Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

Ngành Dược Phẩm: Cuộc chơi của các nhà máy EU-GMP

Được đăng vào

Ngành Dược Phẩm: Cuộc chơi của các nhà máy EU-GMP

Tổng quan ngành Dược phẩm. Cuộc chơi của các Doanh nghiệp sở hữu nhà máy chuẩn EU-GMP và PIC/s

Cơ hội

Chúng tôi đánh giá mức P/E 12.5 và P/B 2.5 đã phản ánh hết những khó khăn về mặt chính sách, cạnh tranh với thuốc nhập khẩu, khan hiếm nguồn nguyên liệu và sự đình trệ thoái vốn của Bộ Y tế. TT-10/2016/TT-BYT đã mở rộng danh mục thuốc trúng thầu lên từ 146 lên 640 loại, cũng như áp lực từ các dòng thuốc nhập khẩu giá rẻ đã tạo áp lực lên các doanh nghiệp Dược nội địa đầu ngành chú trọng vào phát triển các dự án nhà máy PIC/s và EU-GMP. Hiện tại, có tổng cộng 10 nhà máy PIC/s và EU-GMP sẽ được đưa vào vận hành thương mại trong giai đoạn 2019f – 2024f. Việc hàng loại nhà máy tiêu chuẩn quốc tế đưa vào vận hành trong 5 năm tới sẽ giúp mở rộng thị phần mảng thuốc ETC nội địa lên 14%, tương ứng với 1.37 tỷ USD. Cộng hưởng với chi tiêu cho Dược phẩm/capita ở mức USD 67.3/capita, chỉ tương đương với 60% chi tiêu trung bình cho Dược phẩm toàn cầu (trừ Mỹ - Hình 5), chúng tôi dự phóng chi tiêu cho Dược phẩm sẽ tiếp tục tăng trưởng hai chữ số, lần lượt đạt USD 67.3/capita (+10% yoy) và USD 71.4/capita (+10.1% yoy) vào năm 2020f và 2021f (Hình 1)

Tổng kết, chúng tôi đánh giá ngành Dược phẩm trong giai đoạn 2019f – 2020f, chỉ có các công ty Dược với hệ thống nhà máy EU-GMP và PIC/s như IMP và PME sẽ tiếp tục đà tăng trưởng. Giai đoạn 2021f – 2023f, chúng tôi dự phóng ngành Dược sẽ chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của 7 công ty đưa vào vận hành các nhà máy tương tự, với dự phóng mức vốn hóa ngành Dược vào năm 2024f tương đương 3.4 tỷ USD (so với 1.8 tỷ USD năm 2019f).

Định giá

Ngành Dược phẩm Việt Nam có mức định giá hiện tại lần lượt tương ứng với P/E và P/B trailing 12.5 và 2.5. Chúng tôi dự phóng mức P/E và P/B 2020f lần lượt là 13.5 và 2.1, thấp so với mức P/E 17.7 và P/B 3.4 trung bình hơn của các nước có ngành Dược đang phát triển khu vực Châu Á. Chúng tôi đánh giá các nguyên nhân chính tạo nên sự suy giảm biên LN lẫn tăng trưởng đến từ việc Trung Quốc siết chặt quy chuẩn môi trường khiến API trở nên khan hiếm, sự thay đổi chính sách đấu thầu thuốc sản xuất phụ thuộc vào các dòng thuốc generics đơn giản đã góp phần hạ mức định giá toàn thị trường Dược.

Luận điểm đầu tư

Dự phóng tốc độ chi tiêu cho Dược phẩm đạt CAGR 8.8% giai đoạn 2018-2028f: Với tháp cơ cấu dân số trẻ (Hình 4), tăng trưởng GDP dự báo ổn định trên 6% đi cùng mức làm phát thấp dưới 4%, chúng tôi tin rằng chi tiêu cho Dược phẩm sẽ tiếp tục phát triển như một xu hướng tất yếu. Trong dự báo giai đoạn 2018-2028f, chúng tôi dự phóng kinh tế ổn định sẽ tiếp tục thúc đẩy chi phí cho Y tế và Dược phẩm, với chi tiêu cho thuốc dự phóng năm 2019f và 2028f lần lượt là USD 67.3/capita (+10% yoy) và USD 143/capita (+7.7% yoy), tương ứng với CAGR 8.8% giai đoạn 2018- 2028f.

