đầu thế giới trong năm 2016 với 1,1 tỷ USD giá trị nhập khẩu trong khi lượng PP nhập khẩu đạt CAGR 8,9% giai đoạn 2010-2016.

BSR là nhà máy lọc dầu duy nhất trong nước sản xuất PP ở thời điểm hiện tại, với công suất hàng năm 150.000 tấn. Con số này tương ứng với 7-8% doanh thu của BSR với biên LN gộp hấp dẫn trong khoảng 30-35%. Doanh số bán hàng phân phối hàng năm của BSR đáp ứng 14-16% tổng nhu cầu của toàn quốc là 1,2 triệu tấn/năm, với nhu cầu còn lại được đáp ứng bởi nhập khẩu. Ngoài ra, nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn sẽ đi vào hoạt động trong quý 3/2018, có công suất 376.000 tấn PP/năm và công ty dự kiến tạo ra 100.000 tấn PP trong năm 2018 và 300.000 tấn năm 2019. Do đó, tổng sản lượng sản xuất PP tại nhà máy Bình Sơn và Nghi Sơn dự kiến đạt 30-40% tổng nhu cầu PP giai đoạn 2019-2020.

12

Nhựa đường

Nhựa đường là nguyên liệu chính để xây dựng cho cầu, đường và đường băng. Khi cơ sở hạ tầng giao thông vận tải của Việt Nam vẫn còn kém phát triển, triển vọng của ngành nhựa đường là khá tích cực trong trung và dài hạn. Hiện tại, bitumen, là nguyên liệu đầu vào chính cho nhựa đường, được nhập khẩu hoàn toàn thông qua nhà phân phối nhựa đường lớn nhất.

BSR có kế hoạch cung cấp bitumen trong năm 2022 khi hoàn thành mở rộng và nâng cấp. Việt Nam có xấp xỉ 750km đường cao tốc đang sử dụng. Bộ GTVT đã đặt mục tiêu đưa tổng số lượng đường cao tốc hoàn thành và sử dụng lên hơn 2.100km vào năm 2025. Chính phủ có kế hoạch xây dựng 654km đường cao tốc mới trong giai đoạn 2017-2020, với tổng vốn đầu tư đạt 118,7 nghìn tỷ đồng.

Ngoài ra, theo Bộ GTVT, tỷ lệ IRR định mức có thể đạt 14%, cao hơn mức sinh lời hiện tại là 11-12%. Tổng nhu cầu nhựa đường đã đạt đỉnh trong năm 2018 đạt 933.000 tấn (+23% so với 2017) và sau đó chững lại trong năm 2016 và 2017. Nhu cầu nhựa đường dự kiến tăng trưởng 8,6% trong giai đoạn 2017-2020 và 7,1% giai đoạn 2020-2034. Ngành nhựa đường có tính chu kỳ khi nhu cầu thường tương ứng với kế hoạch đầu tư của Chính phủ, và đầu tư công thường có xu hướng gia tăng giải ngân trong 2 cuối của mỗi nhiệm kỳ Chính phủ 5 năm. Do đó, giai đoạn 2018-2019 có thể là mức đỉnh cho nhu cầu nhựa đường trong chu kỳ 2016-2020.

13

14

Triển vọng công suất .

Công suất trong nước đang dần gia tăng

15

Nhà máy lọc dầu Dung Quất của BSR hiện đáng đáp ứng 1/3 nhu cầu xăng dầu trong nước, với phần còn lại chủ yếu nhập khẩu từ các quốc gia Châu Á. Nhà máy lọc dầu thứ hai Nghi Sơn, có kế hoạch phát sản xuất sản phẩm thương mại trong quý 2/2018. Nhà máy Nghi Sơn đi vào hoạt động 100% công suất sẽ đáp ứng 60% tổng nhu cầu xăng dầu và giảm sự phụ thuộc vào sản phẩm nhập khẩu trong tương lai.

16

Trong khi đó, BSR có kế hoạch gia tăng công suất từ 6,5 triệu tấn/năm lên 8,5 triệu tấn/năm. Khung thời gian cho thấy hợp đồng EPC sẽ được ký kết trong quý 4/2018, và nhà máy sẽ bắt đầu chạy thử vào cuối năm 2021 và đi vào hoạt động chính thức trong quý 1/2022. Khi việc mở rộng BSR được hoàn thành, sản xuất trong nước có thể đáp ứng cho tổng nhu cầu trong nước và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Nhà máy lọc dầu thứ ba, Long Sơn, đã động thổ từ tháng 2/2018 và dự kiến bắt đầu hoạt động thương mại trong năm 2023. Vốn đầu tư của dự án này là 5,4 tỷ USD.

