Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Cập nhật Ngành Ngân hàng - Thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, các Ngân hàng TMCP tư nhân sẽ thống trị trong vài năm tới

Được đăng vào 21-03-2019

Cập nhật Ngành Ngân hàng - Thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, các Ngân hàng TMCP tư nhân sẽ thống trị trong vài năm tới

Với những bằng chứng xuất hiện trong cho thấy câu chuyện đảo chiều của ngành ngân hàng, NĐT tập trung vào các tăng trưởng thu nhập ngoài lãi và những nguồn thu nhập ngoài lãi khác trong tương lai.

Quan sát các số liệu và quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để nhận thấy các rủi ro trong hệ thống dần giảm bớt. Lợi nhuận kế toán tăng mạnh 41% trong số các ngân hàng chúng tôi đang theo dõi trong năm 2017. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng những quan điểm cải thiện của ngành được đến từ việc các ngân hàng đã dần đạt được các chỉ số về chất lượng tài sản của chúng tôi và hiểu được cách thức tăng trưởng tín dụng đã cải thiện tính theo thời gian. Việc giảm sở hữu chéo đã được thực hiện và trong các ngân hành chúng tôi theo dõi, các ngân hàng nhìn chung dần tự tin hơn trong việc giữ cán cân dự phòng thấp hơn.

Các ngân hàng TMCP Nhà nước tiến vào mảng ngân hàng bán lẻ để cải thiện NIM khoảng 5 điểm cơ bản, NIM của các ngân hàng TMCP tư nhân đi ngang trong năm 2018.

Thu nhập ngoài lãi từ một khoản mục nhỏ trở thành yếu tố dẫn dắt chính cho lợi nhuận của ngân hàng. Từ mức chỉ chiếm 12% tổng thu nhập HĐKD (TOI) lên 18% TOI trong vòng 2 năm (danh mục các ngân hàng chúng tôi theo dõi) và tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 2 năm tại ACB tăng 213% khiến các NĐT chú ý. Một vài ngân hàng, như ACB, lựa chọn chưa gia tăng thu nhập ngoài lãi với hợp đồng bancassurance độc quyền (ít nhất là ở thời điểm hiện tại) trong khi VPB cho rằng mảng này sẽ giúp gia tăng thu nhập ngoài lãi. Chúng tôi ghi nhận Việt Nam đang ở giai đoạn mà chúng tôi cho rằng là giai đoạn 1 của tăng trưởng thu nhập ngoài lại khi cho vay bán lẻ là điều kiện cần để ghi nhận tăng trưởng thu nhập ngoài lãi mạnh mẽ.

Các ngân hàng TMCP Nhà nước giúp đẩy mạnh cho vay bán lẻ. Các công ty tài chính tiêu dùng (TCTD) cho vay không có TSĐB thường được đi kèm với tăng trưởng cho vay có nhiều rủi ro, nhưng trong năm 2017, Các ngân hàng TMCP Nhà nước đã vượt các công ty này tính theo tăng trưởng hàng năm. Dù vậy, các ngân hàng TMCP Nhà nước vẫn đang vẫn đang nỗ lực bắt kịp danh mục khoản vay và chúng tôi cho rằng tăng trưởng thu nhập ngoài lãi sẽ cần vài năm để chín muồi.

Tương lai sẽ là các Ngân hàng Giao dịch. Các ngân hàng Việt Nam trong lĩnh vực giao dịch vẫn ghi nhận tỷ lệ khoản 5% trong phần trăm TOI so với các ngân hàng mạnh về khoản này như Standard Chartered, đạt 23% trong 2017. Diễn biến này diễn ra tại Việt Nam vốn đang có thiên hướng xuất khẩu. Ngân hàng Giao dịch yêu cầu ngân hàng có nền tảng vững chắc như bán buôn, SME, và thị trường, cũng như bán lẻ.

Nghị định 42 là một tín hiệu cho thấy sẽ trao quyền xử lý TSĐB cho các ngân hàng. Nghị định 42 đã đưa ra các giải mới cho xử lý nợ xấu. Chúng tôi cho rằng các vấn đề được giải quyết với Nghị định 42 với các vấn đề liện quan đến chi phí tín dụng tại Việt Nam là không cần thiết.

