Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Giữ vững vị thế dẫn đầu ngành ngân hàng - Cập nhật Ngành Ngân hàng ( Phần 2 )

Được đăng vào

Giữ vững vị thế dẫn đầu ngành ngân hàng - Cập nhật Ngành Ngân hàng ( Phần 2 ) 

Theo dõi hoạt động cho vay BĐS:

Thông tin của các ngân hàng về tín dụng theo ngành không được công bố theo cách thức để dễ dàng đánh giá rủi ro BĐS: vay thế chấp thường có rủi ro thấp hơn so với cho vay đối với các chủ đầu tư BĐS, tuy nhiên theo cách các ngân hàng phân loại khoản vay trong lĩnh vực này, vay thế chấp vẫn được xếp loại chung với hoạt động cho vay không có BĐS đảm bảo

Mặc dù bị hạn chế để đưa ra nhận xét từ diễn biến của cho vay BĐS và từ việc ưu tiên hoạt động cho vay “BĐS” so với cho vay “xây dựng”: chúng tôi cho rằng vay thế chấp thuộc nhóm mà các ngân hàng phân loại là mảng “BĐS”. Phương thức tiếp cận của chúng tôi đến mảng xây dựng rộng hơn việc đơn thuần đánh giá cho vay xây dựng có độ rủi ro cao hơn, và chúng tôi đã xác định được một vài chủ đầu tư thuộc nhóm 1 do đó có quan điểm lạc quan hơn về tăng trưởng của lĩnh vực này.

Ghi chú: phân tích của chúng tôi bị ảnh hưởng bởi với phương thức xếp loại khác nhau mà các ngân hàng sử dụng, và ở mức độ ít hơn là phương thức xếp loại khác nhau giữa các thời kì của cùng một ngân hàng, cũng như các ngân hàng thường không công bố thông tin về các khách hàng vay vốn của mình, do đó chúng tôi phải đi ngược lại từ báo cáo tài chính của các công ty BĐS niêm yết. NĐT cần lưu ý đến điều đó trong 2 lĩnh vực mà chúng tôi sử dụng:

 Cho vay xây dựng – có thể bao gồm với các khoản cho vay đối với các chủ đầu tư BĐS

Ngoài những điều trên, cần lưu ý thêm rằng tất cả các ngân hàng được khảo sát đều đang tăng trưởng dư nợ của mình: 1. Cho vay trong lĩnh vực BĐS rõ ràng đang tăng trưởng với con số tuyệt đối và cũng tăng tỷ trọng so với tổng dư nợ ở các ngân hàng được khảo sát. 2. Mặc dù thông tin cho vay BĐS không được công bố đồng nhất, mức độ cho vay “xây dựng” và “BĐS” của BID cho thấy có thể coi đây là ngân hàng hoạt động mạnh nhất trong lĩnh vực cho vay BĐS với dự nợ BĐS chiếm 22,9% trong tổng dư nợ năm 2014.

    a. NB – phân tích của chúng tôi không có dữ liệu từ báo cáo soát xét của Novaland, một chủ đầu tư BĐS quy mô lớn và cao cấp ở Việt Nam.

   b. STB bị tác động bởi thương vụ M&A trong nửa cuối năm 2015 với Ngân hàng Phương Nam (PNB), dư nợ của PNB chiếm 20% của tổng dư nợ của ngân hàng sau sáp nhập. Có những thông tin cho rằng dư nợ của PNB chiếm phần lớn là các khoản vay BĐS. Cho vay BĐS – được công bố không đồng nhất và có thể bao gồm các khoản vay thế chấp

3. VCB, theo sát sau là CTG, có danh mục cho vay các công ty BĐS niêm yết lớn nhất. BID có danh mục cho vay đối với các công ty BĐS niêm yết nhỏ nhất.