Trái ngược với dự án Dung Quất và Nghi Sơn, dự án này tập trung bào các sản phẩm hóa dầu như olefin (1,6 triệu tấn/năm), polyethylene và PP (nhựa, lên đến 2 triệu tấn/năm), thường được sử dụng rộng rãi trong ngành hóa chất cho đóng gói thực phẩm, dệt may và cao su tổng hợp. Dù có các nhà máy lọc dầu khác như Vũng Rô và Nam Vân Phong trong kế hoạch thực hiện, chúng tôi chưa ghi nhận các diễn biến đáng kể từ các dự án này trong tương lai gần.

Nhà máy Nghi Sơn đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng như cầu trong nước

Nhà máy Nghi Sơn (NSR) bắt đầu được xây dựng trong năm 2013. Tổng chi phí đầu tư là 9 tỷ USD. NSR xử lý dầu chua Kuwait, được cung cấp độc quyền bởi Kuwait Petroleum International (vốn là công ty liên kết của Kuwait Petroleum Europe B.V, sở hữu 35% cổ phần của NSR). Một nhóm các NĐT bao gồm JGC Corporation, Chiyoda, GS E&C, SK E&C, Technip France (Pháp) và Technip Geoproduction (Malaysia) được nhận hợp đồng tổng thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình) cho dự án này. Cơ cấu sở hữu tại BSR được chia sẽ bởi PVN (25,1%), Idemitsu Kosan Co. (công ty lọc dầu lớn thứ ba Nhật Bản, 35,1%), Kuwait Petroleum Corp. (35,1%), và Mitsui Chemicals Inc (4,7%).

Sản lượng từ NSR phần lớn sẽ được cung cấp cho thị trường trong nước. PVN sẽ mua phần lớn sản lượng theo giá thị trường Châu Á, nhưng nhà máy lọc dầu này sẽ được cho phép xuất khẩu các phần sản lượng dư thừa nhằm tránh giảm tỷ lệ vận hành của nhà máy. NSR có nhiều lợi thế tính theo vị trí địa lý, thuê đất, thuế TNDN và lợi ích thuế. (1) NSR nằm trong Đặc khu Kinh tế, nằm ở khu vực trọng tâm của tuyến cao tốc Bắc Nam.

Đây cũng là cầu nối giữ miền Bắc, miền Trung và miền Nam của Việt Nam với nam Lào và phía Đông Bắc Thái Lan. (2) Tính về quỹ đất, NSR được miễn giảm phí thuê đất và diện tích mặt nước trong 11-15 năm từ thời điểm các dự án đi vào hoạt đồng. (3) Về mặt thuế, NSR sẽ được miễn giảm thuế TNDN trong 4 năm đầu tiên kể từ thời điểm có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo (trong đó thuế TNDN sẽ được áp dụng ở mức 10% trong 15 năm từ thời điểm dự án đi vào hoạt động).(4) Cuối cùng, tương tự BSR, Chính phủ cũng đảm bảo rằng NSR sẽ nhận được 7% từ giá bán xăng dầu, 5% LPG và 3% sản phẩm hóa dầu trong 10 năm tới.

1

2

3

Thuế nhập khẩu xăng dầu đang giảm dần

Việt Nam sẽ giảm thuế nhập khẩu theo các FTA và MFN

Trước năm 2016, thuế nhập khẩu áp dụng với xăng dầu được áp dụng theo nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) với sự thỏa thuận của các thành viên từ WTO. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2016, thuế nhập khẩu xăng dầu từ một vài quốc gia đã thấp hơn khi áp dụng nhiều các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), bao gồm FTA ASEAN (ATIGA), FTA Việt Nam – Hàn Quốc và FTA ASEAN – Trung Quốc.