Thông tư 02/2017/TT-BYT giúp minh bạch chi tiêu BHYT: với thông tư mới, chúng tôi nhận thấy chi tiêu quỹ BHYT đã minh bạch hơn, giúp nâng cao tỷ lệ chi trả cho Dược phẩm. Đồng thời, chính sách BH toàn dân sẽ tạo thêm động lực cho toàn ngành Y tế lẫn Dược phẩm. Chúng tôi dự phóng tỷ lệ BHYT toàn dân sẽ tăng lên 92% vào năm 2022f, qua đó chi tiêu cho Dược phẩm sẽ tăng tỷ trọng lên 50.1%/tổng chi tiêu Y tế trong bối cảnh các chi phí chữa trị đã được công khai bằng nhau ở tất cả các cơ sở y tế công.

Thông tư 02/2016/TT-BYT hạ chuẩn đấu thầu thuốc chuẩn WHO-GMP: khi luật đấu thầu mới chính thức được thông qua tại Quốc hội vào năm 2020f, các dòng thuốc EU-GMP và PIC/s sẽ tiếp tục được ưu tiên cho nhóm 1 & 2. Qua đó, các doanh nghiệp sở hữu hệ thống WHO-GMP sẽ tiếp tục gặp khó khăn trong đấu thầu, và buộc phải chuyển sang bán hàng ở kênh OTC.

Thông tư 10/2016/TT-BYT danh mục thuốc trúng thầu nhóm 1 & 2 mở rộng lên 640 sản phẩm: Chúng tôi đánh giá với tiêu chuẩn mới, các doanh nghiệp Dược vẫn có cơ hội, đặc biệt TT 10 ưu tiên thêm 5 điểm đấu thầu cho các dòng thuốc nội nhóm 1&2. Chúng tôi tin rằng các doanh nghiệp vốn dựa vào các dòng thuốc generics cũ như MKP, DCL, AGP, DHT etc. sẽ buộc phải thay đổi lên các chuẩn thuốc quốc tế, qua đó tác động tích cực lên toàn bộ ngành Dược nội địa.

Giai đoạn 2019f-2024f, 10 doanh nghiệp Dược nội địa đầu ngành sẽ vận hành thêm ít nhất 10 nhà máy chuẩn EU-GMP và PIC/s: chúng tôi dự phóng đây là con số tối thiểu các nhà máy chuẩn quốc tế được xây dựng, thông qua các thông báo chính thức. Chúng tôi đánh giá việc đưa vào vận hành các nhà máy sẽ giúp nâng cao thị phần ETC nội địa lên 14% vào năm 2022f, và tác động tích cực lên tăng trưởng lẫn mức định giá chung của toàn ngành Dược.

Xu hướng phát triển ngành Dược nội địa giai đoạn 2018 – 2028F

1. Cải cách của chính phủ tiếp tục tạo động lực cho chi tiêu cho Y tế tăng trưởng trên 6%/năm

a. Dự phóng chi tiêu cho Dược phẩm tăng với CAGR 8.86% giai đoạn 2018-2028F nhờ mức chi tiêu dược phẩm còn thấp so với khu vực

Dự phóng tốc độ tăng trưởng chi tiêu cho thuốc duy trì trên 9%/năm nhờ thu nhập tăng trưởng ổn định. Kết thúc năm 2018, chúng tôi ước tính chi tiêu cho Dược phẩm đạt USD 61.2/capita (+10.5% yoy). Chúng tôi đánh giá có năm yếu tố chính kích sự tăng trưởng bền vững của chi tiêu y tế và Dược phẩm, bao gồm: (1). Kinh tế vĩ mô tăng trưởng ổn định trên 6%/năm, (2). Lạm phát duy trì ở mức dưới 4%/năm, (3) Chi tiêu cho Dược phẩm của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với các nước Phamerging, (4) Dự phóng tỷ lệ tham gia BHYT tới năm 2023F đạt 92% (Hình 2), (5) Tự chủ tài chính bệnh viện giúp tăng tính tự do và cạnh tranh cho thuốc ETC.

