Mobile / Fb / Zalo: 0902 707 193 | 0902 707 193
Mở tài khoản CK
Nghe bài đọc

VPB - Áp lực từ chi phí dự phòng

Được đăng vào

VPB -  Áp lực từ chi phí dự phòng

Đại hội cổ đông thường niên

Các nội dung trọng điểm được thông qua tại đại hội của đông NH TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB VN):

Kế hoạch phát hành ESOP: VPB sẽ phát hành 31 triệu cổ phiếu ESOP, giá phát hành là 10.000VNĐ/CP. Ngân hàng có hai lựa chọn là phát hành thêm hoặc sử dụng cổ phiếu quỹ. CP ESOP sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 3 năm và được giải tỏa theo các mốc: 30% sau 1 năm, 35% sau 2 năm và 35% còn lại sau năm thứ 3 kể từ khi phát hành

Kế hoạch kinh doanh 2019 bao gồm: Tổng tài sản đạt 373,6 nghìn tỷ đồng (+16% YoY), huy động và phát hành giấy tờ có giá đạt 252,4 nghìn tỷ đồng (+15% YoY), tăng trưởng tín dụng đạt 15%, tỷ lệ nợ xấu (NPL) tại ngân hàng mẹ dưới 3%, LNTT hợp nhất trước thuế đạt 9,5 nghìn tỷ đồng (+3% YoY / +14% YoY nếu loại bỏ các lợi nhuận bất thường từ hợp tác bảo hiểm). Mức tăng trưởng này khá hợp lý trong bối cảnh ngân hàng có dự định tất toán trái phiếu VAMC. Hiện tại, số dư trái phiếu đặc biệt VAMC (đã trừ dự phòng) là 1.884 tỷ đồng vào cuối quý 1.

Tăng vốn: do điều kiện thị trường không thuận lợi trong năm 2018, VPB dự định sẽ thực hiện tăng vốn trong năm 2019. Theo kế hoạch, VPB sẽ phát hành thêm tối đa 260 triệu cổ phiếu cũng như tăng tỷ lệ cho phép sở hữu NĐTNN lên 30%.

Nhân sự: bầu bổ sung hai thành viên vào ban kiểm soát bao gồm Bà Kim Ly Huyền và Ông Nguyễn Hồng Cao.

Cổ tức: VPB không dự định chia cổ tức trong năm nay. Lợi nhuận sẽ được giữ lại nhằm nâng cao khả năng tài chính cũng như thúc đẩy hoạt động kinh doanh.

Điểm nhấn 2019

Vào ngày 17/4/2019, VPB được ngân hàng nhà nước (NHNN) công nhận đạt chuẩn Basel II, chính thức áp dụng từ 01/05/2019. Kết thúc quý 1, tỷ lệ an toàn vốn của VPB tính theo chuẩn mới là 11.1%, vượt xa tỷ lệ tối thiểu là 8%. Sự kiện này có thể sẽ ảnh hưởng tốt đến hoạt động của ngân hàng trong năm. Chúng tôi kỳ vọng VPB sẽ được nới chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Mức tăng trưởng của ngân hàng mẹ và FE Credit (FEC) lần lượt 14% và 10%.

Dự thảo thông tư sửa đổi (bổ sung thông tư 43/2016/TT-NHNN) có thể tác động xấu lên tăng trưởng tín dụng cũng như lợi nhuận của FEC. Dự thảo này sẽ đưa ra các quy định chặt chẽ hơn trong hoạt động của các công ty tài chính (CTTC). Tuy nhiên, các quy định như – giới hạn tỷ lệ cho vay tiền mặt tại mức 30% trên tổng cho vay và quy định về loại khách hàng được cấp tín dụng – sẽ được nới lỏng, trong bối cảnh NHNN muốn hạn chế tín dụng đen. Theo định hướng của ban điều hành, FEC đã hạn chế tăng trưởng cho vay tiền mặt, vì vậy, ngân hàng sẽ không bị ảnh hưởng nhiều từ những thay đổi chính sách theo nhận định của chúng tôi.

Định giá. Chúng tôi giảm nhẹ lợi nhuận dự phóng năm 2019 dựa trên: 1) kết quả hoạt động quý 1 không mấy khả quan và 2) dự định xóa nợ VAMC của ban quản trị ngân hàng. Giá mục tiêu mới là 23.600VNĐ/CP.

1

1Q2019 VPB hợp nhất

Tổng tài sản và tài sản sinh lời (IEAs) giảm nhẹ xuống 322 nghìn tỷ đồng (-0.4% YTD) và 302 nghìn tỷ đồng(-0.9% YTD). Tuy nhiên, danh mục cho tín dụng có sự cải thiện đáng kể. Trong quý 1, tiền gửi tại NHNN giảm còn 3,5 nghìn tỷ đồng (-67% YTD) cho vay các tổ chức tín dụng giảm 48% xuống 8,6 nghìn tỷ đồng. Ở chiều ngược lại, cho vay khách hàng tăng 4% YTD, đạt 231 nghìn tỷ đồng. Chúng khoán đầu tư cũng tăng 6% YTD lên 55 nghìn tỷ đồng. Cán cân VAMC tại cuối quý là 1,9 nghìn tỷ đồng, giảm 21% so với số liệu đầu năm, đúng như định hướng của ngân hàng là tất toán nợ xấu tại VAMC. Chỉ số NPL hợp nhất chỉ tăng 0,1 điểm % so với 2018, không cao như quý 1 các năm trước.

