Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Giữ vững vị thế dẫn đầu ngành ngân hàng - Cập nhật Ngành Ngân hàng ( Phần 1 )

Được đăng vào

Giữ vững vị thế dẫn đầu ngành ngân hàng - Cập nhật Ngành Ngân hàng ( Phần 1 )

Báo cáo cập nhật ngành ngân hàng thứ hai của chúng tôi không chú trọng nhiều vào các tỷ lệ và chi tiết báo cáo tài chính, thay vào đó áp dụng cái nhìn tổng quan để tập trung vào 5 chủ đề chính mà chúng tôi cho rằng là quan trọng nhất trong việc định hướng ngành ngân hàng trong những năm tới: Dự thảo Thông tư về việc áp dụng Basel II tại Việt Nam, phân tích thị trường liên ngân hàng Việt Nam, theo dõi diễn biến của việc cho vay BĐS, thử nghiệm hệ thống công nghệ thông tin (IT) của ngân hàng và ước tính của Chúng tôi  về tỷ lệ ROE chuẩn hóa. 

Tương tự báo cáo cập nhật ngành lần trước, điểm sáng vẫn là VCB. Cả 5 chủ đề chính trong báo cáo này không nhằm nêu bật VCB. Chúng tôi thậm chí còn đánh giá CTG cao hơn VCB về mặt IT. Tuy nhiên, VCB vẫn tiếp tục là ngân hàng đi đầu trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thiết lập vai trò dẫn đầu trong việc thu hút tiền gửi USD và thanh toán liên ngân hàng, hoạt động cho vay BĐS thận trọng hơn, xếp thứ hai về hệ thống IT, cũng như cho thấy đặc điểm thuộc tốp đầu ngành khi chúng tôi tính toán tỷ lệ ROE chuẩn hóa.

Áp dụng tiêu chuẩn định giá chung cho tất cả ngân hàng khiến chúng tôi phải đánh giá về điểm mạnh trên theo những yếu tố dẫn dắt định giá tiêu chuẩn. 3 ngân hàng VCB, CTG và ACB được chúng tôi ghi nhận mức tăng trưởng 4% trong năm cuối cùng của mô hình định giá do yếu tố chính là khả năng tiếp cận thị trường vốn của các ngân hàng này. Một thực tế kém tích cực hơn là những ngân hàng có thể tăng vốn thành công sẽ có lợi thế lớn so với những ngân hàng khác. Khi đề cập những yếu tố dẫn dắt định giá khác, chúng tôi đánh giá cao VCB và khả năng duy trì vị thế đầu ngành tính về chi phí huy động vốn và tỷ lệ CIR, cũng như khả năng tăng trưởng thu nhập ngoài lãi vay. Thông qua 60 trang của báo cáo này, chúng tôi có thể giải thích được định giá của VCB.

Tuy nhiên, báo cáo cập nhật ngành ngân hàng này không chỉ mang tính chất lý thuyết và chúng tôi nhận thấy giá trị lớn nhất đến từ ba ngân hàng mà khả năng tiếp cận thị trường vốn của những ngân hàng này tốt nhất và nổi bật là tiềm năng tăng giá của ACB. Các khó khăn về tỷ lệ chi phí/doanh thu (CIR) trước đó đã giảm đáng kể trong 9 tháng đầu năm 2015 (nếu không tính đến chi phí dự phòng), ACB là một trong hai ngân hàng có khả năng tạo thu nhập ngoài lãi tốt và ngay cả sau khi phản ánh vào mô hình định giá các khoản giảm trừ liên quan đến “6 không ty”, chúng tôi vẫn tính được tỷ lệ tăng khoảng 29%. Cuối cùng, trong khi việc tiếp cận thị trường vốn là một điểm cộng dành cho ACB, thì điều này không cần thiết đối với ACB trong ngắn hạn, với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cao xét theo cả Thông tư 36 và Basel II. Chúng tôi đánh giá cao 3 ngân hàng đề cập ở trên vì có chi phí tín dụng tương đối thấp trong chu kỳ trước.