Dựa trên các tiêu chí đánh giá, chúng tôi đưa ra nhận định TÍCH CỰC cho tăng trưởng chi tiêu Dược phẩm trong giai đoạn 2018 - 2028F, với tốc độ tăng trưởng dự phóng CAGR 8.8%/năm. Chúng tôi dự phóng mức chi tiêu cho Dược phẩm trong năm 2019F và 2020F vẫn duy trì ở mức hai chữ số, lần lượt đạt USD 67.3/capita (+10% yoy) và USD 74.1/capita (+9.7% yoy). Tuy nhiên, từ năm 2021F chúng tôi dự phóng chi tiêu cho Dược phẩm có sự tăng trưởng chậm dần do tỷ lệ BHYT đã phủ trên 88% dân số, và đạt mức USD 143/capital (+7.7% yoy), tương đương với mức chi tiêu cho Dược phẩm toàn cầu, dự phóng đạt USD 146/capita vào năm 2028F

Hình1. Dựphóng chi tiêu cho thuốc trên đầu người Việt Nam qua từngnăm(USD/capita)

3

b. Dự phóng chi tiêu cho Y tế tiếp tục tăng trưởng trên 6%/năm đến từ nhu cầu thị trường và thay đổi phương thức thanh toán bảo hiểm

Thông tư 02/2017/TT-BYT và thông tư liên tịch 37/2017/TTLT-BYT-BTC làm tăng mạnh chi phí BHYT. Nội dung chính của thông tư bao gồm việc thay đổi quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh. Do đó, chúng tôi cho rằng đã có sự tăng giá từ 10%-30% chi phí khám chữa bệnh ở các địa phương, dẫn đến CPI của ngành Y tế và Dược tăng mạnh trong năm 2016 và 2018. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chính sách đấu thầu tập trung đã giúp tiết giảm từ 10% - 20% chi phí đầu thầu, đồng thời tăng tính minh bạch trong việc chi trả chi phí bảo hiểm Y tế (Bảng 1).

4

Dự phóng tỷ trọng Dược phẩm trong chi phí Y tế đạt 50.1% vào năm 2023f. Việc thông tư liên tịch 37 và thông tư 12/2016/BYT về chính sách đấu thầu là hai tác nhân chính thay đổi cơ bản về việc tăng sản lượng tiêu thụ thuốc. Vấn đề đấu thầu thuốc sẽ được đề cập ở phần 2, trang 6. Về thông tư liên tịch 37, chúng tôi đánh giá đã làm thay đổi rõ rệt về cơ cấu chi trả dịch vụ Y tế và Dược phẩm. Với việc niêm yết giá dịch vụ Y tế công, quỹ BHYT được minh bạch hơn, qua đó giúp cân đối nâng tỷ lệ chi trả cho Dược phẩm. Ngoài ra, việc bộ Y tế tiếp tục đẩy mạnh BHXH toàn dân sẽ tiếp tục diễn ra. Do đó, mức bao phủ của BHYT xã hội sẽ đạt 92% vào năm 2023f (vs. 85% trong năm 2018e). Với mức bao phủ lớn của BHXH, đi kèm với mức giá công khai của dịch vụ Y tế công sẽ tạo động lực tăng trưởng cho việc chi trả cho Dược phẩm. Chúng tôi dự phóng vào năm 2023f, tổng chi tiêu Y tế và Dược phẩm đạt 19.6 tỷ USD (+7.15% yoy), trong đó chi tiêu cho Dược phẩm đạt 9.8 tỷ USD (+8.9% yoy), chiếm 50.1% tổng chi tiêu (Hình 2).