Chúng tôi đánh giá cáo các mã ngân hàng ghi nhận tăng trưởng mạnh mẽ trong thu nhập ngoài lãi, nhưng đối với các ngân hàng niêm yết, vẫn cho có ứng cử viên nào trong lĩnh vực Ngân hàng Giao dịch. Các khuyến nghị các ngân hàng của chúng tôi có khả năng thay đổi nhẹ trong tương lai. Chúng tôi đánh giá cao ACB và vẫn đánh giá tích cực về VPB, dù trong tương lai ngân hàng này sẽ được phân tích riêng biệt ở lĩnh vực ngân hàng và FE Credit. Chúng tôi cho rằng CTG sẽ giao dịch với P/E cao hơn với BID. Chúng tôi nhiều khả năng nâng khuyến nghị của VCB lên ít nhất là PHÙ HỢP THỊ TRƯỜNG. Chúng tôi cho rằng MBB vào thời điểm hiện tại thiếu các yếu tố tương tự như ACB và VPB.

Không cần quá khó khăn để ghi nhận sự cải thiện trong HOLD hệ thống ngân hàng

Khi chúng tôi khảo sát diễn biến của các ngân hàng chúng tôi đang theo dõi trong năm 2017, chúng tôi nhận thấy các bằng chứng rằng có nhiều hơn các nghị quyết xử lý nợ xấu đến từ giai đoạn vỡ bong bóng BĐS năm 2012.

Để tổng hợp chung năm 2017, cơ chế tích cực xuất hiện trong năm 2016 được củng cố tiếp trong năm 2017 và các cơ chế mới tích cực khác xuất hiện trong năm 2017. Các ghi nhận chính như sau:

• Chỉ số chất lượng tài sản được giữ nguyên hoặc tiếp tục được cải thiện trong năm 2017: chúng tôi ưa chuộng phương thức lý thuyết khi phân tích chất lượng tài sản khi giữ tỷ lệ nợ xấu chính thức cùng cán cân nợ VAMC (hình 4 và 5). Quyết định 780 về cán cân nợ (hình 6) và phương thức cũ của chúng tôi về khoản phải thu và lãi tích lũy trong phần trăm tổng tài sản (hình 2 và 3). Đối với các ngân hàng TMCP quốc doanh trong năm 2017, tất cả các chỉ số kể trên đều cải thiện. Đối với nhóm ngân hàng TMCP tư nhân, có một số ngân hàng đã có sự cải thiện đáng kể, nhưng thống kê chung cho thấy mức sụt giảm do STB. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với với diễn biến xấu hơn tại STB, con số này cho thấy các vấn đề liên quan đến những diện biến trong quá khứ.

• Sự phân hóa trong tỷ lệ dự phòng trong số các ngân hàng chúng tôi theo dõi giảm, khi VCB ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận lớn trong năm 2017: trong những năm trước, trích lập dự phòng của VCB là cực kỳ thận trọng và do đó, doanh thu sẽ không tương ứng với lợi nhuận. Hình 8 và hình 9 cho thấy rằng từ năm 2015-2017, VCB dịch chuyển gần hơn với các ngân hàng TMCP quốc doanh và cán cấn dự phòng cuối kỳ trong tổng khoản vay cho các ngân hàng TMCP quốc doanh đạt 44 điểm cơ bản từ 138 điểm cơ bản. Nhìn chung, cán cân dự phòng chung của các ngân hàng TMCP quốc doanh và ngân hàng TMCP tư nhân giảm trong năm 2017 so với 2015, cho thấy ngành hàng được hưởng lợi từ nền kinh tế tốt hơn.

• 3 năm chờ đợi cho việc giảm sở hữu chéo ghi nhận kết quả năm 2017: nhu cầu cho giảm sở hữu chéo giữa các ngân hàng xuất hiện từ giữa năm 2014 khi Chính phủ ban hành Thông tư 36, nhưng hành động thực tế chỉ diễn ra vào cuối năm 2017 (xem hình 7). Việc giảm sở hữu chéo có nhiều điểm tích cực, một trong số đó là giảm rủi ro của hệ thống ngân hàng.