4

Trong dài hạn, thuế nhập khẩu sẽ dần giảm về 0%, phù hợp với cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ FTA, cũng như theo MFN. Cụ thể, theo FTA ASEAN, thuế nhập khẩu áp dụng đối với sẽ giảm còn 5% trong năm 2023 và 0% trong năm 2024, trong khi thuế của dầu diesel đã được giảm còn 0%. Trong khi đó, theo FTA Việt Nam – Hàn Quốc, thuế nhập khẩu áp dụng cho xăng dầu sẽ được giảm còn 8% từ năm 2021, trong khi thuế của dầu diesel đã giảm từ 5% còn 0% năm 2018.

5

Chính sách thuế áp dụng đối với nhà máy lọc dầu Dung Quất (BSR)

Ngành dầu khí Việt Nam được sự quản lý chặt chẽ của Chính phủ thông qua các chính sách thuế và các biện pháp khác. Như được thể hiện trong Hình 10, trước ngày 6/3/2016, BSR được ghi nhận “Mức thuế đặc biệt” là mức chênh lệch giữa (A) và (B) (13%= 20% - 7% cho xăng dầu) theo Nghị định 925/2012. Ngoài ra, mức thuế đặc biệt là thành tố trong cơ chế tính giá bán của BSR. Sự kiểm soát của Chính phủ bắt đầu giảm dần với Nghị định số 1725/QD-thị trường, có hiệu lực từ ngày 06/03/2016 đến ngày 31/12/2016, khi áp mức thuế đặc biệt 10% đối với doanh thu quý 4/2016 của BSR. Từ ngày 1/1/2017, BSR không được chi trả mức thuế đặc biệt.

6

Chính sách thuế của nhà máy Nghi Sơn

Chính phủ đã cam kết mức thuế suất ưu đãi ít nhất 7% cho xăng và dầu diesel trong giai đoạn 2018- 2028. Nếu thuế nhập khẩu giảm còn 0%, Chính phủ sẽ vẫn cam kết mức ít nhất 7%. Đây là lợi thế của nhà máy Nghi Sơn so với BSR

Nhập khẩu từ Hàn Quốc đã tăng đáng kể

Trong năm 2015, thuế nhập khẩu từ Singapore tương ứng với tỷ trọng lớn, xếp tiếp theo là Thái Lan và Trung Quốc. Nhập khẩu từ Malaysia và Hàn Quốc đã tăng mạnh từ đầu năm 2016 khi FTA Việt Nam – Hàn Quốc và FTA ASEAN có hiệu lực. Xu hướng này sẽ tiếp tục trong năm 2017 và quý 1/2018. Đáng chú ý, nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh 62% tính theo sản lượng, được chúng tôi cho rằng đến từ cạnh tranh giá bán xăng dầu.

7

Nguồn dầu thô đầu vào cho các nhà máy lọc dầu

Theo các dự báo của ngành, trữ lượng dầu đạt khoảng 4,4 tỷ thùng dầu vào năm 2016, theo số liệu dự báo chung từ Eni’s World Oil Review 2017, BP Statistic Review of World Energy, BMI và EIA. Một vài mỏ dầu ngoài khơi nằm trong các bể dầu dọc theo bờ biển phía nam đóng góp cho trữ lượng này, như bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay-Thổ Chu, và dự kiến cung cấp sản xuất dầu thô cho Việt Nam (330.000 thùng/ngày năm 2016) trong vòng 36 năm tới.

8

Sau khi ngành được bắt đầu được triển khai trong năm 1988, sản lượng dầu thô của Việt Nam đã đạt đỉnh 20 triệu tấn trong năm 2004 khi mỏ Bạch Hổ, mỏ khí lớn nhất của Việt Nam bắt đầu sản xuất ổn định ở mức sản lượng cao nhất 170.000 thùng/ngày. Mức giảm trong trữ lượng dầu thô của mỏ này sẽ khiến đẩy mạnh khai thác và khai thác các mỏ khác. Do đó, 36 mỏ dầu mới, chủ yếu là các mỏ nhỏ nằm ở các khu vực nước sâu, đi vào khai thác sẽ đưa sản lượng lên 19 triệu tấn vào năm 2015. Tuy nhiên, xu hướng gia tăng sản lượng sẽ dừng lại sau năm 2015, và sản lượng dự kiến sẽ giảm sâu hơn giai đoạn 2018-2022 với tăng trưởng trung bình hàng năm 5% do 1) sự kém hiệu quả trong khai thác và vận hành các mỏ mới so với chi phí đầu tư cao hơn, 2) giá dầu thô giảm mạnh trong năm 2014 và 3) giảm trữ lượng trong các mỏ đã khai thác đạt đỉnh, như mỏ Bạch Hổ, Sư Tử Đen và Tê Giác Trắng. PVN cho biết chỉ có 30% kế hoạch thăm dò được hoàn thành đến hết tháng 6/2017, củng cố cho triển vọng kém tích cực của sản lượng dầu khí Việt Nam (BMI, 2018).