Những lựa chọn này trên thực tế không phù hợp với nhà đầu tư nước ngoài. Đối với trần sở hữu tối đa cho khối ngoại (FOL), chúng tôi cho rằng ngưỡng 30% sẽ nới dần trong một hoặc hai năm tới. Trong khi đó, chúng tôi cho rằng nhà đầu tư nên tích lũy VCB khi giá thấp (sự thận trọng sẽ giảm bớt khi đợt huy động vốn vào Quý 1/2016 được hoàn tất), và nên nắm giữ CTG.

Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn Basel II thông qua Dự thảo Thông tư hướng dẫn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài

[đề cập đến ngành ngân hàng trên thế giới đang gọi là “Basel IV”, một tiêu chuẩn quy định mới một bậc cao hơn so với quy định Basel III về vốn sẽ có hiệu lực tại các thị trường phát triển vào năm 2019] “Ủy ban Basel… đang tiếp tục nghiên cứu về một gói giải pháp khác hướng đến việc phòng tránh việc bên cho vay thao túng hệ thống khi sử dụng mô hình tính toán tài sản có rủi ro riêng của mình. Ban đầu ủy ban này mong muốn các ngân hàng cải thiện khả năng đánh giá rủi ro các khoản vay có nguy cơ chuyển thành nợ xấu khi tính toán lượng vốn cần thiết. Mục đích là nhằm loại bỏ đánh giá từ tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập, vốn bị chỉ trích do những mâu thuẫn về lợi ích và việc đánh giá quá hào phóng đối với các sản phẩm và doanh nghiệp. Các ngân hàng tại Mỹ đã bị hạn chế nhiều về khả năng phụ thuộc vào các tổ chức xếp hạng tín dụng dưới một loạt các quy định cải cách của Dodd Frank” Caroline Binham, Financial Times, 11/12/2015

Mặc dù một vài ngân hàng cho biết họ đang nỗ lực để đáp ứng thời hạn vào tháng 2/2016, về việc thực hiện Basel II tại Việt Nam theo hướng dẫn của Thông tư dự thảo về tỷ lệ CAR của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư Dự thảo -TTDT), chúng tôi cho rằng việc áp dụng điều này đối với một số “ngân hàng lớn” là không công bằng và không khả thi trong bối cảnh dường như BID sẽ khó có thể lựa chọn nhà đầu tư chiến lược trong thời gian ngắn. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là Thông tư Dự thảo vẫn còn khá mơ hồ về một số định nghĩa quan trọng của Basel II, theo như định nghĩa của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế:

  a) Trong khi hiệp ước Basel II đặt ra tỷ lệ vốn tối thiểu đối với vốn cấp 1 là 4%, Thông tư Dự thảo chưa đề cập đến tỷ lệ tối thiểu này, chỉ cho biết vốn yêu cầu tối thiểu bằng 8% tổng vốn cấp 1 và cấp 2. Theo quan điểm của chúng tôi, lối suy nghĩ các ngân hàng có tỷ lệ CAR theo Basel I thấp có thể đạt ngưỡng của Basell II bằng cách gia tăng tỷ lệ vốn cấp 2 là hiểu sai ý đồ của NHNN, vì cơ quan này hiểu rất rõ bản chất của việc huy động vốn bằng nợ thứ cấp tại Việt Nam (ở thời điểm hiện tại), cũng như sự nghiêm khắc của SBV khi thực thi các quy định, thể hiện qua việc thực hiện một số khía cạnh của TT 36/2014 trong năm 2015. Quay lại về ví dụ của BID, ngân hàng này đang gần chạm mức trần của nợ thứ cấp đươc tính cho vốn cấp II, do đó BID không còn nhiều lựa chọn khả thi ngoài việc hoàn thành phát hành vốn cho nhà đầu tư chiến lược.