• Chất lượng tăng trưởng tín dụng tiếp tục cho thấy sự cải thiện. Tăng trưởng tín dụng 18% trong năm 2017 khiến chúng tôi đánh giá tích cực hơn tăng trưởng cùng mức trong năm 2015 như trong hình 10 cho thấy, không còn sự xuất hiện của tăng trưởng tín dụng “hình thức bên ngoài” trong quý 4 các năm 2015 và 2016, do đó, tăng trưởng tín dụng được phân bổ đồng đều hơn từ đầu năm và giúp cải thiện NII.

3

4

5

6

7

8

9

NIM duy trì ổn định cho đẩy mạnh vào mảng cho vay bán lẻ

Chúng tôi cho rằng việc bàn đến lãi suất và cơ chế NIM chỉ phụ thuộc vào các yếu tố trong nước và không có nhiều ảnh hưởng từ các sự kiện bên ngoài Việt Nam. NIM đã bị ảnh hưởng với sự giảm dần sở hữu danh mục Trái phiếu Chính phủ (TPCP), sự gia tăng chi phí huy động và các ngân hàng đẩy mạnh cho vay bán lẻ, sẽ được đề cập đến trong phần bên dưới.

Các ngân hàng đối mặt với việc lợi suất TPCP giảm khi dịch chuyển lên trong đường công lợi suất.

Một điểm dễ nhận thấy trong hình 11 là các ngân hàng không phải là người mua duy nhất cho TPCP sơ cấp được đấu giá với cơ quan của Chính phủ, tuy nhiên, các ngân hàng vẫn là những người mua chính. Nhìn vào khoảng thời gian 5 năm, chúng ta có thể nhận thấy răng lợi suất năm 2016 tương đương với năm 2015, nhưng giảm mạnh trong năm 2017. Một điểm cần chú ý khác trong năm 2017 là TPCP kỳ hạn dài hơn bắt đầu chiếm tỷ trọng cao hơn trong các đợt phát hành, đặc biệt là kỳ hạn 30 năm. Các ngân hàng thường có xu hướng muốn duy trì mức sinh lời trong danh mục trái phiếu năm giữ bằng cách mua các kỳ hạn dài hơn. Trong bối cảnh thị trường thứ cấp cho TPCP kỳ hạn 20 và 30 năm là khá kém thanh khoản, điều này làm gia tăng cho rủi ro thanh khoản trong danh mục trái phiếu

10

Lãi suất cho vay không tăng nhanh như chi phí huy động do đẩy mạnh cho vay bán lẻ

Nhìn vào hình 12, chúng tôi có thể loại bỏ vấn đề về thay đổi lớn trong cơ cấu kỳ hạn của danh mục khoản vay là một yếu tố ảnh hương đến NIM. Có mức giảm chung đối với NIM do danh mục TPCP nắm giữ, tuy nhiên chỉ số này lại tăng nhẹ ở các ngân hàng đã giảm quy mô danh mục TPCP nắm giữ, điều này được nhìn thấy rõ nét tại các ngân hàng ngân hàng TMCP quốc doanh (hình 13). Thay vào đó, mưc tăng trong chi phí huy động là một nguyên nhân chính và thêm mức tăng mạnh 26 điểm cơ bản năm 2016 khiến chỉ số NIM tăng nhẹ 8 điểm cơ bản trong năm 2017, mức tăng thấp hơn cho phép NIM trong danh mục theo dõi của chúng tôi phục hồi 4 điểm cơ bản trong năm 2017. Chúng tôi không cho rằng lãi suất cho vay của một số khảo vay tăng 12 điểm cơ bản năm 2017, mà là sự kế hợp của tăng lãi suất và tăng trưởng tỷ trọng cho vay bán lẻ trong danh mục ngân hàng theo dõi của chúng tôi, vốn ghi nhận mức tăng NIM.

11

Hình 13 và hình 14 cho thấy mức tăng 15 điểm cơ bản của chi phí huy động tại các ngân hàng TMCP quốc doanh so với mức tăng 5 điểm cơ bản của các ngân hàng TMCP tư nhân, dù có sự cải thiện tỷ lệ CASA (tiền gửi không kỳ hạn) tại các ngân hàng TMCP quốc doanh năm 2017. Chúng tôi cho rằng mức tăng từ phát hành nợ thứ cấp tại các ngân hàng TMCP quốc doanh trong năm 2017 làm chi phí huy động gia tăng. Đáng chú ý, NIM tại ngân hàng TMCP quốc doanh ghi nhận mức tăng 6 điểm cơ bản năm 2017 so với mức NIM đi ngang tại ngân hàng TMCP tư nhân do sự tăng trưởng về cho vay bán lẻ trong % tổng khoản vay tại ngân hàng TMCP quốc doanh và giữ mức tương ứng với tỷ lệ tại ngân hàng TMCP tư nhân