14

2

3

4

5

6

Tác động: 1. Các ngân hàng có mức cho vay BĐS nhiều hơn một độ lệch chuẩn so với trọng số trung bình cho vay BĐS 16,4% sẽ được tăng hoặc giảm bớt giá trị định giá: Việc sử dụng một độ lệch chuẩn có mục đích bù đắp cho thực tế là chúng tôi không thể ước tính phân khúc cho vay thế chấp của từng ngân hàng một cách chính xác, tuy nhiên một yếu tố giúp ích cho dự báo của chúng tôi là phân khúc cho vay “xây dựng” tại phần lớn ngân hàng thường lớn hơn phân khúc “BĐS”.

   a. BID bị cộng thêm 0,5% vào phần bù rủi ro vốn cổ phần tiêu chuẩn vì cho vay BĐS vào cuối năm 2014 là 22,9%, cao hơn mức 21,7% (một độ lệch chuẩn cao hơn 16,4%) và một giả định an toàn là số liệu này tăng trong năm 2015 do sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành BĐS; và

   b. ACB và EIB được giảm 0,5% từ phần bủ rủi ro vốn cổ phần tiêu chuẩn vì cho vay BĐS của 2 ngân hàng nay đạt tương ứng 5,6% và 7,5% trong năm 2014 và nửa đầu năm 2015 (một độ lệch chuẩn thấp hơn 16,4% là 11,1%)

2. Cả VCB và CTG đều có tỷ trọng cho vay đối với chủ đầu tư BĐS nhóm 1 lớn nhất trong phân khúc cho vay xây dựng: mặc dù chúng tôi không điều chỉnh định giá, nhà đầu tư vẫn nên xem xét yếu tố này khi nghiên cứu VCB và CTG.

Đánh giá chung về nền tảng Công nghệ Thông tin (IT) của các ngân hàng:

“Ngành [ngân hàng toàn cầu] giờ đây đang bị buộc phải đối mặt với hậu quả của việc lãng phí cả một thập kỷ IT. Thách thức này có thể đã không xuất hiện, thay vì giờ đây lại xuất hiện ở thời điểm tồi tệ nhất của các định chế cho vay truyền thống. Trong lịch sử, các ngân hàng thường an tâm rằng – kể cả khi họ chào bán những sản phẩm nghèo nàn và dịch vụ kém, bao gồm cả công nghệ - các ngân hàng có thể trông chờ vào thói quen các khách hàng ít thay đổi sang ngân hàng khác để giúp đỡ họ…Nhưng thời thế đã thay đổi. Công nghệ yếu kém khiến các ngân hàng dễ tổn thương theo cả cách thức cũ và mới. Dễ dàng tổn thương khi bị lỗi hệ thống. Dễ dàng tổn thương với những đợt tấn công mạng phối hợp, mà đã được chứng kiến…gần đây. Và có lẽ, lần đầu tiên các ngân hàng chịu rủi ro của việc thua lỗ kinh doanh” Simon Samuels, Financial Times, 25/10/2015.

Không thể chối cãi rằng đổi mới nền tảng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng là quá trình tốn kém và kéo dài, nhưng nó lại là một yếu tố thiết yếu để hỗ trợ cho sự tăng trưởng của các ngân hàng. Lợi ích của việc thay đổi toàn bộ trên diện rộng hay các nâng cấp từng phần sẽ được phân tích thêm trong phần này, nhưng Việt Nam cũng đối mặt với những năm “lãng phí” IT từ năm 2008 trở về sau. Hình 15 minh họa các lợi ích chính của một hệ thống ngân hàng lõi (core banking) hiện đại.

7

Một điểm tích cực là tất cả các ngân hàng trong danh mục theo dõi của chúng tôi đều đã sử dụng hệ thống core banking. Trong đó, 4/7 ngân hàng đang trong quá trình thay thế hoặc nâng cấp hệ thống core banking của mình, và 2 ngân hàng khác đã hoàn tất nâng cấp hệ thống core banking. Hình 516 liệt kê các hệ thống core banking mà các ngân hàng trong danh mục theo dõi của chúng tôi đang sử dụng.