Một điều khác với thực trạng hoạt động hiện tại của ngân hàng Việt Nam là việc Thông tư Dự thảo không bao gồm tài sản thế chấp BĐS trong tổng giá trị tài sản thế chấp được sử dụng để giảm thiểu rủi ro tín dụng
 

Các tác động chính của Basel II

Basel II đánh giá rủi ro của các ngân hàng chính xác hơn cơ chế của TT36/2014 dựa trên cả mục đích khoản vay và bản chất của người vay nợ. Thông tư Dự thảo bám sát Basel II về khía cạnh này, trong khi tài sản có rủi ro theo quy định hiện hành (TT36/2014) tập trung nhiều hơn vào mục đích khoản vay. Áp dụng Basel II sẽ mang lại nhiều thay đổi lớn trong việc đánh giá rủi ro mà chúng tôi cho là tích cực đối với việc quản trị rủi ro và tính minh bạch của hệ thống nói chung. Một vài thay đổi chính của phương pháp xác định tài sản có rủi ro so với TT36/2014 như sau:

1

Theo quan điểm của chúng tôi, với việc áp dụng Basel II, tài sản có rủi ro sẽ trở thành chỉ báo chính xác hơn về mức rủi ro của các ngân hàng, vì xác định tài sản có rủi ro dựa trên bản chất khoản vay và bản chất người đi vay. Tính khách quan được kỳ vọng sẽ gia tăng trong việc đánh giá khoản cho vay và khoản phải đòi từ Chính phủ, Ngân hàng Trung ương các nước khác và các tổ chức tín dụng khác do TT Dự thảo yêu cầu sử dụng đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập trong những trường hợp này

Theo TT Dự thảo, tỷ trọng rủi ro sẽ khá cao đối với các DN vừa và nhỏ (SME). Nhìn chung, công ty với doanh thu thấp/ tỷ lệ đòn bẩy cao có tỷ trọng rủi ro cao hơn. Đặc biệt, công ty không có báo cáo tài chính hoặc thành lập dưới 1 năm có tỷ trọng rủi ro khá cao, lần lượt là 250% và 200%. Do đó, các ngân hàng tập trung vào SME sẽ bị ảnh hưởng bởi các đánh giá tỷ trọng rủi ro mới này 

Thông tư Dự thảo đã nới lỏng tỷ trọng rủi ro với nợ xấu (NPL) bằng cách tính đến số lượng dự phòng cụ thể đã trích lập thay vì áp dụng tỷ trọng rủi ro 100% đối với tất cả các khoản NPL. Các Ngân hàng Quốc doanh sẽ hưởng lợi từ thay đổi này nhiều hơn so với các Ngân hàng nhỏ và vừa, do các ngân hàng ngân hàng Quốc doanh có tỷ lệ dự phòng mất vốn lớn hơn.

CAR sẽ giảm khi Basel II có hiệu lực

Áp dụng Basel II sẽ ảnh hướng lớn đến mức CAR trong ngành ngân hàng khi Basel II không chỉ đánh giá về rủi ro tín dụng mà còn đánh giá rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường khi tính toán lượng vốn cần thiết. CAR được tính dựa theo công thức sau:

2

Theo quy định hiện hành, vốn an toàn tối thiểu chỉ được yêu cầu cho các tài sản có rủi ro tín dụng, thậm chí theo cơ chế này, chúng tôi nhận thấy có 2 ngân hàng là BID và STB có mức bảo vệ khá thấp. Dự kiến áp dụng Basel II vào đầu năm sau chắc chắn sẽ tác động đến 2 ngân hàng này, thậm chí cả những ngân hàng khác có CAR cao hơn, do bao gồm cả rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường để tính vốn tối thiểu. Theo VCB, ngân hàng này tính toán CAR cho Basel II theo hướng dẫn của Thông tư Dự thảo và có mức CAR mới 7,5% (so với con số 11,4% khi tính theo TT36/2014 ở thời điểm quý 3/2015). Do đó, CAR theo Basel II của VCB và CTG có khả năng thấp hơn mức tối thiểu 8%. Các ngân hàng có CAR cao theo TT36/2014 như MBB, ACB và EIB cũng sẽ có mức CAR sụt giảm, nhưng khả năng lớn sẽ vượt được ngưỡng tối thiểu theo Basel II.