12

Chi phí huy động tiếp tục gia tăng trong năm 2018, nhưng với tốc độ chậm hơn, và NIM sẽ tiếp tục tăng nhẹ nhờ tăng trưởng cho vay bán lẻ

Lợi suất TPCP tiếp tục chịu áp lực giảm giá trong vài tháng đầu tiên của năm 2018 (hình 15), vì vậy chúng tôi cho rằng tỷ trọng TPCP sẽ tiếp tục giảm. Tỷ lệ CAR trong số các ngân hàng chúng tôi theo dõi tiếp tục đà sụt giảm (thậm chí khi tính theo Basel 1) (hình) do đó chúng tôi ngân hàng TMCP quốc doanh sẽ tiếp tục phát hành nợ thứ cấp và làm tăng thêm áp lực cho chi phí huy động. Chúng tôi cho rằng cho vay bán lẻ sẽ tiếp tục gia tăng trong % tổng khoản vay (hình 20) và do đó chúng tôi ghi nhận NIM ít nhất duy trì hoặc tăng nhẹ trong năm 2018.

13

Giai đoạn 1 gia tăng thu nhập ngoài lãi (Non-NII) là gia tăng khoản vay bán lẻ

Nhìn lại năm 2015, đề cập đến thu nhập ngoài lãi (Non-NII) là không đáng kể khi chỉ đóng góp 12% TOI (nhóm Y trong hình 16) trong danh mục theo dõi của chúng tôi. Tuy nhiên, tính đến hết năm 2017 và con số này hiện đang chiếm 18% TOI và đã tăng trưởng lần lượt 42% và 51% năm 2016 và 2017, Chúng tôi cho rằng hiểu đực cơ chế cho Non-NII sẽ là điểm quan trọng trong tương lai. Điều đáng lưu ý là chúng tôi phần lớn không bao gồm thu hồi nợ xấu trong phần non-NII (hoặc sẽ nêu rõ thời điểm chúng tôi ghi nhận các con số này), phần này sẽ được đề cập nhiều hơn trong phần các hoạt động cho vay.

14

Trong khi con số tuyệt đối từ NII trong danh mục theo dõi của chúng tôi đến từ ngân hàng TMCP quốc doanh, có thể nhận thấy trong hình 17 và hình 18 rằng vào cuối năm 2017, giá trị tuyệt đối cho Non-NII trong danh mục theo dõi của chúng tôi giờ đây đang tương đương giữa ngân hàng TMCP quốc doanh và ngân hàng TMCP tư nhân. Điểm đáng chú ý hơn là trong hình 18, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng mạnh mẽ trong các ngân hàng TMCP tư nhân mà chúng tôi theo dõi khi tăng 56% và 79% lần lượt trong các năm 2016 và 2017, không tính thu hồi nợ xấu và phí bancasurrance bất thường. Chúng tôi không tính bancasurrance từ nhóm này do chỉ là khoản mục bất thường và các ngân hàng có cách thức tiếp cận với các hợp đồng bancasurrance khác nhau, và sẽ được đề cập ở một thời điểm khác.

15

Thâm nhập cho vay bán lẻ phần lớn được lý giải trong sự thành công của Non-NII

Chúng tôi cho rằng có danh mục cho vay bán lẻ lớn, như được mô tả trong giai đoạn 1 của tăng trưởng Non-NII, phần lớn đến từ việc có sự hiện diện lớn trong cho vay bán lẻ. Tương ứng, thu nhập phí và dịch vụ trong báo cáo kinh doanh đến từ việc có lượng lớn khách hàng cá nhân. Cột R2 trong hình 19 bao gồm ACB chỉ là 14%, nhưng nếu không tính ACB, con số này sẽ đạt 49%. Ở phần bên dưới, chúng tôi sẽ đánh giá lại ACB và ghi nhận các thay đổi về Non-NII của ngân hàng này những năm gần đây

156

Tăng trưởng cho vay bán lẻ trong phần trăm cho vay toàn hệ thống

Cho vay bán lẻ trong phần trăm tổng cho vay và trái phiếu doanh nghiệp đã tăng trưởng ổn định trong danh mục theo dõi của chúng tôi (hình 20), tuy nhiên, con số này ở các ngân hàng TMCP tư nhân vẫn giữ nguyên ở mức 36%. Chúng tôi ghi nhận trong hình 21 là ngân hàng TMCP quốc doanh đã gia tăng danh mục cho vay bán lẻ nhanh hơn các ngân hàng chúng tôi theo dõi, và trên đà tăng tốc trong năm 2017.