Hết quý 1, tổng nợ giảm hơn 2,6 nghìn tỷ đồng xuống còn 286 nghìn tỷ đồng. Trong đó, giảm mạnh nhất là tiền gửi và vay từ các tổ chức tín dụng khác với 27% YTD, huy động khách hàng tăng 10% YTD. Tuy tiền gửi từ khách hàng là một trong những nguồn huy động vốn giá rẻ, tuy nhiên tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm mạnh, CASA đến hết quý 1 là 9,7% (CASA 2018 là 13,7%), như vậy chi phí lãi vay có thể tăng nếu chỉ số này không được cải thiện.

Chỉ số NIM của VPB tăng nhẹ trong quý 1 lên 8,9% ( tăng 30 điểm cơ sở - bps), nhờ tái cấu trúc danh mục IEAs. Tuy nhiên, chỉ số NIM hiện tại vẫn thấp hơn NIM của quý 1/2018 (9,6%). Như đã cập nhật ở phần trên, VPB dự định tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành thêm, nhưng điều kiện thị trường không thuận lợi nên VPB dự định huy động từ việc phát hành trái phiếu quốc tế. Trong cơ cấu nợ vay chịu lãi (IBLs), thì phát hành trái phiếu và giấy tờ có giá thường là nguồn vốn chịu lãi cao nhất. Chúng tôi dự báo 2019 NIM hợp nhất sẽ duy trì ở mức 8.9% trong năm 2019 dựa trên giả định rằng nguồn vốn mới sẽ được phân bổ vào các khoản cho vay có tỷ đồng suất sinh lời cao.

Thu nhập từ hoạt động cho vay vẫn giữ được động lực tăng trưởng, nhưng lợi nhuận ròng gặp áp lực mạnh từ chi phí dự phòng cũng như không có sự hỗ trợ từ các nguồn thu nhập bất thường. Thu nhập lãi thuần (NII) đạt 6.785 tỷ đồng (+16.8% YoY), thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 745 tỷ đồng (+45.3% YoY). Thu nhập thuần từ dịch vụ tăng mạnh một phần nhờ vào biên lợi nhuận được cải thiện, tỉ lệ chi phí trên thu nhập giảm xuống 34% (giảm 7% so với 1Q2018). Mặc dù thu nhập từ các nguồn chính được cải thiện, lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 1.783 tỷ đồng, giảm 31.9% so với năm trước và hoàn thành 19% kế hoạch năm. Các nhân tố chính làm lợi nhuận giảm so với cùng kỳ năm trước bao gồm: 1/ chi phí hoạt động: 2.975 tỷ đồng tăng 25,9%; 2/ chi phí dự phòng: 3.204 tỷ đồng tăng 20,8%; 3/ lợi nhuận từ các hoạt động khác giảm 67,2% do không còn các nguồn thu nhập bất thường.

Các chỉ số hiệu quả hoạt động có phần giảm nhẹ trong quý đầu năm, tuy nhiên vẫn tương đương với mức trung bình các ngân hàng trong danh sách theo dõi của chúng tôi. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) tăng lên 37,4% (quý 1/2018 là 31%). Ngoài ra, tăng trưởng âm của lợi nhuận thuần làm giảm ROA và ROE của ngân hàng, lần lượt đạt 2,2% và 19,7%, ROA và ROE 2018 là 2,4% và 22,8%.

Ngân hàng mẹ và FE Credit

Các số liệu về FEC được chúng tôi ước lượng dựa trên các báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo riêng lẻ.

Tổng tài sản ngân hàng mẹ giảm 1,6% YTD, cho vay khách hàng sau điều chỉnh (bao gồm khoản nợ mua lại của FEC) đạt 177 nghìn tỷ đồng (+4,8% YTD). Chất lượng dư nợ cho vay giảm nhẹ hơn các quý đầu năm khác một phần nhờ vào cho vay tăng trưởng tốt, tỷ lệ nợ xấu đến hết quý 1 duy trì dưới 3%. Nhờ vào cơ cấu lại danh mục tín dụng (tập trung vào đầu tư trái phiếu và cho vay), NIM của mẹ ngân hàng mẹ được cải thiện lên 4,7% (+20 bps so với NIM 2018).