6

Ngành lọc dầu toàn cầu

Khu vực Châu Á Thái Bình Dương dẫn dắt tăng trưởng công suất lọc dầu toàn cầu

Trong năm 2016, Châu Á Thái Bình Dương có công suất lọc dầu lớn nhất với 32,8 triệu thùng/ngày, chiếm 33,7% tổng công suất lọc dầu toàn cầu. Châu Â, Á Âu và Bắc Mỹ xếp thứ hai và ba với thị phần 23,9% và 22,7%. Trong vòng 2 thập kỷ qua (1996-2016) công suất lọc dầu tăng 26%, được đóng góp đáng kể từ mở rộng công suất tại Trung Đông và Châu Á Thái Bình Dương.

10

Hiện tại, đang có sự thiếu hụt các sản phẩm dầu tại Bắc Mỹ, Châu Á Thái Bình Dương và Nam & Trung Mỹ. Đáng chú ý, Châu Á Thái Bình Dương hiện vẫn đang khát các sản phẩm từ dầu thô dù có công suất lọc dầu lớn nhất cả nước, tương ứng với nhu cầu lớn trong khu vực.

Thị trường sản phẩm từ dầu thô khu vực Trung Đông là khá cân bằng. Trong khi đó, khu vực có thặng dư sản phẩm từ dầu thô lớn nhất là Châu Âu & Á Âu, chủ yếu là do công suất dư thừa từ công suất lọc dầu lớn nhất thế giới. Trong năm 2016, hiệu suất hoạt động của lọc dầu đạt 75-85% trong phần lớn các khu vực, ngoại trừ Châu Phi, vốn có hiệu suất hoạt động thấp nhất 61%.

Cụ thể, hiệu suất hoạt động của các nhà máy lọc dầu từ Châu Mỹ, Trung Đông và Châu Phi đều giảm xấp xỉ 10 điểm % trong giai đoạn 1996- 2016. Mức giảm đáng kể nhất là Châu Phi. Hiệu suất hoạt động của khu vực Châu Á Thái Bình Dương, dù vậy, là khá ổn định đạt 85% giai đoạn 1996-2016. Chỉ có Châu  và Á Âu ghi nhận mức tăng hiệu suất lọc dầu từ 74% năm 1996 lên 83% năm 2016.

11

Công suất bổ sung 0,6-1,8 triệu thùng/ngày trong vòng 5 năm tới, chủ yếu từ Châu Á

Theo IEA, dù hiệu suất lọc dầu toàn cầu chỉ khoảng 85%, sẽ có mức tăng mạnh công suất lọc dầu trong vòng 5 năm tới, với thêm 0.6-1,8 triệu thùng/năm. Trong giai đoạn 2018 2023, gần 50% của lượng lọc dầu giá tăng 7,6 triệu thùng/ngày của công suất lọc dầu toàn cầu sẽ đến từ Trung Quốc và các quốc gia mới nổi khác, trong khi 26% công suất lọc dầu sẽ tiếp tục đến từ Trung Đông. Diễn biến này có thể được lý giải bằng thực tế rằng Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc giá Châu Á khác là yếu tố dẫn dắt chính cho tăng trưởng dự kiến trong nhu cầu dầu thô toàn cầu, trong khi thị trường năng lượng cạnh tranh hơn đang khiến các nhà sản xuất hàng đầu, như Saudi Arabia, để đầu tư nhiều hơn vào các cơ sở lọc dầu và hóa dầu giá trị gia tăng gần hơn với người tiêu dùng.

12

Tăng trưởng nhu cầu sẽ tiếp tục mạnh mẽ trong giai đoạn 2018-2021, sau đó sẽ chững lại từ năm 2022

Nhu cầu toàn cầu cho các sản phẩm lọc dầu dự phóng sẽ tăng đạt 1,2 triệu thùng/ngày trong năm 2018 và tăng 0,9-1 triệu thùng/ngày giai đoạn 2018-2021, là mức tăng khá đáng kể theo quan điểm của chúng tôi. Tăng trưởng nhu cầu sau đó sẽ chững lại từ năm 2022 (Hình 32).