Hình2. Dựphóng tổng hợp chi tiêu Y tếbao gồm chi tiêu cho Dược phẩm (Công lập& tư nhân)

5

Cơ cấu chi trả cho Y tế/GDP (6.5% GDP) còn thấp so với thế giới tiếp tục tạo động lực tăng trưởng trong bối cảnh giai đoạn dân số dần già hóa. Theo báo cáo của WHO, mức độ chi trả cho các dịch vụ Y tế của Châu Á (bao gồm Nhật Bản) trong năm 2018 ước tính đạt 6.5%/GDP. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy nếu loại trừ Nhật Bản, quốc gia có tỷ trọng người trên 65 tuổi > 20% tổng dân số, thì tỷ lệ chi trả cho Y tế/GDP chỉ đạt 6%. Với cơ cấu dân số trẻ và nền kinh tế còn đang phát triển, tỷ lệ này sẽ được cải thiện ít nhất 0.8% sau mỗi mười năm. Ở thị trường Việt Nam, cơ cấu dân số trên 65 tuổi ở mức dưới 6%/tổng dân số (Hình 4). Theo số liệu Bộ Y tế, tỷ lệ nhóm người cần chăm sóc y tế thường xuyên (trên 40 tuổi) vào năm 2030f, 2040f và 2050f lần lượt đạt 28.6%, 39% và 48.2% trên tổng dân số. Qua đó, mức chị tiêu cho Dược phẩm/GDP đạt 8% vào năm 2040f để có thể đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Đồng thời, trực tiếp tác động tích cực lên tổng chi tiêu cho Dược phẩm, với mức tăng trưởng vĩnh viễn (perpeptual growth rate, G) toàn ngành chúng tôi dự phóng đạt 2%-2.5%.

6

Dự phóng chi tiêu Dược phẩm đạt USD 88.7/đầu người (tương đương 2/3 mức trung bình toàn cầu) vào năm 2022f. Với tốc độ tăng trưởng CAGR giai đoạn 2018 – 2028f đạt 8.8%, chi tiêu cho Dược phẩm của Việt Nam sẽ đạt USD 88.7/đầu người vào năm 2022f. Theo đó, chi phí cho Dược phẩm của Việt Nam đạt 2/3 mức chi tiêu cho Dược phẩm trung bình toàn cầu trừ Mỹ. Lý do chúng tôi không tính thị trường Mỹ vào mức trung bình của thế giới do đây là thị trường mà các công ty Dược tự do niêm yết giá bán, nhà nước không có sự bảo trợ, do đó chi phí cho Dược phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào các tập đoàn Dược phẩm. Tổng chi phí cho Dược phẩm của Mỹ năm 2019e tương ứng 366 tỷ USD, tương ứng USD 1,092/đầu người, chiếm 31% tổng chi tiêu cho Dược phẩm toàn cầu. Chúng tôi dự phóng ngành Dược phẩm Việt Nam tiếp tục còn nhiều dư địa tăng trưởng, tiếp tục duy trì mức tăng trưởng CAGR 8.8% cho đến năm 2028f sẽ tương ứng với mức chi tiêu USD 143/capita, tương ứng với mức chi tiêu trung bình cho Dược phẩm toàn cầu.

Hình5. Chi tiêu bình quân dược trên đầu người 2022 của các nước có ngành Dược đang phát triển (USD per Capita)

7

Tóm tắt

Tổng kết lại, chúng tôi đánh giá có ba động lực tăng trưởng chính sẽ thúc đẩy tăng trưởng chi tiêu Dược phẩm trong giai đoạn 2018 – 2028f:

1. Thông tư 02/2017/TT-BYT và thông tư liên tịch 37/2017/TTLT-BYT-BTC quy định mức giá chung công khai cho các dịch vụ Y tế.

2. Cơ cấu dân số trẻ (>94% dân số dưới 65 tuổi), tuy nhiên có xu hướng già hóa và đạt tỷ lệ người trên 40 tuổi vào năm 2030f đạt 28.6%.

3. Tỷ lệ bao phủ của BHYT toàn dân tăng nhanh, dự phóng của MAS research đạt 92%/tổng dân số vào năm 2023f

Với các động lực tăng trưởng bền vững trên, chi tiêu cho Dược phẩm của Việt Nam vào năm 2022f đạt USD 88.7/capita (+9.1% yoy), tương đương 2/3 chi tiêu trung bình cho Dược phẩm toàn cầu. Đồng thời, chính sách từ các thông tư 02 và thông tư liên tịch 37 giúp nâng cao tỷ lệ chi trả cho Dược phẩm và ổn định giá cho các dịch vụ Y tế.Chúng tôi dự phóng giai đoạn từ 2018 – 2028f, tăng trưởng chi tiêu Dược phẩm Việt Nam đạt USD 143/capita, tương ứng với CAGR 10 năm 8.8%.