Ước tính tỷ lệ CAR mới theo Basel II

Với mục đích có cái nhìn rõ hơn về tác động của Basel II, chúng tôi lập mô hình ước tính CAR theo hướng dẫn của Thông tư Dự thảo và các thông tin công bố đại chúng. Do chúng tôi không có đầy đủ thông tin về tỷ lệ tài chính yêu cầu trong Thông tư Dự Thảo, cần nhấn mạnh rằng con số trong bảng bên dưới là CAR có thể ở trong khoảng mức độ đó chứ không phải số chính xác. Tuy nhiên, cách tính toán các số liệu này là đồng nhất.

3

Quan điểm của chúng tôi về việc liệu Basel II có ảnh hưởng như thế nào trong nhữHOLD ng năm tới là một số ngân hàng với khả năng tiếp cận vốn tốt hơn sẽ có lợi thế hơn, minh chứng bằng cách mà quá trình tăng vốn gần đây của MBB và BID diễn ra. Theo quan điểm của mình, chúng tôi cho rằng chỉ có vài ngân hàng có khả năng thực hiện quá trình tăng vốn từ các nhà đầu tư tổ chức, và có 3 cái tên đáng kể là VCB, CTG và ACB. Do đó, chúng tôi không đánh giá cao về triển vọng của STB, BID và MBB sẽ tiếp tục quá trình tìm kiếm kéo dài của họ (dù thực tế không khẩn cấp ở MBB), cũng như EIB sẽ chỉ xem xét quá trình tăng vốn khi ngân hàng này dừng việc giảm cho vay.

Hình 3 cho thấy cơ cấu của RWA, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường trong mô hình ước tính CAR theo Basel II đối với các ngân hàng trong danh mục theo dõi.

4

5

Các hoạt động liên ngân hàng tại VCB, VCB Money và khả năng thu hút tiền gửi USD là những yếu tố bổ trợ lẫn nhau:

Ghi chú: Các hoạt động cho vay liên ngân hàng về bản chất chủ yếu là kỳ hạn ngắn, do đó việc lấy số liệu tại thời điểm cuối mỗi năm để phân tích tồn tại một số vấn đề nhất định

TT 21/2012 là một công cụ trong một chuỗi các công cụ của NHNN nhắm vào các ngân hàng yếu kém: TT21/2012 (có hiệu lực tháng 9/2012) được đưa ra nhằm kiểm soát các hoạt động liên ngân hàng từ thời điểm bùng nổ các hoạt động này trong năm 2011 (xem Hình 5), trùng hợp với làn sóng sáp nhập ngân hàng đầu tiên bắt đầu năm 20101 . Do TT21 quá hạn chế, ba tháng sau TT 02/2013 (có hiệu lực tháng 1/2013) cho phép gửi/nhận tiền gửi liên ngân hàng trở lại.

Từ sau năm 2012, quan điểm về hoạt động liên ngân hàng thay đổi rằng đây là một bộ phận quan trọng trong quản lý bảng cân đối kế toán thay vì là trung tâm lợi nhuận: do đó các ngân hàng có bản cân đối kế toán lớn như CTG, BID & VCB sẽ có khoản mục liên ngân hàng lớn, dù Hình 4 cho thấy mức tăng mạnh tài sản liên ngân hàng so với tổng tài sản sinh lãi trong 9 tháng đầu năm của VCB phản ánh sự quan trọng của hoạt động này đối với mô hình kinh doanh hiện tại của VCB. Khoản mục cho vay liên ngân hàng tương đối lớn của EIB vào năm 2014 phản ánh các khoản vay lớn của ngân hàng này trong thị trường liên ngân hàng, ngân hàng này đang trong quá trình giảm bớt hoạt động liên ngân hàng và con số vào quý 3/2015 đã kiểm chứng điều này.