13

Hiệu suất lọc dầu có thể giảm trên toàn cầu, ngoại trừ Châu Á

Theo dự báo của IEA, sẽ có thêm nhu cầu 4,8 triệu thùng dầu/ngày so với 7 triệu thùng dầu/ngày công suất mới, tương ứng với mức tăng công suất dưới 70%. Diễn biến này có hể do các nhà máy lọc dầu ở Châu Âu chịu ảnh hưởng từ thị trường trong khối này và bị mất cân bằng tính teo cơ cấu cơ sản phẩm (đặc biệt là xăng). Diễn biến này cón trầm trọng hơn nếu các nhà máy Mỹ Latin bước vào giai đoạn phục hồi và công suất nhà máy mới ở Tây Phi mở cửa theo kế hoạch. Các nhà máy lọc dầu, trong khi đó đang có diễn biến khá thuận lợi, đặc biệt là các nhà máy ở Vùng Bờ vịnh (Gulf Coast)

Hiệu suất lọc dầu tại Châu Á dự kiến sẽ vẩn ở mức cao. Trong năm 2018, Châu Á tiếp tục là yếu tố dẫn dắt với công suất chưng cất 400.000 thùng/ngày, cao hơn nhẹ so với năm 2017. Trung Quốc và Ấn Độ sẽ ghi nhật tăng trưởng lớn nhất, nhưng công suất bổ sung vẫn phù hợp với tổng tăng trưởng nhu cầu sản phẩm ở các quốc gia này. Hiệu suất hoạt động tại Châu Á phụ thuộc vào các nhà máy lọc dầu độc lập tại Trung Quốc và nhập khẩu dầu thô, và quota xuất khẩu sản phẩm.

Ngành lọc dầu tại Châu Á

Tăng trưởng công suất dự kiến sẽ mạnh mẽ trong vài năm tới, nhưng sẽ duy trì sau đó

Theo nghiên cứu thị trường của BMI, công suất lọc dầu của Châu Á dự kiến sẽ duy trì mạnh mẽ trong 4 năm tới, với tỷ lệ trung bình khoảng 1,6%/năm, sau đó đi ngàng từ năm 2022.

14

Nhìn chung, tăng trưởng công suất mạnh mẽ 2,2% trong năm 2017, đến từ công suất bổ sung từ Ấn Độ. Tuy nhiên, mức tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2020 và 2021 sẽ được dẫn dắt bởi nhà máy lọc dầu ở Malaysia và Indonesia.

15

Nhu cầu ổn định đến từ các thị trường mới nổi Châu Á

Nhu cầu sản phẩm lọc dầu tại Châu Á dự báo sẽ vượt các khu vực khác tính theo con số sản lượng tuyệt đối, với tỷ lệ tăng trưởng 1,9% giai đoạn 2017-2026. Nhu cầu mạnh mẽ sẽ được ghi nhận tại các thị trường mới nổi Châu Á, đáng chú ý là tại Ấn Độ, Indonesia, Pakistan và Việt Nam, nhờ các yếu tố vĩ mô và nhân khẩu học thuận lợi, nhu cầu tăng trưởng cho nhiên liệu xăng dầu và LPG trong ngàng GTVT và dân cư.

16

Trung Quốc đang nỗ lực xử lý công suất dư thừa

Chính sách của Trung Quốc trong ngành lọc dầu đã gây ra nhiều ý kiến trái ngược trong năm 2017, nhưng Chính phủ nước này thực tế đã đặt ra các khuôn khổ cho con đường tăng trưởng cân bằng và ổn định cho ngành. Trong khi một mặt Chính phủ cố gắng giảm công suất dư thừa và hạn chế xuất khẩu sản phẩm dầu thô, mặt khác, các dự án lọc dầu mới được phê duyệt và các nhà lọc dầu độc lập được cho phép tăng tỷ lệ hoạt động, tạo ra dư thừa sản lượng trong thị trường trong nước.