17

VCB và CTG đang vượt trội trong tăng trưởng cho vay bán lẻ.

Thường có quan điểm rằng tăng trưởng cho vay bán lẻ thường đến từ những cái tên như FE Credit và Home Credit. Điểm đáng chú ý là sau khi so sánh dữ liệu, chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù các ngân hàng TMCP quốc doanh đang hoạt động khó khăn, nhưng các ngân hàng này vẫn vượt các công ty tài chính tiêu dùng trong năm 2017 tính theo tăng trưởng YoY trong danh mục cho vay bán lẻ. Những diễn biến này là rất đáng chú ý khi nhìn vào hình 23 và nhận thấy tăng trưởng tuyệt đối cho khoản vay bán lẻ của các ngân hàng này vượt xa 2 công ty tài chính tiêu dùng cộng lại hoặc từng ngân hàng TMCP tư nhân.

18

Dù có diễn biến mạnh mẽ của ngân hàng TMCP quốc doanh, lợi thế người đi tiên phong trong Non-NII vẫn được các ngân hàng TMCP tư nhân củng cố

Nhiều năm hoạt động vững chắc trong mảng cho vay bán lẻ giúp STB và VPB có mảng kinh doanh Non-NII mạnh mẽ, vốn vẫn đang tăng trưởng nhanh chóng. Dù các ngân hàng TMCP quốc doanh đã có diễn biến tốt trong những năm qua trong tăng trưởng cho vay bán lẻ, chúng tôi cho rằng sẽ cần nhiều năm để mang lại tăng trưởng Non-NII nhanh chóng, thể hiện trong hình 25. Do đó, trong vài năm tới, thị trường sẽ tập trung vào các ngân hàng tương tự VPB

19

trong những bước đi vững chắc của Non-NII. Đối vối STB, diễn biến tốt của Non-NII cần được đánh giá lại thận trọng khi chỉ số này chỉ thật sự đảo chiều trong năm 2017 và gánh nặng nợ xấu của STB sẽ ảnh hưởng đến diễn biến tích cực của Non-NII 

Một đối thủ đáng chủ ý vừa nổi lên có vẻ như là ACB, vốn đã có sẵn cơ sở khách hàng cá nhân lớn, nhưng có lẻ như những năm tái cơ cấu trước năm 2016 và tập trung vào xử lý nợ có vấn đề của “nhóm 6 công ty” khiến lãnh đạo bớt chú ý đến Non-NII. Tuy nhiên, từ năm 2016 trở đi, chúng tôi cũng ghi nhận câu chuyện đảo chiều tương tự, và hiện ACB đang đứng đầu nhóm các ngân hàng so sánh tình theo tăng trưởng Non-NII (thậm chí vượt các ngân hàng có hợp đồng bancasurrance độc quyền). Có lẽ quyết định của ACB khi không ký thỏa thuận bancasurrance độc quyền và tập trung vào cải thiện mảng kinh doanh cốt lõi là nguyên nhân cho con số năm 2017.

Giai đoạn 2 của tăng trưởng Non-NII là hoàn thiện mảng kinh doanh Ngân hàng Giao dịch

Không giống như giai đoạn 1, vốn phụ thuộc nhiều cơ sở khách hàng bán lẻ, chúng tôi tin rằng giai đoạn tiếp theo của tăng trưởng Non-NII ổn định sẽ được đẩy mạnh bởi dịch vụ Ngân hàng Giao dịch, mô hình này cần có sự quy mô trong mảng ngân hàng bán buôn và SME và sự hiện diện tại thị trường, cũng như ngân hàng đầu tư. Mô hình Ngân hàng Giao dịch kiểu mẫu của chúng tôi là Standard Chartered, khi trong năm 2017 ghi nhận thu từ hoạt động của mảng Ngân hàng Giao dịch (cao hơn 300 điểm cơ bản trong năm 2016). Chúng tôi trích dẫn từ báo Financial Times:

“Ngân hàng Giao dịch, mô hình kinh doanh ổn định liên quan đến lợi ích của thương mại toàn cầu…đã giúp thúc đẩy tỷ suất sinh lời của Tập đoàn đồng nghĩa với gia tăng mảng kinh doanh có vốn hiệu quả này…Ngân hàng Giao dịch cũng được hưởng lợi từ tính phức tạp của khách hàng, vốn có thể là các tập đoàn đa quốc gia bất chấp quy mô”1

Chúng tôi ước tính rằng các ngân hàng có vận hành tốt Ngân hàng Giao dịch tại Việt Nam chỉ tạo ra mức thu nhập HĐKD khoảng 5% trong mảng kinh doanh này. Với những bước tiến mạnh mẽ mà Việt Nam đã làm được trong việc xây dựng cơ sở sản xuất và gia tăng xuất khẩu (hình 26), chúng tôi ghi nhận tiềm tăng tăng trưởng lờn cho mảng Ngân hàng Giao dịch.

20

Ngân hàng Việt Nam nào có mô hình đúng đắn để thành công trong mảng Ngân hàng Giao dịch?

Trong hình 27, chúng tôi nỗ lực đưa ra cái nhìn tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam. Danh sách này nỗ lực ghi nhận từng điểm sáng của từng ngân hàng trong từng lĩnh vực. Mức xếp loại sẽ vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng chúng tôi đang nỗ lực đánh giá các ngân hàng dựa trên những thế mạnh riêng. Chúng tôi cho rằng các ngân hàng có các mảng kinh doanh bán buôn/bán lẻ và cá nhân/SME có cơ hội đáng kể để thành công trong Ngân hàng Giao dịch, tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho rằng cơ hội lớn cho thành công là có sự hiện diện trong mảng bán buôn, bán lẻ, SME, thị trường và ngân hàng đầu tư.

21

Một ứng viên mới cho mức định giá P/B hấp dẫn

Kể từ đầu năm 2015, các NĐT đã có một cái nhìn riêng về VCB về định giá hệ số là một phần thưởng cho các phẩm chất của bảng cân đối kế toán và ghi nhận những lợi thế về cơ cấu liên quan đến VCB. VPB bắt đầu niêm yết trên thị trường năm 2017 với các chỉ số hấp dẫn những vẫn có những rủi ro tỷ trọng khác liên quan đến cho vay có bảo đảm. Chúng tôi cho rằng TCB có vị thế tốt không chỉ bởi những hệ số mà còn hưởng lợi cơ cấu riêng biệt, cũng như có vị thế tốt để tiếp tục gia tăng Non-NII trong giai đoạn Ngân hàng Giao dịch mới

22

25

26

Nghị định 42 – bước ngoặt đang trên đường thực hiện

Ước tính chi phí tín dụng là môt bài toán phức tạp khi khó có thể kết hợp thu hồi nợ xấu với quá trình xóa nợ trong thời gian trước. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chi phí tín dụng của Việt Nam, trong chu kỳ tín dụng là khoảng 150 điểm cơ bản. Mức này tương ứng với mức thu hồi nợ xấu khoảng 30%, tương đương với tỷ lệ thu hồi nợ của Ấn Độ là 25% trước khi bước vào giai đoạn phá sản năm 2016. Cả hai con số này tương phản với sự tỷ lệ thu hồi nợ ở các quốc gia có thu nhập cao là 77%, theo Ngân hàng Thế giới1 .

27

Nghị quyết 42/2017/QH14, được thông qua vào thàng 8/2017, tiếp cận phương thức thu hồi tài sản đảm bảo (TSĐB) khác biệt với tái cơ cấu bán buôn tại giai đoạn phá sản ở Ấn Độ năm 2016. Hình 33 và hình 34 cho thấy luật phá sản định chế ngân hàng tại Việt Nam trong năm 2014 không ảnh hưởng bởi NĐ 42. Thay vào đó, NĐ 42 giúp các ngân hàng có thêm lựa chọn ngoài việc đưa ra tòa xử lý các khách hàng cho vay không hợp tác.