2. Cải cách chính sách động thầu dự trên thông tư 12/2016/TT-BYT làm mất đi lợi thế cạnh tranh của các công ty Dược nội địa

a. Nhóm 1 & 2 ưu tiên các dòng thuốc tiêu chuẩn EU-GMP và PIC/s theo luật đấu thầu TT 12/2016/TT-BYT

Thông tư 15/2019/TT-BYT ưu tiên các dòng thuốc EU-GMP và PIC/s. Chúng tôi đánh giá việc thay đổi chính sách đấu thầu, bắt nguồn từ dự thảo thông tư 02/2016/TT-BYT đã thay đổi cơ bản khả năng đấu thầu của các công ty Dược nội địa. Với chính sách đấu thầu mới, các công ty có nhà máy EU-GMP và PIC/s đã được đưa lên nhóm 1 & 2 với giá đầu thầu cao hơn các nhóm 3,4 và 5 từ 20%-100%. Trong đó, chúng tôi nhận thấy chỉ có ba công ty có khả năng cạnh tranh với các công ty Dược nước ngoài khác, bao gồm Pymepharco (Hose: PME), Imexpharm (Hose: IMP) và Mekophar (Upcom: MKP).

8

Tuy nhiên, thông tư 10/2016/TT-BYT mở ra cơ hội cho các công ty Dược nội địa đủ tiêu chuẩn. Việc thay đổi chính sách đấu thầu đã thực sự gây khó khăn cho ngành Dược nội địa trong giai đoạn 2016 – 2018, thể hiện qua mức tăng trưởng doanh thu và biên lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành đều suy giảm (Hình 10 và Hình 11). Tuy nhiên, việc mở rộng danh mục các thuốc nội địa đủ tiêu chuẩn trúng thầu từ 146 lên 640 loại là tín hiệu rất tích cực. Chúng tôi cho rằng chính sách tuy khắc nghiệt, nhưng sẽ tạo động lực thay đổi lớn thông qua việc bùng nổ đầu tư các nhà máy tiêu chuẩn thế giới (EU-GMP và PIC/s).

9

Dự phóng tỷ trọng thuốc ETC nội địa đạt 14% vào năm 2022f nhờ 7 nhà máy tiêu chuẩn PIC/s hoặc EUGMP đưa vào sản xuất từ các doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2019f – 2022f. Danh sách các doanh nghiệp đã công bố sẽ triển khai bao gồm: 1. Dược Hậu Giang, 2. Mekophar, 3. Dược Bình Định, 4. Dược Hà Tây, 5. Traphaco, 6. Agrimexpharm, 7. Domesco. Trong đó, Dược Hậu Giang, Mekophar và Domesco chọn nhà máy PIC/s, còn các doanh nghiệp còn lại đều xây nhà máy EU-GMP. Trong đó, Sẽ có các doanh nghiệp tiếp tục xin nới FOL nhằm tìm kiếm đối tác chiến lược. Qua đó, chúng tôi dự phóng tỷ trọng thuốc ETC nội địa sẽ có sự tăng trưởng vượt bậc, đạt 14% thị phần vào năm 2022f (thị phần ETC nội địa 2018E 10.5%). Chúng tôi đặc biệt khuyến nghị theo dõi các doanh nghiệp có nhà máy PIC/s và EU-GMP sẽ chạy thương mai trong giai đoạn này, bao gồm Dược Hậu Giang, Pymepharco và Imexpharm.

