Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

BID - Lợi nhuận bị ảnh hưởng bởi gánh nặng dự phòng

Được đăng vào

BID - Lợi nhuận bị ảnh hưởng bởi gánh nặng dự phòng

1

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID) trong 6 tháng 2019 với LNST sau lợi ích CĐTS đạt 3,7 nghìn tỷ đồng (-3,9% YoY), hoàn thành 45% dự báo cả năm 2019 của chúng tôi, ROA và ROE tính từ đầu năm đến hết 6 tháng 2019 đạt lần lượt 0,6% và 13,3%. Tất cả các so sánh cùng kỳ (YoY) bên dưới đều là so sánh giữa 6 tháng 2019 và 6 tháng 2018 trừ khi nêu

Biên lãi ròng (NIM) 6 tháng 2019 giảm 25 điểm cơ bản YoY (+9 điểm cơ bản so với quý trước) đạt 2,68%, ngân hàng duy nhất trong danh mục theo dõi của chúng tôi ghi nhận mức giảm. Mức giảm của NIM đến từ mức tăng 24 điểm cơ bản YoY (+17 điểm cơ bản so với quý trước – QoQ) trong chi phí huy động và đi cùng mức giảm 6 điểm cơ bản (+28 điểm cơ bản QoQ) trong lợi suất tài sản sinh lãi. Chi phí huy động đã tiếp tục gia tăng trong vòng 4 năm qua khi BID tìm kiếm các nguồn vốn huy động có chi phí cao hơn, khi tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) theo quy định đã dao động quanh mốc 88,9%, gần ngưỡng quy định cho phép là 90%. Giấy tờ có giá phục hồi từ mức thấp 1,7 tỷ USD trong năm 2018 lên 2,1 tỷ USD trong 6 tháng 2019. Diễn biến này cùng với mức giảm 301 điểm cơ bản YoY (-27 điểm cơ bản QoQ) còn 15,0% của tỷ lệ CASA dẫn đến chi phí huy động cao hơn trong 6 tháng đầu năm.

Trong khi phí từ ngoại hối ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 68,2% YoY, gánh nặng lỗ từ chứng khoán đầu tư ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi. Dù vậy, tăng trưởng thu nhập từ phí (NFI) thuần chỉ tăng khiêm tốn đạt 14,4% YoY (+24,6% QoQ), phí từ giao dịch ngoại hối tăng mạnh 68,2% YoY (+27,8% QoQ) đạt 32 triệu USD. Trái ngược, BID ghi nhận lỗ từ khoản chứng khoán đầu tư là 11 triệu USD so với khoản lỗ 901.000 USD trong 6 tháng 2018. Tính đến năm 2018, thu nhập khác tiếp tục chiếm phần lớn khoản mục Thu nhập ngoài lãi (NoII) với mức tăng mạnh 48,9% YoY lên 103 triệu USD, đóng góp 47,4% cho NoII. Dù chưa có thêm thông tin chi tiết về khoản mục này được công bố, chúng tôi cho rằng kết quả này chủ yếu được dẫn dắt từ thu hồi nợ đã xử lý. VCB cũng ghi nhận phí từ giao dịch ngoại hối và thu hồi nợ đã xử lý trong 6 tháng 2019.

Một số chỉ số liên quan đến nợ xấu suy yếu ảnh hưởng đến mức giảm NIM đề cập ở trên. Tỷ lệ nợ xấu đạt 1,98%, tăng từ 1,90% vào cuối năm 2018 – mức cao nhất từ quý 3/2017. Tỷ lệ nợ xử lý trên khoản vay gộp tính từ đầu năm trong 6 tháng 2019 nằm trong nhóm cao nhất của các ngân hàng 3,25% và nợ nhóm 2/khoản vay gộp tăng lên 15 điểm cơ bản trong 6 tháng 2019 là 2,48%. Ngoài ra, cùng với lãi dự thu & khoản phải thu trong tổng tài sản tăng nhẹ 9 điểm cơ bản lên 1,67% từ 1,58% trong năm 2018. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tăng lên 72,5% nợ xấu từ mức 65,9% trong năm 2018. Hiện chưa có cơ cấu chi tiết cho số dự trái phiếu VAMC, nhưng chúng tôi ghi nhận mức giảm 9,6% số dư của chứng khoán giữ đến đáo hạn (HTM) mà chúng tôi cho rằng đến từ mức giảm của số dư trái phiếu VAMC đặc biệt.

Hình 1: KQKD 6 tháng 2019 của BID

2

Đọc thêm : Cổ phiếu VCB 

VCSC 

hotline