Cụ thể, NĐ 42 trao lại quyền cho các ngân hàng quyền thu hồi TSĐB khi khách hàng vay không trả được nợ. NĐ 42 đặt ra 5 điều kiện trước khi ngân hàng có thể thực hiện quyền thu hồi TSĐB. Một điều kiện khá khó để đáp ứng là hợp đồng vay vốn phải quy định rõ quyền thu hồi TSĐB trong trường hợp vỡ nợ thay vì thường được quy định chung trong các hợp đồng cho vay thông thường “quyền của ngân hàng”.

Đây là một trở ngại chính. Một trong những điều kiện khác trong NĐ 42 là ngân hàng phải đăng ký vay thế chấp tại cơ quan thẩm quyền có liên quan, một hoạt động không phổ biến cho đến thời điểm hiện tại. Do đó chìa khóa để cải thiện vấn đề nợ xấu tồn đọng là đề nghị cơ quan lập pháp sửa đổi NĐ 42 nhằm loại bỏ 2 điều kiện ở trên.

28

29

Tái cấp vốn

Tỷ lệ đòn bẩy trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là khá cao so với các thị trường cận biên (FM) và mới nổi (EM) và có bước tiến dài trong việc giúp củng cố xếp hạng nhà nước ở mức BB-. Vấn đề đòn bẩy không phải là vấn đề đáng lo ngại khi Chính phủ có nhiều quyền kiểm soát trong hệ thống ngân hàng thông qua sở hữu ngân hàng TMCP quốc doanh cũng giống như tại Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều năm tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và các vấn đề thiếu vốn huy động trước năm 2017 làm cạn kiệt vốn cổ phần. Một lượng lớn vốn cần thiết lập tập trung tại ngân hàng TMCP quốc doanh với tổng vốn bổ sung cần khoảng 4,5 tỷ USD, chiếm khoảng 82% tổng nhu cầu vốn của các ngân hàng theo dõi của chúng tôi.

30

Vốn hóa thấp vẫn còn hiện diện

Mức vốn hóa là khá thấp và mục tăng trưởng cho vay lớn của Chính phủ khiến hệ thống ngân hàng trong một số trường hợp chưa đạt Basel II, dù thời gian áp dụng chính thức tuân thủ vào năm 2020. Phần lớn vấn đề nằm ở các ngân hàng có vốn của Chính phủ. Những tin đồn gần đây cho thấy, sau gần một nửa thập kỷ tìm kiếm, BID đang tiến gần tới môt thỏa thuận đầu tư chiến lược với một tổ chức tài chính Hàn Quốc. Chúng tôi tin rằng nghị quyết nợ xấu trong ngân hàng TMCP quốc doanh đang dịch chuyển nhanh hơn các ngân hàng TMCP tư nhân là một động lực khuyến khích các NĐT nước ngoài, khi diễn biến bất ngờ trong gia tăng mảng cho vay bán lẻ như được đề cập trong báo cáo này

31

Chúng tôi ước tính các ngân hàng trong danh mục theo dõi của chúng tôi cần ít nhất 124 nghìn tỷ đồng vốn bổ sung nhằm tuần thủ Basel II vào năm 2020. Ước tính vấn đề này, chúng tôi có ước tính thận trọng hơn từ IMF khi cho rằng tỷ lệ CAR sẽ là thấp hơn 200-400 điểm cơ bản nếu tính theo Basel II. Chúng tôi cũng giả định các ngân hàng sẽ trì hoãn tăng vốn cho đến năm 2019, trước khi áp dụng vào năm 2020. Ước tính thận trọng của chúng tôi về mức tái cấp vốn tối thiểu tương ứng với 26% giá trị vốn ở các ngân hàng này.

  Tái cấp vốn từ NĐT chiến lược nước ngoài

Trong khi chúng tôi ghi nhận khả năng thấp các ngân hàng toàn cầu gia nhập thị trường Việt Nam, các định chế tài chính từ Hàn Quốc và Nhật Bản cũng như các quỹ đầu tư quốc gia là những NĐT tiềm năng. Tuy nhiên, mức nới trần sở hữu nước ngoài đáng kể có thể thúc đẩy các NĐT nước ngoài trở thành NĐT chiến lược. Có những tin đồn NĐT chiến lược mua cổ phần tại VCB, CTG và BID, mức giá để được Chính phủ phê duyệt dường như vẫn đang là trở ngại lớn