8

“Nhưng vấn đề của việc có một hệ thống chuyên biệt độc quyền là các hệ thống này thường có xu hướng kém linh hoạt và khó tương thích, một phần là do chỉ có một nhóm nhỏ các chuyên gia kỹ thuật có thể hiểu được nguyên lý hoạt động. Hướng đến một hệ thống dựa trên các công nghệ có nguồn mở có thể giúp các ngân hàng liên kết hệ thống IT dễ dàng hơn”. Gillian Tett, Financial Times, 29/10/2015

Những phương thức khác nhau trong việc chuyển đổi hệ thống core banking của các ngân hàng có thể quan sát được như sau: Các ngân hàng quốc doanh và EIB đang trong quá trình thay thế hệ thống core banking, dù chi phí đáng kể và có rủi ro lớn. Ngược lại, các ngân hàng khác đã lựa chọn nâng cấp hệ thống hiện hữu. Dù có nhiều cách thức thực hiện khác nhau, tất cả các ngân hàng đầu đang hướng tới một hệ thống linh hoạt hơn với thiết kế mở giúp liên kết và phát triển dễ dàng hơn. Ở đây chúng tôi đề cập lí do lựa chọn giữa 2 cách thức khác nhau, nhằm cải thiện nền tảng core banking.

Tất cả các ngân hàng trong danh mục theo dõi của chúng tôi đều bắt đầu áp dụng hệ thống core banking vào đầu những năm 2000. VCB, BID và CTG lựa chọn hệ thống từ Silverlake và được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới (WB). EIB cũng được WB tài trợ nhưng ngân hàng này đã lựa chọn Korebanking từ Huyndai IT. Mục đích ban đầu cho việc thiết lập hệ thống core banking tại các ngân hàng quốc doanh là nhằm phục vụ cho việc khai thác và báo cáo số liệu. Các hệ thống tại 4 ngân hàng kể trên đã được sử dụng hơn 10 năm, được xây dựng từ kiến trúc giờ đây đã lỗi thời, trong khi nhu cầu hiện tại cần một hệ thống với kiến trúc mở với khả năng linh hoạt, thành phần hóa (componentization), tham số hóa (parameterization) ở mức cao. Do hệ thống hiện tại thiếu linh hoạt nên cần phải thay thế core banking.

ACB và STB cũng áp dụng core banking từ đầu những năm 2000 và MBB là 2007. Hệ thống của các ngân hàng này ngay từ đầu đã hoạt động trên nền tảng linh hoạt hơn, do đó sẽ dễ dàng để cải tiến những hệ thống này theo xu hướng phát triển IT. Những nhà cung cấp hệ thống này đã thực hiện một vài đợt nâng cấp lớn với sản phẩm của mình; do đó, ACB và MBB cũng đã cập nhật hệ thống lên phiên bản mới hơn. Nền tảng linh hoạt giúp phát triển liên tục, do đó ACB, STB và MBB đã hưởng lợi từ quyết định khéo léo gần một thập kỷ trước về việc đầu tư vào IT và có thể an tâm rằng hệ thống core banking của mình có thể theo kịp xu hướng IT.

Dưới đây là là các nền tảng chính sử dụng phổ biến trong hệ thống core banking tại Việt Nam và đặc điểm của các hệ thống này:

 Silverlake Axis: hệ thống vận hành IBM i-series trên hệ thống máy tính AS400.

 Temenos T24: Unix, Linux và OS400 (OS400 là hệ thống vận hành phát triển bởi IBM cho hệ thống máy tính AS400).