Bảng 2: Danh sách các nhà máy đủ chuẩn đấu thầu nhóm 1 & 2 tại Việt Nam

10

Định giá ngành Dược Việt Nam so với khu vực

Định giá phù hợp ở mức P/E 12.5 nhưng có mức sinh lợi đứng thứ 2 khu vực

Hiện tại, mức định giá của thị trường Dược phẩm khu vực châu Á của các nước có ngành Dược đang phát triển tương ứng với mức P/E 17.7, EV/EBITDA 13.3 và P/B 3.3. Các công ty ngành Dược phẩm tại Việt Nam hiện có mức định giá với P/E 12.5, EV/EBITDA 13.1 và P/B 2.5. Tuy mức định giá P/E là tương đối thấp so với khu vực, nhưng chúng tôi cho rằng đây là mức định giá chưa thực sự hấp dẫn do khó khăn của ngành. Trong giai đoạn 2019f – 2020f, ngành Dược dự kiến có mức định giá tương ứng P/E 13.5, EV/EBITDA 13.2 và P/B 2.1. Động lực chúng tôi dự phóng định giá toàn ngành có sự tăng trưởng đến từ việc IMP, PME và DHG sẽ đưa vào sản xuất thương mai các dây chuyền PIC/s và EU-GMP. Ngoài ra, trường hợp Dược Bình Định được Bộ Y tế đồng ý mở room FOL cũng sẽ là một yếu tố giúp định giá của thị trường Dược hấp dẫn hơn từ 7-10% mức định giá hiện nay.

11

Mức sinh lợi toàn ngành không phản ánh đầy đủ giá trị thực của ngành do yếu tố thanh khoản kém, dưới 37 tỷ đồng/ngày (1.1% tổng giá trị giao dịch)

Sau khi đánh giá toàn bộ danh mục các cổ phiếu dược phẩm (39 mã), chúng tôi cho rằng mức sinh lợi của thị trường đã sai lệch lớn do yếu tố thanh khoản ở một số cổ phiếu tăng trưởng mạnh như PPP, BCP hay BPM (Hình 8). Tổng giá trị vốn hóa ngành Dược vào khoảng USD 1.82bn (0.95% vốn hóa VN-Index), trong đó thanh khoản trung bình tương ứng VND 37bn (1.1% tổng giá trị giao dịch). Trong đó, Dược Bình Định và Dược Hậu Giang chiếm 55% - 60% thanh khoản của toàn ngành Dược, do đó thanh khoản kém tạo hạn chế lớn cho các nhà đầu tư, một phần tác động lên mức định giá ngành Dược Việt Nam ở mức thấp so với khu vực (P/E 12.5 ngành Dược nội địa vs. P/E 17.7 trung bình các nước có ngành Dược đang phát triển)

Với ít nhất 10 nhà máy tiêu chuẩn quốc tế, dự phóng vốn hóa ngành Dược sẽ đạt mức USD 3.4bn vào năm 2024f

Tuy nhiên, ít nhất 7 nhà máy tiêu chuẩn EU-GMP và PIC/s sẽ được đưa vào vận hành giai đoạn 2021f – 2024f. Qua đó, chúng tôi dự phóng mức tăng trưởng EPS toàn ngành Dược sẽ đạt 10%-12% giai đoạn 2021f – 2024f, đồng thời cải thiện mức định giá trung bình ngành tương ứng với P/E 16.x – 17.x vào năm 2024f. Với các luận điểm về tăng trưởng từ sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm và các nhà máy mới đi vào hoạt động, chúng tôi dự phóng vốn hóa các công ty Dược niêm yết sẽ đạt USD 3.4 tỷ (vs USD 1.8bn 2019e), tương ứng 1.6% vốn hóa toàn VN-Index vào năm 2024f.

12

Luận điểm đầu tư

Giá API tăng mạnh khiến suy ngảm 1% - 4% biên LN toàn ngành giai đoạn 2017 - 2019

Giá API tăng ít nhất 20% đến từ việc khan hiếm nguồn cung từ Trung Quốc: danh mục API thông dụng được sản xuất bởi các công ty niêm yết, chủ yếu ở các nhóm kháng sinh, nội tạng và cơ xương. Việc giá API tăng mạnh trên 10% chủ yếu đến từ chính sách siết chặt môi trường của Trung Quốc. Hiện tại, theo thống kê có trên 1,500 doanh nghiệp liên quan đến Dược – Hóa chất đã phải đóng cửa hoặc tạm ngưng hoạt động, và việc hồi phục lại nguồn cung giai đoạn 2019f – 2020f là khá thấp trong bối cảnh chính phủ Trung Quốc tiếp tục thắt chặt tiêu chuẩn môi trường. Chúng tôi cho rằng nguồn cung API từ nội địa cũng không khả thi trong bối cảnh các công ty Dược nội địa không có khả năng sản xuất API và tá dược với giá và chất lượng tương đương