Tái cấp vốn từ các NĐT tài chính nước ngoài

Trong khi đó, các NĐT tài chính nước ngoài có những mối quan tâm riêng khi các NĐT này thường không muốn tạo ra quá nhiều ảnh hưởng trong HĐQT. Trong bối cảnh các ngân hàng có chất lượng cao thường kín trần khối ngoại, và các NĐT nước ngoài thường giao dịch với giá cao hơn thị giá, chúng tôi tin rằng có lượng nhu cầu lớn từ NĐT nếu được nới room nước ngoài. Trong bối cảnh nếu có sự nới trần FOL từ 30% lên 40% hoặc 49%, chúng tôi kỳ vọng giá cổ phiếu trong nước sẽ giao dịch tương ứng với mức giá giao dịch của các NĐT nước ngoài.

1

Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR)

Trong báo cáo quốc gia số 17/191, IMF cho biết việc thực hiện Basel II đối với các ngân hàng Việt Nam sẽ khiến CAR giảm 2%-4%. Mức giảm của các ngân hàng sẽ có sự chênh lệch đáng kể vì cơ cấu tài sản khác nhau. Việc giảm yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 9% xuống 8% sẽ bù đắp cho cách tính RWA khắt khe hơn so với trước đây.

Chúng tôi thận trọng giả định CAR các ngân hàng giảm 400 điểm cơ bản một khi RWA được tính lại theo Basel 2 và dự báo các ngân hàng chúng tôi theo dõi sẽ cần thêm ít nhất 5,7 tỷ USD vốn. Nếu tăng trưởng tín dụng mạnh hơn so với dự báo của chúng tôi, các tỷ lệ cấp vốn sẽ bị ảnh hưởng và do đó đòi hỏi huy động vốn mạnh hơn nữa trong năm 2019 và ngược lại.

2

Tiếp cận cổ phiếu ngân hàng

Với những hạn chế hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài không khỏi gặp khó khăn khi tìm cách tiếp cận các cổ phiếu ngân hàng Việt Nam. Ngành ngân hàng có mức trần sở hữu tối đa cho khối ngoại 30%, thấp hơn so với thị trường chung, trong khi mỗi nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được nắm giữ cổ phần quá 20%. Hiện chỉ BID, STB và VCB chưa chạm mức trần sở hữu tối đa cho khối ngoại, trong khi tại các ngân hàng khác, cổ phần của khối ngoại đã chạm ngưỡng này khá lâu. Muốn mua cổ phiếu của các ngân hàng trên, nhà đầu tư nước ngoài cần phải tìm được các lô cổ phiếu ngoài sàn giao dịch chứng khoán, thường với giá cao hơn khoảng 7%-20% hoặc thậm chí cao hơn nữa

Một số nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tìm cách rút lui trong khi các nhà đầu tư tài chính đang chờ đợi cơ hội

Một số ngân hàng nước ngoài gần đây đã chấm dứt nắm cổ phần chiến lược tại các ngân hàng Việt Nam (Hình 7) vì tình trạng sở hữu chéo với các doanh nghiệp “có thương hiệu riêng” tại Việt Nam và công ty mẹ lại bị hạn chế về vốn. Trong khi các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài rút lui thì các nhà đầu tư tài chính nước ngoài lại có nhu cầu rất mạnh.

3

Khuyến nghị

Nhóm ngân hàng chiếm tỷ trọng 24% trong chỉ số VNI và giao dịch trong biên độ khá hẹp so với chỉ số gần như cả năm. Chúng tôi nhận thấy cổ phiếu ngân hàng diễn biến khả quan hơn vì thị trường phản ánh kết quả lợi nhuận tích cực và kỳ vọng khối ngoại sẽ đầu tư mạnh hơn vào ngành này. Trong 12 tháng qua, chỉ số ngân hàng của chúng tôi (trung bình 7 cổ phiếu ngân hàng chúng tôi theo dõi, có trọng số theo giá trị vốn hóa) có tỷ lệ tăng giá 106,42% trong khi của chỉ số VNI chỉ là 57,79%. Từ đầu năm đến nay, chỉ số ngân hàng đã tăng 46,58% trong khi chỉ số VNI chỉ tăng 13,95%.

5

6

Môi giới chứng khoán 

vcsc

hotline