 Finacle từ Infosys: Unix

 Profile từ Fidelity: Unix và Linux

 TCBS-DNA: Microsoft.NET

9

Tính linh hoạt là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá hệ thống core banking, vì các ngân hàng sẽ chỉ thay thế hệ thống core banking mỗi 10-15 năm. Một hệ thống linh hoạt có thể đáp ứng tốt hơn với sự thay đổi liên tục của ngành ngân hàng trong một khoảng thời gian dài. Hệ thống hiện tại của ACB, MBB và STB đều dựa trên nền tảng linh hoạt, do đó, các ngân hàng này chỉ cần nâng cấp mỗi khi có phiên bản mới. Hệ thống hiện tại của VCB, CTG, BID và EIB kém linh hoạt hơn, do đó, việc thay thế toàn diện là cần thiết

Không chỉ khác nhau về phương thức, thời gian để thay đổi hệ thống core banking cũng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác nhau tại từng ngân hàng:

 Đối với các ngân hàng quốc doanh: quá trình thay thế hệ thống core banking thường phức tạp hơn vì các ngân hàng có hệ thống mạng lưới chi nhánh lớn. Các ngân hàng quốc doanh gặp nhiều thách thức hơn khi phải thu thập ý kiến và phản hồi từ nhiều phòng ban khác nhau, chi nhánh và phòng giao dịch, sử dụng các phản hồi này để định hướng chiến lược IT. Ngoài ra, các ngân hàng này cũng tốn nhiều thời gian và chi phí hơn để đào tạo nhân viên làm việc với hệ thống mới. Tuy nhiên, các ngân hàng quốc doanh có thế mạnh tài chính dồi dào, cho phép các ngân hàng này đầu tư nhiều hơn vào IT.

 Đối với các ngân hàng thương mại: thường vận hành một mạng lưới nhỏ hơn với ít nhân viên hơn, giúp các ngân hàng dễ thu thâp ý kiến và phản hồi, và cần ít chi phí và thời gian hơn để đào tạo nhân viên. Tuy nhiên, các NHTM nhìn chung thiếu khả năng tài chính hơn so với các ngân hàng quốc doanh, do đó ngân sách cho IT thường thấp hơn. Ngoài ra, các ngân hàng TMCP nằm trong danh mục theo dõi của chúng tôi đang trong quá trình xử lý nợ xấu và tái cơ cấu, do đó, có thể hiểu được rằng ban lãnh đạo các ngân hàng này có ít thời gian hơn để tập trung cho chiến lược IT.

Các ngân hàng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết lợi ích đi kèm với hệ thống core banking hiện đại. Hai tính năng lớn nhất đi kèm với hệ thống core banking hiện đại là khả năng chuyển đổi các thành phần chức năng chính của các ngân hàng lên dịch vụ đám mây và xử lý số liệu thời gian thực. Tuy nhiên, các ngân hàng tại Việt Nam vẫn chưa tận dụng triệt để hai tính năng này, và chúng tôi sẽ cố gắng giải thích lí do ở phần này.

Bằng cách chuyển các thành phần chức năng lên dịch vụ đám mây, các ngân hàng có thể tiết kiệm chi phí cho hạ tầng phần cứng IT và chi phí bảo trì liên quan. Một trong những điều kiện tiên quyết để dịch vụ đám mây hoạt động tốt là kết nối internet ổn định, đặc biệt là với các quốc gia khác, tuy nhiên khả năng kết nối vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu trong thời gian vừa qua. Với hơn 39 triệu người sử dụng internet (năm 2014) và hệ thống phụ thuộc lớn vào tuyến cáp Asia-America Gateway (AAG) (tuyến cáp ngầm kết nối Đông Nam Á với Mỹ) cùng với nhu cầu internet ngày càng tăng nhanh và phụ thuộc vào một kết nối còn nhiều hạn chế về thiết kế 3 . Do đó, các ngân hàng sẽ không sử dụng tính năng này của hệ thống core banking cho đến khi hạ tầng internet được phát triển hoàn toàn.