Diễn biến này không quá bất ngờ khi dẫn đến kế hoạch của Trung Quốc nhằm cải tổ ngành lọc dầu trong nước. Tuy nhiên trong năm 2018, kiểm soát xuất khẩu và nhập khẩu đã được dần nới lỏng. Thay vào đó, Chính phủ đã cải thiện các quy định về môi trường và thuế, và sử dụng điều này để loại bỏ các nhà máy vận hành kém hiệu quả trong ngành và loại bỏ công suất dư thừa

17

Lượng tiêu thụ nhiên liệu lọc dầu tại Trung Quốc dự kiến sẽ tăng trưởng trung bình 5% trong vòng 5 năm tới, chủ yếu được củng cố bởi nhu cầu gia tăng cho nhiêu liệu tiêu dùng (xăng, dầu diesel và LPG) và hóa dầu, theo dự báo của BMI. Tuy nhiên, nhu cầu xăng dầu sẽ chịu áp lực trong dài hạn, khi hiệu quả động cơ được cải thiện, tiêu chuẩn nhiên liệu chặt chẽ hơn và các lưa chọn di chuyển thân thiện với môi trường sẽ làm giảm nhu cầu. Trái ngược lại, nhu cầu cho dầu diesel sẽ được hỗ trỡ bởi quy định chặt chẽ hơn trong ngành tàu thủy, khi tàu dần chuyển sang các sản phâm chưng cất trung cấp nhằm giảm lượng nhiên liệu ô nhiễm tiêu thụ.

18

Triển vọng cho biên lọc dầu gộp và crack spread Crack spread tăng trong năm 2017

Biên xăng dầu (Crack spread) trong năm 2017 là khá mạnh mẽ tại Châu Á cũng như các khu vực khác trên thế giới do thiếu hụt sản xuất dẫn đến mức tăng các thiếu hụt bất ngờ (bất ngờ dừng hoạt động) và Siêu bão Harvey diễn ra trong quý 3/2017 (làm giảm 4,7 triệu thùng/ngày từ công suất CDU tại Gulf Coast) và nhu cầu mạnh mẽ năm 2017.

19

2018 sẽ là một năm hứa hẹn khác cho phần lớn các nhà máy lọc dầu

Theo nghiên cứu của Wood Mackenzie, biên LN lọc dầu toàn cầu dự kiến duy trì trung bình 6 USD/thùng trong năm 2018, thấp hơn nhẹ so với mức 6,6 USD/thùng trong năm 2017, tương ứng với việc phần lớn các nhà máy lọc dầu sẽ có thêm một năm tích cực khác. Dự báo của chúng tôi cho năm 2018 là phù hợp với các dự báo ở trên dù không có mức tăng của tỷ lệ thiếu hụt, nhu cầu vẫn mạnh mẽ trên khắp các khu vực.

Các nhà máy lọc dầu của Mỹ có thể xuất khẩu thêm sang Mỹ Latin dù các nhà máy Châu Âu có thể xuất khẩu sang Tây và Bắc Phi. Tại Châu Á, tăng trưởng nhu cầu mạnh mẽ sẽ bù đắp cho mức tăng công suất và hỗ trợ biên LN trong khu vực. Ngoài ra, tồn kho toàn cầu dự kiến sẽ vẫn duy trì khá thấp sau các diễn biến của siêu bão Harvey diễn ra năm ngoài tại Mỹ

20

21

Triển vọng crack spread trong dài hạn

Châu Á dự kiến có crack spread chạm đáy trong năm 2019 và bắt đầu phục hồi từ năm 2020 với nhu cầu mạnh mẽ và mở rộng công suất hạn chế sau năm 2020.

22

Crack spread cho dầu diesel có thể tăng nhưng giảm đối với xăng

Trong dài hạn, crack spread cho dầu diesel được hỗ trợ bởi quy định chặt chẽ hơn trong ngành tàu biển. Sự áp dụng trên toàn cầu của Marine Pollution (MARPOL) Annex VI dự kiến sẽ dẫn đến các quy định chặt chẽ hơn về quy định chất lượng cho các nhiên liệu tàu bunker. Do đó, nhu cầu cho dầu diesel dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng. Mặt khác, nhu cầu xăng dự kiến sẽ giảm do khả năng chuyển sang sử dụng xe máy/ôtô điện, cải hiện hiệu quả động cơ cũng như tiêu thụ thấp hơn do biến động giá (giả định mức tăng giá dầu thô).

23

Các thuật ngữ và định nghĩa của ngành

Sản phẩm xăng dầu/lọc dầu Sản phẩm xăng dầu/chưng cất được sản xuất thông qua quá trình lọc dầu. Do đó, các sản phẩm này được biết đến là sản phẩm lọc dầu và thường được phân loại thành 3 nhóm chính, nhẹ, trung bình và chưng cất năng & phụ phẩm.