6

Giảm nhu cầu đối với hoạt động cho vay liên ngân hàng bằng VND sau đỉnh điểm 2011: tổng số cho vay liên ngân hàng bằng VND giai đoạn 2012-2014 dao động ở mức khá ổn định. Có thể thấy là BID và CTG có lượng cho vay bằng VND lớn và ổn định trong giai đoạn 2010-2014, với CTG là lớn nhất 

7

BID và CTG ngày càng gia tăng phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng để huy động ngoại tệ, trong khi VCB ngày càng độc lập khỏi thị trường liên ngân hàng để huy động ngoại tệ: Hình 5 cho thấy lợi thế và khả năng ngày càng gia tăng của VCB để huy động ngoại tệ từ tiền gửi của khách hàng, so với 6 ngân hàng còn lại trong danh mục theo dõi của chúng tôi. 

8

Thế mạnh trong việc huy động ngoại tệ đã mang lại cho VCB 2 lợi thế đặc biệt: khả năng huy động ngoại tệ, cụ thể là USD cho phép VCB:

1) Đầu tư vào các chứng khoán USD dài hạn: Niềm tin vào khả năng duy trì vốn huy động bằng USD ổn định giúp VCB có sự tự tin tham gia đầu tư vào trái phiếu Chính phủ bằng USD với quy mô và kỳ hạn dài (cụ thể vào quý 2/2015 đã mua trái phiếu Chính phủ bằng USD kỳ hạn 10 năm với giá trị 1 tỷ USD).

a. Đợt mua trái phiếu được nhắc đến ở trên (chúng tôi gọi là Phân ngạch – Tranche 1) đã nâng tỷ lệ NIM vào thời điểm này (NIM của giao dịch này đạt 4%) và càng gia tăng thêm ở thời điểm hiện tại khi trần lãi suất huy động USD của cá nhân giảm còn 0,25%, có hiệu lực từ 28/09/2015 (0% đối với tiền gửi của doanh nghiệp). Do khả năng duy trì nguồn USD của VCB mà Bộ Tài chính đã tổ chức đợt giao dịch thứ hai (Tranche 2), mặc dù giao dịch này được cơ cấu như là một khoản vay thay vì trái phiếu, cũng như kỳ hạn chưa rõ rang

2) Gia tăng hoạt động ngoại tệ liên ngân hàng (thu nhập lãi vay) đơn giản là một lợi ích phát sinh từ vai trò chủ chốt của VCB trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng (thu nhập từ phí), cũng như khả năng thu hút tiền gửi USD, cả ba lĩnh vực này đều tự bổ trợ lẫn nhau: Hình 7 cho thấy vị thế riêng biệt của VCB trong hệ thống thanh toán liên ngân hàng của Việt Nam, và cách thức những lợi thế này củng cố thế mạnh thu hút tiền gửi USD và hoạt động cho vay ngoại tệ liên ngân hàng.

9

Tác động:

1. Cơ chế hoạt động mới chưa từng có trước đây: Thế mạnh trong việc thu hút tiền gửi USD của VCB chỉ thực sự tăng trưởng về quy mô từ năm 2013 và hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu cạnh tranh ở vị thế này. Hoạt động cho vay liên ngân hàng là một phần quan trọng của hệ thống ngân hàng và có khả năng bảo đảm tốt cho vị thế chủ chốt lâu dài của VCB trong thanh toán liên ngân hàng trong tương lai. VCB đang kiểm soát một vị thế dẫn dắt quan trọng trong hệ thống ngân hàng.

2. Cơ hội đầu tư vào trái phiếu Chính phủ bằng USD dài hạn có lợi hơn so với trái phiếu bằng VND tương ứng: a. Trong bối cảnh khó khăn khi phải xây dựng kênh huy động USD quy mô lớn; và b. Trong bối cảnh chính sách của NHNN là giảm bớt găm giữ USD của các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, do đó chi phí huy động tiền gửi USD sẽ rất rẻ bảo đảm cho vị trí dẫn dầu của VCB trong lĩnh vực này và đầu tư trái phiếu sẽ làm tăng NIM đáng kể (cho đến khi Chính Phủ vẫn tiếp tục trả lợi suất thương mại đối với những công cụ này)

3. Tác động định giá: giảm 0,5% so với phần bù rủi ro vốn cổ phần tiêu chuẩn 6%.

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

 

hotline