Xử lý thời gian thực hoạt động trên nền tảng tương tác và ghi nhận dòng tiền ra vào ngay lập tức sau khi giao dịch phát sinh. Một lượng khách hành lớn cùng với nhiều kênh ngân hàng hiện hữu khác nhau tạo ra lượng giao dịch lớn để ghi nhận liên tục mỗi giây. Xử lý thời gian thực cần nhiều tài nguyên máy tính hơn xử lý theo đợt, do đó, chi phí sẽ cao hơn. Ngược lại, xử lý theo đợt sẽ xử lý một lượng lớn giao dịch cùng một thời điểm và tận dụng hoàn toàn hệ thống thanh toán bù trừ với các ngân hàng khác. Với thực tế rằng các ngân hàng Việt Nam vẫn chưa di chuyển các thành phần chính lên dịch vụ đám mây, vẫn duy trì cơ sở hạ tầng phần cứng IT nội bộ, do dó gặp khó khăn trong việc cung cấp nguồn lực cần thiết để xử lý thời gian thực có thể vận hành tốt. Do đó, các ngân hàng tại Việt Nam đang sử dụng một hệ thống hỗn hợp xử lý thời gian thực và xử lý theo đợt, trong đó xử lý thời gian thực thường được sử dụng cho các giao dịch trực tuyến.

Thử nghiệm đánh giá nền tảng internet banking của các ngân hàng từ quan điểm của khách hàng

Với những tính năng chính của hệ thống core banking được để cập ở trên, rõ ràng các ngân hàng trong danh mục theo dõi của chúng tôi đã lựa chọn hệ thống core banking từ các nhà cung cấp có uy tín, và chỉ dựa trên định hướng của các ngân hàng này để đánh giá sự thành công hay thất bại của hệ thống công nghệ là điều khá khó khăn. Theo trao đổi của chúng tôi với các nhà tư vấn IT cho thấy chuyên môn của nhân lực IT tại những ngân hàng này thường có vai trò quan trọng hơn nhiều so với việc lựa chọn phần cứng và phần mềm. Một phương pháp đánh giá khả năng của nhân lực IT là xem xét hoạt động của hệ thống IT hiện tại của mỗi ngân hàng, và đối với nghiên cứu từ bên ngoài như chúng tôi, một yếu tố để đánh giá là nền tảng internet banking của các ngân hàng này. Các yếu tố kiểm soát được sử dụng trong thử nghiệm và đánh giá của chúng tôi được mô tả bên dưới:

 Yếu tố kiểm soát:

1) Các giao dịch được thực hiện mỗi 30 phút trong cùng khoảng thời gian tại mỗi ngày chúng tôi thực hiện thử nghiệm.

2) Các giao dịch được thực hiện với cùng số tiền bằng VND

3) Cùng một phương pháp chuyển tiền: đến một tài khoản tại ngân hàng khác thông qua internet banking.

4) Thử nghiệm lần 1: chuyển từ tất cả các ngân hàng niêm yết đến 1 ngân hàng quốc doanh.

5) Thử nghiệm lần 2: chuyển từ tất cả các ngân hàng niêm yết đến 1 ngân hàng nhỏ và vừa

 Đánh giá: từng yếu tố sẽ được đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5, với 5 là cao nhất và 1 là thấp nhất

10

Thảo luận về kết quả đánh giá của chúng tôi:

11

3 ngân hàng còn lại xếp cuối cùng trong khảo sát của chúng tôi chủ yếu là do thời gian xử lý giao dịch khá dài. Tuy nhiên, ACB có nhiều điểm tích cực hơn so với STB và EIB

12

Đối với một ngân hàng phục vụ DN vừa và nhỏ/bán lẻ như STB, chúng tôi kỳ vọng một hệ thống giao dịch trực tuyến tốt hơn những gì ngân hàng này đang cung cấp

13

Khảo sát nội bộ nhân viên VCSC về Internet/mobile banking của các ngân hàng cho thấy kết quả tương tự:

14

15

VCB: được yêu thích vì mạng lưới rộng và hệ thống Internet/mobile banking, phù hợp với đánh giá của chúng tôi. CTG: được đánh giá cao nhờ mạng lưới rộng, Internet/mobile banking tốt, phí dịch vụ phải chăng và thời gian xử lý nhanh. Kết quả cho thấy

CTG có kết quả hoạt động nhìn chung tốt, với các mặt phát triển đồng đều. Dịch vụ khách hàng: Các ngân hàng nhỏ và vừa/bán lẻ được đánh giá cao hơn so với các ngân hàng quốc doanh, trừ BID là ngân hàng quốc doanh duy nhất được đánh giá cao BID: Phí dịch vụ phải chăng, phù hợp với đánh giá của chúng tôi.

3

Lãi suất: Tất cả các ngân hàng đều không được người trả lời đánh giá cao về mặt này, đặc biệt là lãi thẻ tín dụng

Dịch vụ khách hàng: VCB và CTG đều bị đánh giá thấp và BID được đánh giá cao hơn. Điều này phù hợp với kết quả khảo sát về điểm tốt của các ngân hàng.

Phí dịch vụ: Các ngân hàng ngoài quốc doanh nhìn chung có phí dịch vụ cao hơn. Trong số các ngân hàng quốc doanh, BID có phí dịch vụ phải chăng nhất, sau đó là CTG và cuối cùng là VCB. Điều này phù hợp với đánh giá thử nghiệmcủa chúng tôi. Sự đa dạng về khuyến mãi và sản phẩm: Việc các ngân hàng quốc doanh bị tụt hậu so với các ngân hàng ngoài quốc doanh về mặt này cho thấy hệ thống của các ngân hàng ngoài quốc doanh linh hoạt hơn và tùy biến tốt hơn trong việc đưa ra các sản phẩm và khuyến mãi trong thời gian ngắn hơn.

Giao diện Internet: Các hệ thống của BID và STB được xem là kém hơn và các đồ thị khác cho thấy kết quả tương tự

ACB: Ba lợi thế chính là mạng lưới rộng khắp, hệ thống dễ sử dụng và dịch vụ khách hàng. STB: Tương tự ACB dù hệ thống Internet của ngân hàng này không được đánh giá cao.

20

21

Tính bảo mật của hệ thống Internet banking được đánh giá “trung bình” tại 5 ngân hàng được phản hồi, nhưng một số ít người trả lời không tin tưởng vào tính bảo mật của hệ thống Internet của VCB và BID

22

BID và STB khác biệt khi có đa số người trả lời chọn chi nhánh và văn phòng giao dịch là kênh giao dịch chính. Điều này có thể cho thấy hệ thống các ngân hàng này chưa hiệu quả trong việc hỗ trợ giao dịch trực tuyến

23

Tổng kết kết quả thăm dò:

Chúng tôi tổng hợp đánh giá thử nghiệm và kết quả khảo sát nhằm đưa ra đánh giá cuối cùng đối với các ngân hàng chúng tôi theo dõi như sau:

24

Các dự án CNTT đang thực hiện

Việc đầu tư vào CNTT không chỉ chú trọng vào hệ thống ngân hàng lõi và hệ thống liên ngân hàng: Với việc Basel 2 dự kiến sẽ được thực hiện từ năm 2016, các ngân hàng phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng CNTT và các giải pháp phần mềm để thực hiện tất cả các mô hình và đánh giá cần thiết. Khoản đầu tư này không chỉ tập trung vào phần mềm và phần cứng mà nhân lực cũng là một yếu tố quan trọng của việc đổi mới CNTT. Một trong các chi phí là phí trả cho tư vấn bên thứ ba để nghiên cứu hệ thống hiện nay và đưa ra đề xuất cải tiến. Một yếu tố quan trọng khác là huấn luyện nhân sự để sử dụng hệ thống mới. Ngoài các dự án chính này, một số ngân hàng đang xem xét nhiều khía cạnh hoạt động khác nhau mà cần phải nâng cấp. Bảng dưới đây liệt kê những dự án CNTT đang được thực hiện tại các ngân hàng đã niêm yết:

25

Từ Hình 27, chúng ta có thể nhận thấy các ngân hàng quốc doanh tích cực hơn trong việc đưa ra kế hoạch CNTT và đứng trên góc nhìn của chuyên viên phân tích, chúng tôi nhận thấy các ngân hàng này có tiềm lực tài chính để thực hiện các dự án này. Tuy nhiên, từ kế hoạch đến thực hiện vẫn còn một khoảng cách. Như chúng tôi trích dẫn tờ Financial Times tại phần đầu báo cáo này, một số ngân hàng giàu tiềm lực nhất thế giới vẫn gặp phải các vấn đề về CNTT và các vấn đề này nhiều khả năng lặp lại và qua đó cho thấy CNTT là một vấn đề không thể không giải quyết nhằm duy trì năng lực cạnh tranh. Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công về CNTT không phải là chi phí lớn mà là ngân hàng đầu tư mà ngân hàng cần xác định rõ tầm nhìn và mục tiêu, bản chất hoạt động của ngân hàng và hệ thống hiện tại để đưa ra các lựa chọn phù hợp nhất.

Áp dụng sự đồng nhất trong mô hình định giá các ngân hàng và cách tính ROE chuẩn hóa

Về mặt chi phí:

26

1

2

Tác động:

1. Chúng tôi chuẩn hóa chi phí vốn đối với tất cả các ngân hàng trong năm 2017 trừ VCB và MBB vì:

a. VCB được chiết khấu 70 điểm cơ bản so với chi phí cấp vốn chuẩn hóa

b. MBB được chiết khấu 20 điểm cơ bản so với chi phí cấp vốn chuẩn hóa

3

4

Về mặt thu nhập:

Theo ông Phạm Thanh Hà, phó tổng giám đốc Vietcombank, các ngân hàng tại Việt Nam cần đa dạng hóa dịch vụ để tăng doanh thu thay vì phụ thuộc vào cho vay như dịch vụ chính, các ngân hàng cần có lợi nhuận từ dịch vụ từ 50%-55% tổng lợi nhuận thay vì 20%-30% như hiện nay… xin lưu ý rằng giảm phụ thuộc vào cho vay là phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. (12/12/2015)

5

Tuy đồng ý với quan điểm của ông Phạm Thanh Hà, Vietcombank, chúng tôi cho rằng tỷ lệ ông Hà đưa ra khó khả thi trong ngắn hạn và các mức chuẩn hóa chúng tôi đưa ra phù hợp với mức độ trong quá khứ hơn.

6

7

8

Giả định chi phí tín dụng:

9

Giả định tăng trưởng tín dụng:​​​​​​​

10

Hệ số beta đồng nhất đối với các loại hình ngân hàng tương tự :

Mô hình định giá của chúng tôi dành cho VCB trước đây bị ảnh hưởng do có hệ số beta cao nhất trong số các mã ngân hàng chúng tôi theo dõi, trong khi điều này không phản ánh rủi ro nội tại của ngân hàng này: Nhằm giải quyết vấn đề này, chúng tôi chuyển sang áp dụng một hệ số beta chuẩn theo beta trung bình của Bloomberg, tùy theo các ngân hàng thuộc nhóm nào:

 Ngân hàng thương mại cổ phần: 0,81

 Ngân hàng thương mại quốc doanh: 1,05

 MBB: trung bình hai mức trên

 Phần bù rủi ro vốn cổ phần chuẩn là 6%

Ước tính của VCSC về ROE chuẩn hóa

11

Môi giới chứng khoán - Phương pháp đầu tư theo chu kì kinh tế

vcsc 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

hotline