Tăng trưởng tín dụng của FEC có phần chậm hơn ngân mẹ với mức tăng 2,6% đến hết quý 1, cho thấy hoạt động của ngân hàng mẹ vẫn tốt hơn trong các quý gần đây. Tỷ lệ nợ xấu của FEC duy trì ở mức 6%. Khả năng sinh lời từ danh mục cho vay của FEC có phần yếu đi trong quý 1. Lãi suất trung bình của danh mục cho vay đạt 35,6% (-40bps YTD) do tín dụng tăng trưởng nhanh trong quý 4 2018. NIM của FEC giảm 20bps trong quý 1, cho thấy NIM hợp nhất cải thiện được là nhờ ngân hàng mẹ.

NII của cả ngân hàng mẹ và công ty tài chính vẫn giữ được mức tăng trưởng trên 10%. NII của ngân hàng mẹ và FEC lần lượt đạt 2.921 tỷ đồng và 3.864 tỷ đồng, tăng 18% và 16% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, như trình bày ở phần trước, lợi nhuận của cả hai đều giảm do ngân hàng mẹ không còn được hỗ trợ từ thu nhập bất thường trong khi chi phí dự phòng của FEC tăng cao.

Đánh giá chung

Theo đánh giá của chúng tôi, dự thảo thông tư sửa đổi sẽ không tác động quá mạnh đến hoạt động cũng như tiềm năng tăng trưởng của FEC. Như đã đề cập ở phần trước, FEC sẽ tập trung khai thác nguồn khách hàng hiện tại thay vì thu hút thêm khách hàng mới như các kỳ trước (dư nợ cho vay khách hàng mới giảm 1,1% trong quý 1). Trong thời gian tới, FEC sẽ tập trung phát triển mảng thẻ tín dụng; dư nợ thẻ tín dụng của FEC đạt 4,3 nghìn tỷ đồng (+17% YTD) – mức tăng trưởng cao nhất so với các cấu phần khác trong danh mục. FEC kỳ vọng mảng thẻ tín dụng sẽ đạt mốc tăng trưởng kép 67% cho giai đoạn 5 năm từ 2018 – 2023. Như vậy, FEC sẽ không gặp quá nhiều trở ngại cho sự tăng trưởng khi NHNN hạn chế cho vay tiền mặt.

Tăng trưởng tín dụng của FEC trong quý 1 (+2,6% YTD) có phần chậm hơn cùng kỳ năm 2018 (+4,1% YTD) theo chúng tôi một phần đến từ hạn mức tín dụng cho phép của FEC là khá thấp với 10%. Trong kỳ, FEC đã bán một khoản nợ cho ngân hàng mẹ, nếu loại trừ khoản này thì tín dụng của FEC đã tăng 6,1% trong quý 1, hơn một nửa hạn mức tăng trưởng cho phép. Như vậy FEC sẽ khó có thể phát huy hết tiềm năng nếu NHNN không nới hạn mức tăng trưởng.

Dựa trên định hướng mới của VPB, chúng tôi cho rằng chất lượng tài sản của ngân hàng sẽ dần được cải thiện. Tuy nhiên, ngân hàng dự định tất toán cán cân VAMC trong năm nay, vì vậy chi phí dự phòng có khả năng cao bất thường. Ngoài ra, thu nhập từ nợ xấu đã xử lý có thể giảm so với năm 2018.

Chúng tôi đưa ra một số điều chỉnh dựa trên những thay đổi gần đây như sau:

Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ tăng 37% YoY do được hỗ trợ từ các yếu tố như số lượng thẻ phát hàng và mức chi tiêu/thẻ tăng trưởng tốt. Tổng số thẻ đang hoạt động của cả hệ thống (bao gồm thẻ có và thẻ nợ) đạt 430.000 thẻ, tăng xấp xỉ 15% trong 3 tháng đầu năm. Ngoài ra, tỉ lệ chi phí trên thu nhập cũng đang được cải thiện.

Thu nhập từ nợ xấu đã xử lý chỉ đạt 225 tỷ đồng, giảm 22,3% so với cùng kỳ và thấp hơn so với kỳ vọng. Chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo thu nhập từ nguồn này xuống 2.700 tỷ đồng. Qua đó, điều chỉnh giảm thu nhập thuần từ các hoạt động khác xuống 4.106 tỷ đồng (giảm 1.500 tỷ đồng so với dự báo ban đầu), do chúng tôi hơi quá lạc quan về sự tăng trưởng bền vững của khoản thu nhập này.

Chúng tôi điều chỉnh tăng chi phí dự phòng do ngân hàng dự định tất toán sớm trái phiếu VAMC. NPL sẽ tăng nhẹ do một phần nợ xấu đã bán cho VAMC sẽ được chuyển lại vào nợ xấu nội bảng.

Chúng tôi điều chỉnh giảm lợi nhuận trước thuế xuống còn 9.076 tỷ đồng, giảm 1,3% YoY và thấp hơn so với kế hoạch kinh doanh năm.

Bảng 1: Bảng tóm tắt kết quả hoạt động quý 1 2019

2

3

4

Đọc thêm : Cổ phiếu PVT 

mira asset 

hotline