24

Sản phẩm đầu vào cho các nhà máy lọc dầu

Dầu thô là một hỗn hợp các hợp chất hydrocarbon. Phụ thuộc vào vị trí khai thác được dầu thô, dầu thô có một số thành phần chính sau: API gravity (đo lượng độ nặng nhẹ của dầu thô so với nước) và hàm lượng lưu huỳnh (sulphur). Ngoài ra, một vài loại dầu thô thường được sử dụng nhằm quyết định giá trị dầu thô.

Dầu thô ngọt và chua thường được phân loại dựa theo hàm lượng lưu huỳnh thấp (<0,5%) và cao. Dầu có độ ngọt càng cao thì càng dễ lọc dầu, có lợi cho môi trường và tạo ra hao mòn thấp hơn cho các nhà máy lọc dầu so với dầu chua. Ngoài ra, dầu ngọt có mức chênh lệch giá cao hơn 10-15 USD/thùng so với dầu chua

Dầu thô năng và nhẹ: Dầu có hàm lược thấp hoặc “dầu nhẹ: thường được ưa chuộng khi chứa phẩm chất hydrocarbon cao hơn có thể được chuyển hóa thành xăng. Thành phần hydrocarbon cao hơn đồng nghĩa với việc dầu thô có thể sản xuất thêm nhiều phần ở dưới điểm sôi. Thước đo API gravity được phân loại theo các mức sau: Nhẹ: API >31,1, Trung bình: 22,3

25

Quá trình lọc dầu

Quy trình sản xuất của một nhà máy lọc dầu đơn giản gồm 3 bước. Bước một là phân tách. Trong giai đoạn này, nhà máy lọc dầu đun nóng dầu thô với các mức nhiệt độ khác nhau. Nhiều thành phần khác nhau trong dầu thô sẽ có nhiệt độ sôi khác nhau. Khi nhiệt độ ngày càng gia tăng, những phần/yếu tố được phân tách. Hoạt động này được thực hiện trong tháp chưng cất.

Bước thứ hai là chuyển đổi/cracking. Trong giai đoạn này, nhiệt độ, áp suất cao và các chất hóa học được sử dụng để bẻ gãy(crack)/phân tách các phân tử hydrocarbon nặng thành các phân tử nhỏ hơn. Có hai phương pháp cracking chính – cracking nhiệt (đun nóng như phương pháp truyền thống) và cracking xúc tác (hydrocracking như phương pháp hiện đại)/

Cuối cùng, bước xử lý sẽ nhằm giàm hàm lượng lưu huỳnh nhằm cải thiện phẩm chất thành phần trước khi trộn với các yếu tố khác nhằm sản xuất sản phẩm dầu thô riêng biệt. Có nhiều phương pháp xử lý khác nhau, như xử lý bằng hydro, tái tạo (reforming), đồng phân hóa (isomerizing), alkyl hóa (alkylation), khử alkyl hóa (dealkylation)

26

Chỉ số Nelson complexity index (NCI):

Chỉ số NCI là thước đo so sánh công suất chuyển đổi thứ cấp cho nhà máy lọc xăng dầu với công suất chưng cất sơ cấp. Chỉ số này cung cấp thước đo đơn giản để định lượng và xếp hạng cho các nhà máy lọc dầu và đơn vị khác nhau. Chỉ số này càng cao sẽ càng tốt.

Biên xăng dầu (crack spread)

Crack spread là thước đo mức chênh lệch giữa giá mua dầu thô và giá bán trung bình có trọng số của một vài sản phẩm lọc dầu hoặc chỉ một sản phẩm duy nhất. Thông thường, xăng và dầu diesel (DO) là các sản phẩm thường được chú ý nhất. Có rất nhiều loại thước đo crack spread nhưng thước đo phổ biến nhất là crack spread 3:2:1. Đây là mức chênh lệch giữa chi phí của 3 thùng dầu thô đối với bán 2 thùng xăng và 1 thùng dầu diesel (DO). Biên lọc dầu gộp (GRM): thường được sử dụng như là một thuật ngữ của ngành và so sánh biên LN giữa các nhà máy lọc dầu trên khắp thế giới

27

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

hotline