136

Dự phóng biên LN tiếp tục giảm từ 300 – 700bps trong giai đoạn 2019f – 2020f: biên LNST của toàn bộ các công ty đầu ngành không có sự cải thiện trong 9 quý vừa qua (bắt đầu từ 2Q17). Mức giảm trung bình của biên LNST toàn ngành ở mức 3%, trong đó các công ty có vốn hóa trên VND 1.000bn là 1,6%. Với việc hai năm liên tục giá API tăng mạnh, chúng tôi nhận định trong giai đoạn 2019f – 2020f các công ty Dược niêm yết vẫn chịu áp lực lớn về giá NVL đầu vào và khó có thể hồi phục về mức biên LN giai đoạn 2014 – 2016 trong ngắn hạn. Về dài hạn, giai đoạn 2021f – 2024f, chúng tôi dự phóng không có sự suy giảm biên LNST khi lần lượt các dòng sản phẩm tiêu chuẩn EU-GMP và PIC/s với biên LNST từ 12% - 20% sẽ được đưa vào sản xuất, qua đó cải thiện biên LNST toàn ngành lên mức từ 10% - 13%.

14

KQKD 1H19 suy giảm từ 2% - 4% do cạnh tranh bởi thuốc giá rẻ nhập nhập khẩu

Cạnh tranh mảng OTC quá lớn: trong đó, đối thủ chính đến từ các công ty Dược nội địa mất thị phần mảng đấu thầu ETC, chuyển qua bán phá giá ở kênh OTC và các dòng thuốc giá rẻ nhập khẩu từ Ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh etc. Chúng tôi nhận thấy trừ Dược Hà Tây có doanh thu 1H19 đạt VND904bn (+17.9% yoy), LNST VND49.5bn (+22.8% yoy), có mức tăng trưởng mạnh nhất ngành nhờ tập trung khai thác các thị trường ngách, các công ty Dược khá đều có mức suy giảm doanh thu từ 2% - 4%.

15

Thị phần ngày càng phân mảnh trong bối cảnh doanh thu nội địa toàn ngành có mức tăng trưởng âm 2% - 4%: Chúng tôi đánh giá việc chững lại của tăng trưởng doanh thu đã khiến rất nhiều nhiều công ty Dược nội địa suy giảm thị phần. Đồng thời, sự hiện diện của các công ty Dược chuyên sản xuất các dòng thuốc giá rẻ khiến thị phần ngày càng phân mảnh. Chúng tôi ước tính 31% thị phần Dược phẩm trong thuộc 22 doanh nghiệp, trong đó có 7 doanh nghiệp nội địa niêm yết. Như chúng tôi đã đề cập, chúng tôi dự phóng giá trị thị trường ngành Dược Việt Nam đạt USD 10.8bn (+9% yoy) vào năm 2024f. Với việc thị trường ngành Dược tiếp tục tăng trưởng mạnh, chúng tôi đánh giá các công ty có tiềm năng tăng trưởng doanh thu cao hơn mức tăng trưởng trung bình ngành CAGR 8.8% giai đoạn 2018 – 2028f, bao gồm DHT, IMP, PME, DHG, MKP sẽ là các doanh nghiệp tiềm năng trong giai đoạn 2021f – 2024f. Chúng tôi cho rằng rủi ro từ giai đoạn 2019f – 2024f, các công ty triển khai nhà máy EU-GMP hay PIC/s kết quả kinh doanh có thể tiếp tục đi ngang, do sự thuộc chủ yếu vào kênh OTC trong bối cảnh các doanh nghiệp nêu trên chưa có các dòng thuốc đủ đấu thầu kênh ETC nhóm 1 & 2 (Hình 7).

16

Đọc thêm : Cổ phiếu DHG 

Mira asset 

 

 

hotline